Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn
Truyện người hàng xóm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:57' 19-04-2024
Dung lượng: 636.1 KB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:57' 19-04-2024
Dung lượng: 636.1 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Tên sách: Truyện người hàng xóm
Tác giả: Nam Cao
Nhà xuất bản: Văn học
Năm xuất bản: 2002
Đánh máy và tạo ebook: hiepsiga
Tạo bìa: inno14
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Mẹ con thằng Hiền tới tỉnh vào lúc tang tảng sáng. Chân trời trăng trắng sau những mái ngói
cũ nhấp nhô. Đường vắng và câm. Nhà hàng phố còn đóng cửa, trơ trẽn như những người ngủ
ngoài hè đến tận sáng ngày. Cái hào nhoáng của các cửa hàng đã bị những cánh cửa lùa che kín.
Vẻ hoạt động chìm trong giấc ngủ... Một bà lão bán bánh mỳ tây đi sớm quá, buông ra một
tiếng rao lẻ loi và khàn khàn như một tiếng nói mê. Mấy cái xe không ghếch ở bờ đường, trước
cửa một căn nhà con con, có ánh đèn. Bốn năm người phu xe xúm xít quanh cái chõng hàng của
một bà già bịt khăn vuông, đang dỡ một cái chõ xôi bốc khói. Bấy giờ là tháng chín. Buổi sáng
hơi lành lạnh. Hiền đang ngủ gục trên vai mẹ, bỗng nghe tiếng “phịch... phịch... phành” và giật
mình mở mắt ra. Đó là tiếng bật bông trong cái căn nhà có ánh đèn và một góc dùng làm hàng
nước kia. Nhưng Hiền chưa nghe thấy thứ tiếng ấy bao giờ. Nó không hiểu từ đâu. Nó ngơ ngác
nhìn quanh, và để ý đến những bóng đèn điện mòng mọng đỏ. Chúng giống hệt như những con
mắt đã thức đêm nhiều quá, thành mỏi mệt. Chúng gà gà. Rồi đột nhiên, chúng nhắm lại đều
một lượt. Hiền càng ngơ ngác đẫy...
Mẹ Hiền đưa con đến một cái xóm nhỏ có cái tên xinh xinh: xóm Bài Thơ. Cái tên gọi đánh
lừa. Bởi vì xóm Bài Thơ ở ngang hông một cái ngõ ngang bẩn thỉu như một cái vũng phân,
nhưng lại thụt lùi mãi vào trong như một vết sâu ăn loen vào khoảng giữa hai dãy nhà, mỗi dãy
quay mặt ra một phố to. Vết loen cũng không sâu: bởi vì sau năm, sáu nhà đầu dãy nông nông,
những cái nhà ở hai dãy nói trên áp lưng liền lại với nhau: xóm Bài Thơ không còn chỗ hở để có
thể ăn sâu vào nữa. Cả xóm độ mươi hai nhà vừa ngói, vừa lá thuộc cả về một chủ. Cái nhà của
người chủ quay lưng ra ngõ ngang. Nó chiếm hết cả cái đầu ngoài xóm, chỉ còn để trừ một lối
vào. Nguyên cái nền của nó cũng đã cao đến lưng chừng những cái nhà kia. Nhà kiên cố, nghênh
ngang và bệ vệ. Những cánh cửa con bao giờ cũng đóng, nó có vẻ ngồi phệ bụng, lim dim ngủ
trên cái bệ cao của nó, đợi những mái nhà lau nhau ở dưới làm mà nuôi. Mà đúng như vậy thật.
Chủ nhân vô nghề nghiệp. Ông nghiện nặng. Giá ông phải nằm đường nằm chợ tất đã bị người
ta liệt vào hạng người du đãng. Có thể bị đưa ra tòa và kết án. Nhưng bố mẹ ông đã để lại cho
ông nhà và đất. Vậy thì ông là nghiệp chủ. Ông có thể ăn và hút rất lương thiện bằng tiền cho
thuê đất, cho thuê nhà... Những cái nhà cho thuê thấp lè tè. Dãy nhà gạch ở ngay chỗ cổng vào.
Nó chạy dài từ đầu ngoài đến đầu trong. Tất cả độ mươi gian rất giống nhau. Trước cửa là
khoảng đất rộng bỏ không. Chẳng có một cây gì. Trước kia, đây là một xưởng cưa. Đây đó, còn
những đống mạt cưa làm thành mùn. Còn thì là những đám cỏ mới lên, những đống rác mới,
những đám rêu. Vài chú lợn chân ngắn ngủn lê cái bụng phệ qua những vũng nước ngầu ngầu
đến rê mõm trên những đống bã cua bốc mùi hăng. Mấy anh gà trống lộc ngộc đi ngất nghểu
cạnh những chị gà mái bầu bĩnh, hiền lành và những chú ngỗng, chú ngan bước lạch bà lạch
bạch. Hai bên còn lại của khu đất được khép kín bằng những bức tường hậu của những nhà liền
bên. Lần vữa trát ngoài không quét vôi, đã mốc đen. Ở chỗ loe hình thước thợ, là một cái
chuồng tiêu rất sơ sài: mái lợp gồi, vách, cửa bằng phên nứa lẫn với những mảng sắt tây, két gỉ
lấy ở những thùng dầu bẹp. Hai căn nhà lá ở gần kề ngay đấy.
Mẹ Hiền đến xóm Bài Thơ để tìm một người cô họ làm nghề bán thuốc sài. Bà cô đã có hồi
nuôi cháu ba năm. Lần này, cháu có ý đến nhờ cô cái chỗ ăn chỗ ở ít lâu, rồi sẽ liệu cách buôn
bán sinh nhai. Nhưng người cô đã đi biệt tích rồi. Một năm khó làm ăn, trẻ con nhà nghèo biết
phận, không còn dám cam sài. Chẳng còn ai buồn hỏi đến thuốc của bà. Thuốc của bà mốc cả
lên. Luôn ba tháng, bà không có tiền để trả tiền nhà. Người ta bắt cái giường, cái chõng của bà
rồi đuổi bà đi. Từ bấy giờ, chẳng còn ai gặp bà ở đâu. Có người bảo: bà về kiếm ăn ở mấy chợ
nhà quê. Có người thì lại bảo: bà ra mãi miệt Hồng – gay, Cẩm – phả bởi cái món thuốc sâu
quảng của bà hay lắm... Hầu hết, những người ngày xưa ở xóm này cũng đã đi chỗ khác rồi. Còn
sót lại có vợ chồng ông Ngã và vợ chồng ông Hai Mợn. Các bà ấy còn nhớ mặt mẹ Hiền. Họ kể
cho thị nghe biết sự thể bà lang. Rồi họ khuyên thị nên thuê một căn nhà lá mà ở tạm, rồi ngày
một ngày hai sẽ đào công bới việc mà làm ăn. Tiền nhà chẳng mấy. Mỗi tháng có năm hào. Chủ
nhà lại cho mượn cái giường. Tội nghiệp! Đó chính là cái giường bắt của bà lang. Một vế mọt
quá gần gãy hẳn làm đôi. Người ta táp bằng một đoạn tre. Trông thảm hại lắm rồi. Nhưng sự ấy
không hề gì, còn mượn được, đã là tốt phúc.
Dọn đến ở căn nhà lá, mẹ con Hiền đã làm khó chịu một người. Ấy là một thằng câm. Hắn vào
trạc ngoại ba mươi. Người dong dỏng và khô. Hai vai xuôi hẳn xuống để tăng bề cao cho cái cổ
dựng lên thẳng như một khúc thân cau. Bởi thế mà trông người hắn đưỡn. Cái mặt lúc nào cũng
nhăn nhăn. Hai mắt đăm chiêu. Tóc vuốt ngược lên và quấn thành một búi tó con con ở giữa
đỉnh đầu. Cái trán do thế được nhô tất cả ra. Hắn có một vẻ gì ngây ngô mà dữ tợn. Hiền sợ lắm.
Nhất là điệu bộ của hắn hay cuống quýt, vặn vọ, hậm hực thế nào. Người ta tưởng như hắn bực
tức vì không nói được.
Không ai biết tông tích hắn ra sao. Chỉ biết rằng hắn có thể làm rất nhiều nghề. Một buổi
sớm, người ta thấy hắn đến quét vôi lại cái nhà của ông Ấm chủ nhân xóm Bài Thơ. Cũng chẳng
hiểu ông Ấm rước được hắn ở đâu về. Bởi vì hắn không biết nói, mà ông Ấm thì không thích
nói. Chưa mấy người giáp mặt ông. Những người thuê nhà có điều gì cần nói với ông, cứ việc
nói với người đầy tớ của ông, một lão chột lực lưỡng, cục mịch, xấu xí, vai và lưng u lên, cổ to
và đen ghê như cổ trâu, chân đi bình bịch, cổ tay to và vuông, những ngón tay nổi cục, mặt nấc
lên thành nhiều cái bướu nho nhỏ, cái mắt chột lúc nào cũng giương ra, cái con ngươi trắng
đục ra, còn mắt kia thì luôn luôn nhấp nháy đều một nhịp với một bên mép cứ xếch lên phía
mang tai từng cái rất nhanh; có người bảo đấy là bệnh rút gân, và cũng là do bệnh ấy, mỗi lần
muốn nói gì lão cứ lắp một hồi dài cái tiếng đầu câu rồi mới tiếp được cả câu, mà khi nói mồm
và mắt lão xệch xạc đi một cách vừa buồn vừa cười, sợ lắm. Có lẽ vì thế mà lão ít nói chăng?
Hay lão bị lây cái bệnh ít lời của chủ? Người trong xóm vẫn gọi vụng thầy, tớ lão là hai thằng
câm: thằng câm chuột bò với thằng câm nháy trời. Không ngờ lại thêm một thằng câm tịt để
phân biệt với hai thằng câm kia, còn có khi nói được. Mới đầu họ tưởng thằng câm tịt làm nghề
quét vôi tường. Nhưng khi mấy bức tường quét cả rồi, họ lại thấy hắn đến gắn lại mấy cái ống
máng. Sự ấy cũng thường thôi. Một người có thể biết hai nghề, nhất là khi hai nghề ấy cũng
chẳng lấy gì làm khó lắm.
Vậy thì trừ cái nghề quét vôi tường, Câm còn có thể làm thợ thiếc. Người nọ bắt chước người
kia, họ lục lọi trong nhà xem còn cái thùng, cái hộp, cái đèn nào rò thì đem nhờ hàn chữa. Ấy
thế là hắn làm quen với họ, và từ đấy, cứ độ dăm bảy ngày hay mười ngày, họ lại thấy hắn đến
đấy, ý chừng để xem có ai thuê làm gì chăng. Thỉnh thoảng lại có đêm hắn đến ngủ nhờ ở ngoài
hiên, ngay trước cửa nhà ông Ngã hay nhà ông Hai Mợn. Không ai nỡ đuổi, bởi hắn là một
người tàn tật. Vả hắn không làm phiền ai: hắn nằm chỗ nào sáng dạy quét sạch như lau, hắn
còn quét giùm cả những chỗ hắn không nằm đến; người ta yêu cái nết hắn, và thường khi hắn
đến lại cho mượn manh chiếu nằm; nhưng lần nào hắn cũng lắc đầu, xua tay từ chối. Ít lâu sau,
chỗ hiên nhà ông Hai Mợn thành cái nhà của hắn. Hắn sách đồ đạc đến xếp nhờ vào một xó, và
chẳng có đêm nào không về đấy ngủ. Hắn thành người của xóm. Ở lâu với hắn, người ta mới
biết hắn rất nhiều nghề tạp nham. Thật là một người khéo tay. Một hôm thấy đôi giầy tây cũ
của ông Hai Mợn để trong gầm giường, bởi sụt dây nên há mõm ra, hắn cầm lấy xem, phủ bụi
đi, rồi lục hòm đồ lấy ra một cái kim và một đoạn dây gai ngồi khâu lại cho ông. Một hôm khác,
hắn chữa một cái ô cho cô Viên, con gái riêng của bà Hai. Lâu lâu, động cái gì hỏng là người ta
nhờ đến hắn: từ cái khóa hóc, cái đèn hỏng máy, cái ấm sứt vòi, cái phạng vỡ, cái guốc điếu
không kêu đến đôi dép đứt quai, cái rá sụt cạp, cái thùng dầu bẹp... Hình như chẳng có cái gì
hắn không làm được. Mà đối với người trong xóm, hắn lấy tiền công rất ít, hoặc không lấy tiền.
Hồi đầu năm, một người thuê nhà dọn đi. Không có người thay. Một căn nhà lá bỏ không mấy
tháng luôn. Người ta cho thằng câm ở nhờ...
Lúc bà Hai đưa mẹ con Hiền vào thì Câm đang dùng những mảnh sắt vụn làm những cái còi
để bán cho trẻ con chơi. Hắn dừng tay nhìn mẹ Hiền, cái mắt ngây ngấy lộ vẻ ngạc nhiên. Bà
Hai chỉ vào mẹ Hiền rồi chỉ xuống cái nền nhà, rồi lại chỉ vào cái hòm đồ của hắn rồi chỉ ra
ngoài. Hắn hiểu. Hắn xụ mặt ra, hắn nhìn xuống những cái kéo búa, kìm cùng những mảnh sắt
tây bừa bộn trên mặt đất, mắt lừ lừ, do dự. Bà Hai khẽ đập đập mấy cái vào vai hắn như người
ta vỗ về một con ngựa dữ trước khi cưỡi thử, rồi sà sà bàn tay trên những đồ của hắn mấy cái,
rồi chỉ vào cái hòm, rồi chỉ ra chỗ hiên nhà bà. Ấy thế là hắn ngẩng phắt mặt lên. Mặt hắn co
rúm lại. Đôi mắt long sòng sọc. Cái mồm hắn run run, để thoát ra những tiếng cổ họng giống
như chó tru. Đồng thời hai tay hắn khua rối rít cả lên. Rồi đột nhiên hắn chạy vụt ra ngoài. Một
thoáng sau, hắn lại vào. Hắn thu xếp đồ đạc rất vội vàng. Rồi hắn bê cái hòm bằng cả hai tay,
chạy huỳnh huỵch ra khỏi nhà y như người tức giận. Mẹ Hiền nhìn theo hắn một chút rồi khẽ
hỏi bà Hai.
- Ông ấy tức hay sao thế?
Bà Hai cười bằng cái thứ tiếng cười nằng nặc mỡ:
- Không! Tính nó như vậy đấy. Hơi một tí thì múa may chân tay. Người không biết thì tưởng
nó sắp đánh chết người ta. Vậy mà hiền đáo để. Hiền mà tử tế. Ở đây lâu rồi chị biết.
Bà nói đúng. Câm quả nhiên hiền thật. Hiền và tử tế... Chỉ mấy hôm sau, Hiền đã phải ở nhà
một mình. Mẹ Hiền đã nói với bà Ngã để bà ấy cho đi theo đi bán hàng dăm ba bữa cho quen.
Quen rồi thì sẽ làm như bà ấy: ngày thì nồi cháo, chõ xôi, ngày thì nồi bún thang, ngày thì mẻ
ốc nhồi luộc, ngày thì nồi chè củ... Chỉ có thế trong bao nhiêu năm nay mà bà ấy cũng tịu nhịn
nuôi con được mãi. Những như ông ấy thì chết đói. Ông Ngã làm thợ mộc. Cơm đã ăn của chủ
rồi. Lương cũng được tháng dăm đồng. Nhưng chẳng tháng nào còn lại cả. Có khi lại còn nặn
thêm của bà ấy nữa. Chỉ vì ông hay rượu, hay đánh bạc. Rượu chiều nào cũng phải uống. Sẻn
cho chết cũng phải vài ba cút với vài xu đỗ lạc. Những khi vay được tiền thì chẳng có chừng
nào. Ông vào hàng thịt chó, vào hiệu phở, vào hàng bán cháo lòng, uống hàng nửa chai với một
chai. Say ngọng cả mồm. Đi đường thì lảo đảo, chân nam đá chân xiêu. Mà lúc ấy trời bé lắm.
Chỉ có ông ta nhất; chỉ có ông tài giỏi nhất, chỉ có ông nhiều tiền nhất. Tiền!... ơ hờ hờ... tiền,
ông coi ra điều gì! Vỏ hến! Có biết không? Ông có dích! Đứa nào xin cho bớt... Cố nhiên là có
đứa xin. Chúng nịnh ông, những thằng thợ cùng làm với ông một phố. Ông dắt chúng nó ăn
canh bún, ăn đỗ lạc, ăn mía, ăn bánh rán. Chúng vừa ăn vừa phỉnh ông rộng rãi. Rồi chúng rủ
ông đánh chắn. Đánh chắn! Ờ! Thú lắm... Chính ông đang muốn đánh. Không đánh để tiền làm
gì chứ!... Ông đánh ngay, đánh thật to, cho mà biết tay... Ấy thế là sáng hôm sau, có đồng nào tét
cả. Ông lại cặm cụi cho đến khi nào chủ lại cho vay tiền nữa. Và chiều chiều, bà ấy lại phải bỏ
tiền túi ra mua cho ông mấy cút rượu, mấy xu đỗ lạc để ông ấy uống tạm cho đỡ thèm. Hôm
nào ông ấy uống xong, lăn ra ngủ còn khá phúc. Lắm hôm ông ấy cứ lè nhè đòi uống nữa hay
đòi tiền đi đánh bạc, rồi không được thì đâm khùng đánh con, đánh vợ. Vợ con khổ lắm. Bởi thế
mà bà ấy quắt queo suốt đời... Bà Ngã đã than thở cái tình cảnh của bà với mẹ Hiền. Rồi bà đã
bảo mẹ Hiền.
- Tôi thế còn chả chết, huống hồ là chị. Chị thì bất quá chỉ một con, một mẹ. Con đã chạy đi
chơi được, không còn quấn rứt. Ăn là mấy? Lo gì chết đói? Nếu chết đói thì tôi đã chết?...
- Bà cứ nói thế chứ bà còn biết buôn biết bán, nhà cháu thì chết cái lại vụng về.
- Rồi nó quen đi chứ! Một vài phiên lại không thạo quá. Chị cứ đi với tôi ít lâu cho thuộc
đường thuộc lối...
Mẹ Hiền theo bà Ngã đi suốt cả ngày. Hiền ở nhà có một mình. Thấy Hiền có vẻ buồn, Câm
vẫn chạy sang. Hắn xoa đầu, xoa tai thằng bé. Hắn cho nó cái kẹo hay miếng bánh, có khi một
vài trinh. Rồi khi hắn phải đi làm hay ra phố, hắn ra hiệu cho nó chạy đi chơi với lũ trẻ con
trong xóm.
Chúng khá đông. Suốt ngày chúng ở ngoài với lũ gà, vịt, ngỗng, ngan. Cả bọn có thằng Đạc
trông buồn cười nhất. Nó đầu to, đít bé như một con nòng nọc cóc. Bụng ỏng. Tóc lơ phơ có
mấy cái đỏ chòe chòe. Hai chân khẳng khiu có vẻ không mang nổi đầu và bụng. Nó lách nhách
khóc suốt ngày. Nước mắt, nước mũi pha với đất cát nguệch ngoạc đầy mặt và bôi hai ống tay
áo dầy lên. Bàn tay phải nó, hết gãi đầu gãi cổ lại dụi đôi mắt ong õng nước và nhoèn những cục
dử đùn ra vàng như mủ đặc. Thật là thằng bé để cho ruồi bâu, kiến đỗ. Không ai dám bảo nó là
con bà Hai Mợn. Bà Hai thật béo tốt nở nang. Cái xuân đã tàn rồi, mà đôi má bà vẫn đỏ, đôi mắt
bà vẫn sắc. Cô con gái lớn của bà cũng thế. Cô Viên mới độ hai mươi tuổi. Người phốp pháp da
thịt phây phây. Cô diện sang nhất xóm, mà chẳng làm gì. Ngày nào cô cũng đi chơi. Trước khi đi
đánh phấn, tô môi, vẽ lông mày, vuốt nước hoa thơm lựng. Người trong xóm ai trông thấy cũng
lườm cũng nguýt. Nhất là các bà xấu xí. Người ta bảo cô Viên là con riêng của bà Hai Mợn.
Trước khi lấy ông Hai, bà đã lấy ba, bốn đời chồng. Người đầu tiên là một ông tham. Cô Viên,
nghe đâu là con của ông ta. Nhưng chẳng biết bà phải cái lỗi gì, nên ông tham đuổi cả mẹ con
đi. (Lúc lấy nhau cũng không cưới, không cheo gì thì phải). Sau đời chồng ấy, bà lấy tây, lấy
khách. Thôi thì đủ hạng. Sang cũng có mà hèn cũng có. Nhưng bà chẳng ở được với ai lâu.
Người ta không chán bà thì bà cũng chán người ta. Tận đến lúc kém xuân và đã quá lứa rồi,
chẳng còn mấy người say, bà mới chịu phép lấy ông Hai Mợn vậy. Nếu chỉ xét cái sắc đẹp
không, thì thật là tiên lấy cú. Ông Hai Mợn trông chán lắm. Người cọc lại, cái mặt ngắn ngủn
ngắn ngùn, mắt toét, da gố ghỉnh! Đã thế ông lại bẩn. Cái cổ áo bao giờ cũng đầy những ghét.
Trông ông ấy với Bà Hai, chẳng khác gì đầy tớ với chủ nhà. Mà sự thật thì bà ấy coi ông ấy như
đầy tớ thật. Bà chửi ông xoen xoét. Bà lại thường cưỡi cả lên đầu ông mà đánh ông. Người
trong xóm phải buồn cười. Bởi vì nhà ông Ngã ở liền nhà ông Hai Mợn. Mà cả hai nhà ấy, vợ
chồng cùng có chuyện. Một bên thì chồng bắt nạt vợ, một bên thì vợ bắt nạt chồng. Cứ tối hôm
trước, ông Ngã đánh bà Ngã, là chẳng sai tối hôm sau bà Hai lại đánh ông Hai, và như là để báo
thù lại bọn đàn ông giùm bà Ngã vậy. Có khi nhà bên này đánh nhau, nhà bên kia cũng đánh
nhau. Lục đà lục đục. Nhưng xét cho cùng thì bà Ngã tuy hay bị chồng đánh nhưng còn có lúc
được chồng thương. Những lúc không say, ông Ngã thương vợ lắm. Còn bà Hai thì dường như
không còn biết ông ấy. Bà nhiếc ông đủ cách. Ông ấy làm loong toong sở máy đèn. Ngày nào
cũng đi làm từ sáu giờ. Mẹ con chỉ chơi không. Thế mà sáng ngày chỉ có ấm nước, bà cũng
không chịu dậy hay gọi cô Viên dậy đun đâu. Ông Hai phải dậy từ lúc còn đêm. Ông đun nước,
quét nhà rồi mới đi làm. Trời rét, ông phải đun cả nước rửa mặt cho vợ và con riêng của vợ.
Không hiểu sao ông lại sợ bà đến thế. Có lẽ vì ông xấu quá, đã nửa đời người không có vợ mà
bà thì đẹp. Có lẽ vì bà biết những mánh khóe bí mật để khiến người đàn ông mê. Chỉ biết ông
sợ bà một cách vô lý lắm. Bà hơi dọa đi là ông sợ. Người ta bảo: thằng Đạc chưa chắc đã phải là
con ông, chứng cớ là ông đối với nó ơ hờ lắm. Cái ấy thì chưa biết thế nào mà nói. Bởi vì thằng
Đạc có thể không là con ông ấy nhưng nó không thể không là con của bà ấy. Sự đó đã hiển
nhiên. Vậy mà bà ấy đối xử với nó cũng ơ hờ lắm. Cả cô Viên cũng thế. Chẳng ai trông nhìn gì
đến nó. Họ thả cho nó chạy rong với những đứa trẻ khác. Nhưng bởi nó bé nhất, mà lại yếu, nên
không thể dự vào các trò chơi của chúng. Nó lếch thếch chạy sau cùng, vừa chạy vừa khóc mếu.
Rồi vớ được bất cứ đứa nào, nó cũng ngoẹo đầu đi, đòi bế. Làm in như đứa kia là anh, chị hay
vú em nhà nó. Cố nhiên là bọn trẻ mắng cho chan chát. Chúng nó có phải là đầy tớ nhà nó đâu!
Có đứa thấy Đạc giơ tay chực bám lấy, tức mình phát vào tay đen đét. Đạc gào thật to. Bà Hai
nghe thấy tiếng chạy ra cửa, hỏi vang vang: “Đứa nào trêu nó thế?”. Bọn trẻ xô nhau chạy, như
một đàn gà trông thấy mèo nhảy ra chực vồ...
Có một con bé hay bế Đạc. Ấy là Tiền. Nó là con ông Ngã. Nó cũng hiền lành in như mẹ. Thấy
những trẻ khác mắng hay là tát hoặc dun ngã Đạc, nó thường kêu: “Ấy! Sao chúng mày ác thế?
Không bế nó thì thôi, việc gì mà đánh nó?”. Rồi nó lau nước mắt, nước mũi cho Đạc, dắt nó đi
hay bế nó. Tiền cũng chẳng lấy gì làm khỏe. Bế nách Đạc, nó thường phải vẹo cả sườn đi. Nhiều
đứa khác, thấy thế chẳng thương thì chớ, còn lừa lúc Tiền vô ý đến sau lưng đẩy cho một cái,
làm cả Tiền lẫn Đạc ngã đâm sấp mặt.
Hay chơi nhả nhất là thằng Lộc. Nó là cháu bà cụ hàng xén ở đầu dẫy, giáp ngõ ngang, không
có mẹ. Chỉ có ba, mỗi tháng về độ vài lần. Ba nó mặt xương xương, tóc cắt ngắn để một cái bờm
ở đằng trước như khách trú, ria mép cứng, cũng xén ngắn, nên đứng lởm chởm như một cái
bàn chải hình móng ngựa. Ông đi dép Nhật Bản và hay mặc một bộ đồ pi gia ma màu hung
hung. Lần nào về ông cũng đi xe đạp, một cái xe cuốc tay lái cù quằm, nan hoa sáng choang,
khung sơn màu cánh dán. Cả xóm không ai biết tên ông. Người ta gọi ông là ông ba thằng Lộc.
Nghề nghiệp của ông, người ta cũng không tường! Hỏi bà cụ thì bà cụ bảo: “Ấy, chính tôi cũng
không rõ nhé! Tôi có biết nó làm gì, tôi chết, làm gì mặc nó! Bà cháu tôi suốt đời chả được nó
thí cho đồng nào, chỉ quanh quẩn trông vào cái hàng được xu lãi nào thì ăn... ”. Hình như bà cụ
giận ông thì phải. Mỗi lần ông về, ông chỉ ở nhà một lúc. Mẹ con chẳng buồn hỏi đến nhau. Ngay
Lộc cũng không xoắn xít ba nó mấy. Ai cũng phải nhận rằng ông có vẻ khỏe, rắn rỏi, gan góc,
bướng bỉnh. Người ông cũng chỉ vừa phải thôi, nhưng tất cả trông cứng như sắt nguội. Thằng
Lộc tuy còn bé, cũng đã có cái cách như ba nó. Người nó loắt choắt nhưng khỏe lắm. Mà chúa
đời là hay bắt nạt. Bởi vậy chẳng đứa nào chơi với nó. Thấy mặt nó đâu là chúng nó lảng. Bởi vì
động có nó là nó phá. Thường thường, nó đến vào lúc chúng đang chơi. Giữa lúc chúng bất ngờ,
nó quay lô lô như một con cù, lăn xả vào giữa đám, miệng cười, tay đấm, chân đạp, đầu húc túi
bụi, gây một cuộc loạn đả huyên náo. Nó chỉ thích có một trò chơi ấy. Một lúc sau, mặt nó đỏ
bừng, mồ hôi nhễ nhại, áo quần xộc xệch, nó ngồi phệt ngay xuống đất, hai chân duỗi dài ra,
lưng tựa vào tường, há hốc mồm ra, vừa cười vừa thở, đôi mắt lăn tăn nhìn lũ trẻ nhâu nhâu
mắng nó. Hình như nó còn thích một trò chơi ấy nữa, ngồi nhe răng ra cười, nghe những đứa
khác vênh mặt, tớn môi lên, chan chát mắng. Đợi lũ trẻ mắng chán nó mới đứng lên. Nó cho là
món nợ trả xong rồi. Nó len lén trở về cửa đứng đợi một lúc bà cụ mải làm gì hay mải trông gì,
để chạy vụt vào nhà rửa ráy và thay quần áo. Năm chừng mười họa mới có một lần nó thoát.
Bởi vì lần nào nó cũng bật cười và bị bà cụ trông thấy. Lập tức bà cụ chửi cho một trận. Có khi
bà túm lấy tóc cháu, củng vào đầu công cốc. Lộc rụt cổ lại, cười khanh khách.
Một hôm, Lộc ra sân chẳng thấy bọn trẻ con đâu. Chỉ thấy hai chú lợn. Nó bực mình nắm ngay
đuôi một chú, mím môi lôi lại, ra sức kéo. Chú lợn hoảng sợ, kêu eng éc. Bác Vằn gái còn hoảng
sợ hơn con lợn. Bởi vì đôi lợn của bác là nửa cái giang sơn nhà bác. Bác Vằn trai làm nghề bán
mỳ rong. Ban ngày, bác ngồi ở bến tàu. Tối đến bác gánh mì lần lượt đi qua mấy phố quen. Phố
nào bác cũng đã có những chỗ nhất định. Cứ đến đấy hạ gánh. Muốn báo cho khách quen ăn
biết bác gõ mõ kêu cục rắc. Do đấy, người ta gọi bác là anh mì xực tắc. Mì của bác ngon, nên
khách quen nhiều. Bác kiếm cũng được đồng tiền. Ấy thế mà quanh năm công nợ bác dề dề. Chỉ
vì bác đông con mà vợ thì đần: bác gái vụng buôn, đi buôn mấy mươi phen đều mất vốn. Sau
cùng bác Vằn trai đành bảo vợ ở nhà. Nhưng không lẽ ở nhà để chơi không? Bác mua cho vợ
đôi lợn, giao cho mà chăm chút. Ngày ngày bác Vằn gái xách một cái thùng sắt tây, dạo một
vòng qua mấy nhà quen, xin nước vo gạo của người ta. Ở phố phường, nước phải mua. Bởi vậy
từ bát đũa đến xanh nồi, trước khi tráng nước sạch, đều phải rửa bằng nước gạo. Cái nước gạo
do thế trước được tất cả cái béo ngập còn sót lại với những hạt cơm thừa, những lưng canh
cặn. Lợn ăn đủ béo. Nếu chúng nó không béo, ấy là lỗi của bác Vằn gái vụng chăm. Bác trai sẽ
chửi cho ngập mặt. Bởi vậy bác gái chiều lợn lắm... Lúc ấy, bác đang xi đứa con út đái. Nghe
tiếng lợn kêu, bác vội quăng nó xuống giường rồi tất tưởi chạy ra. Vừa thấy bóng bác, Lộc cắm
đầu chạy biệt. Bác chỉ còn có thể xắn quần lên qua đầu gối dậm chân lên bèn bẹt, nghiến răng
lại mà rít lên: “Con nhà quan ôn vật nào thế kia”... Lộc đã khuất vào chỗ đầu chái trong nhà ông
Ấm. Những lần bị bà cầm roi đuổi đánh. Lộc vẫn chạy vào chỗ ấy. Bởi chỗ ấy là cái bếp nhà ông
Ấm. Lúc nào cũng có sẵn một cái thang ghệch lên tường. Không hiểu thằng Câm nháy trời vẫn
leo lên mái bếp làm gì vậy? Những lúc hắn đi vắng, Lộc thường leo trộm lên, có ý để xem hắn
giấu gì trên ấy. Lộc chẳng thấy gì. Nhưng những lúc không còn biết trêu ai nó vẫn trèo lên nóc
bếp ngồi chơi. Lâu dần cái việc trèo lên ấy quen đi. Nó làm nhẹn như một con mèo. Thành thử
mỗi lần bị bà đuổi, nó lại chạy tót ra chỗ cái thang. Nó trèo lên. Rồi ngồi cười trên nóc mái nhà,
nó nhìn xuống cười khanh khách. Bà cụ già yếu quá, chân tay run rẩy, đâu còn hơi sức mà trèo.
Dù còn trèo được bà cũng chẳng dám trèo. Bà trông thấy cháu ngồi cheo leo trên nóc bếp cũng
đã đủ run cả ruột rồi. Nếu bà còn trèo lên, ngộ nó sợ bị đánh mà chạy trốn. Vô phúc trượt chân
một cái, lăn xuống đất thì còn gì là mạng. Không vỡ đầu ắt gẫy chân. Lộc vốn ranh ma đã biết
thóp bà cụ tuy hùng hổ nhưng vốn nhát. Có đời nào dám để cho cháu què!... Lần này, trêu lợn
nhà bác Vằn xong rồi, Lộc cũng trốn ra chỗ cái thang. Nó ngạc nhiên, bởi thấy thằng Đạc đang
khóc thầm ở đấy. À, thì ra thằng Đạc hôm nay cũng ra sân chậm. Các bạn kéo nhau đi đâu mất
cả rồi, mất chị Tiền! Đạc chạy đi tìm. Tìm không thấy nên nó khóc... Lộc mới trông đã ghét. Cái
gì mà thằng Đạc tỉ tỉ suốt ngày! Mồm lúc nào cũng mếu xệch đi. Mắt lúc nào cũng ầng ậc nước.
Lộc không thích cái hạng trẻ con như vậy. Nó cũng nheo mắt vào, bèm bẹp cái mồm, bắt chước
Đạc mếu để nhạo Đạc.
- I hi hi... hi hi!... Ô em tôi khóc đấy à? I hi hi... hi hi!... làm sao em tôi thế?... Đặc vừa giặt mồm
ra, vừa nghoẹo cái đầu về một bên: hai tay nó chực níu lấy tay Lộc. Lộc hăm hở xốc nó lên. Nó
trèo thang. Nó đặt thằng Đạc cưỡi lên nóc bếp bảo:
- Ôm lấy cái ống khói! Ôm thật chặt không ôm ngã vỡ đầu thì bỏ mẹ!
Đạc toan đu lấy cổ nó. Nó vừa gỡ tay Đạc ra, vừa trợn mắt lên vừa dọa:
- Mày mà bám lấy tao, tao quăng xuống kia ngay. Muốn gẫy cổ thì bảo ông?... Ôm lấy cái này,
mau lên! Ôm lấy! Rồi tao ngồi sau lưng mày, giữ lấy mày, không ngã đâu mà sợ... Nào! Chúng ta
đi tàu... tu tu tu! Tu tu!...
Đạc đành phải nhận cái trò chơi nguy hiểm ấy. Nhưng Lộc đã vội vàng xuống đất và lôi cái
thang ra chỗ khác khanh khách cười. Vừa lúc bọn trẻ ở ngoài ngõ ngang về. Lộc chạy ra gọi
chúng. Lộc chỉ cho chúng thằng Đạc ngồi trên nóc bếp:
- Chúng mày xem: thằng Đạc đi tàu bay kia kìa!
Chúng cười ầm ĩ. Duy có Tiền hoảng sợ kêu lên:
- Trời đất ơi! Khổ quá! Mày làm vỡ đầu nó ra bây giờ... Hiền ơi!
Tiền kêu cứu Hiền. Nhưng Hiền cũng chẳng biết làm sao nốt. Có cái thang thì thằng Lộc giữ,
dạo đứa nào động đến thì đánh cho vỡ mặt. Vả lại thang làm gì? Hiền chưa chắc dám trèo lên.
Càng không dám bế đạc mà trở xuống. Đạc vẫn ôm chặt cái ống khói mà gào khóc. Lũ trẻ con
nhốn nháo. Tiền chắp tay lạy Lộc. Lộc khanh khách cười. Mặt Hiền đỏ bừng lên vì tức Lộc. Nó
chạy một mạch về cửa nhà ông Hai Mợn. Nó không mách bà Hai; nó ghét bà Hai lắm. Nhưng nó
ra hiệu cho Câm theo nó. Câm ngơ ngác. Nó nắm lấy tay Câm mà kéo đi. Câm gật đầu và chạy
theo. Vừa thấy Câm, Lộc ù té chạy. Lũ trẻ không cười nữa, vì cái mặt Câm hầm hầm, trông sợ
lắm, Hiền chỉ lên thằng Đạc. Câm trợn mắt há hốc mồm, rung rung cái đầu. Ấy là Câm hình dung
nỗi sợ. Hiền chỉ vào cái thang, Câm hiểu. Hắn bắc thang trèo lên nóc bếp. Hắn bế thằng Đạc
xuống rồi cứ chắp nguyên ở nách, chạy một mạch về nhà bà Hai. Lũ trẻ ào ào chạy theo...
Có lẽ Câm lấy việc ấy làm khoái lắm. Suốt ngày, hắn chạy lăng xăng hết nhà nọ đến nhà kia.
Gặp người nào hắn cũng múa may chân tây, trợn mắt, há mồm, lúc lắc đầu, cố diễn đạt tất cả
các việc đã xảy ra. Ai cũng biết chuyện rồi, nên ai cũng hiểu ngay. Họ gật đầu, cười. Câm thích
chí vì đã làm được cho người ta hiểu cũng cười bằng cả nét mặt và tay chân...
Cả buổi chiều, Câm có vẻ ngóng mẹ Hiền. Người ta đoán thế, bởi thấy hắn thỉnh thoảng lại
nhìn vào nhà thị. Hắn làm như người sốt ruột đã đến thành nỗi bứt rứt. Và khi vừa trông thấy
bóng dáng mẹ Hiền đội một cái thúng về, hắn chạy theo ngay. Hắn đỡ đội xuống giúp thị. Rồi
không còn để cho thị kịp ngạc nhiên, hắn hấp tấp nhắc lại tất cả những nét mặt, những cử chỉ
hắn đã dùng để kể câu chuyện thằng Đạc ngồi trên nóc bếp. Người đàn bà ngớ mặt ra không
hiểu. Câm tức lắm. Mặt hắn nhăn nhó một cách đau khổ ấm ức. Ngón tay hắn hơi run run một
chút. Nhưng hắn cố bình tĩnh, diễn lại ý của mình lần nữa. Người đàn bà vẫn không hiểu nốt.
Mắt Câm đỏ bừng lên. Hắn thành sừng sộ, bình bịch chạy ra lại chạy vào, in như một con hổ
lồng lộn trong cái cũi. Mẹ Hiền hoảng sợ. Thị tưởng hắn muốn tìm một cái gì để phang vào đầu
thị. Và thị ngờ rằng chính thị hay con thị đã vô ý làm thiệt hại gì đến hắn. Nhưng Hiền về. Câm
mừng lắm. Hắn vồ lấy nó. Bộ mặt co rúm của hắn giãn ra. Hắn tươi cười chỉ vào Hiền mà ra
hiệu. Mẹ Hiền vẫn không hiểu. Nhưng Hiền hiểu, Hiền tủm tỉm cười. Hiền nói cho mẹ nghe tất
cả những điều Câm muốn nói. Trong khi Hiền nói, Câm nhìn mặt mẹ Hiền. Nét mặt thị cứ linh
động dần dần do sự hiểu biết dần dần câu chuyện. Đến khi thị hiểu cả, thị cười rũ rượi. Câm
cũng cười. Nhưng hắn chỉ cười một chút rồi mặt hắn lại đỏ bừng lên. Hắn đột nhiên chạy trốn.
Một lát sau, mẹ Hiền thấy hắn ngồi trước cửa nhà bà Hai Mợn, lấm lét nhìn trộm mẹ con thị.
Mắt hắn bẽn lẽn. Hắn có vẻ hiểu rằng: mẹ con thị đang nói đến hắn và cười hắn. Thị sinh ái
ngại. Thị lục thúng bánh lấy quà cho con. Đó là một khúc sắn tàu. Thị lấy dao cắt làm đôi, đưa
một nửa cho Hiền.
- Phần con đây.
Hiền nhìn nửa kia như muốn hỏi: thế, còn đây?...
Thị đưa hết cho con, khẽ bảo:
- Con chạy đi đưa miếng này cho ông Câm...
Và thị cắt nghĩa:
- Ông ấy có gì ăn cũng cho con; con có gì chỉ ăn một mình, phải tội.
Hiền vâng lời mẹ. nó cầm miếng sắn tàu chạy sang nhà bà Hai Mợn, đưa cho Câm. Câm xua
tay, lắc đầu, không chịu lấy. Hiền bỏ vội vào lòng hắn, chạy về. Nhưng Câm lại chạy sang tận
nhà, trả lại Hiền. Mẹ Hiền ra hiệu cho Câm ăn. Câm lắc đầu. hiền phụng phịu, lườm Câm để tỏ ý:
Câm không ăn thế, Hiền giận đấy. Rồi nó lại nhét miếng sắn vào tay hắn. Hắn do dự một chút
rồi cầm vậy. Nhưng hắn chỉ bẻ một mẩu con ăn rồi lại trả Hiền. Hắn phưỡn bụng ra rồi lấy một
ngón tay gõ vào. Hiền cắt nghĩa cho mẹ hiểu:
- Ông ấy bảo: ông ấy còn no lắm.
Mẹ Hiền nhìn Câm cười tủm tỉm. Câm cũng cười. Hiền muốn đùa Câm, dí miếng sắn vào
mồm hắn, bắt ăn. Câm giằng tay nó xuống. Mẹ Hiền sợ Câm giận, khẽ phát vào lưng con, mắng:
- Đừng láo thế? Mày chỉ hỗn.
Câm vừa cười vừa xua tay để bảo mẹ Hiền đừng đánh nữa. Rồi Câm bế thốc Hiền lên, đặt nó
ngồi vào lòng, vuốt ve hôn hít. Mẹ Hiền cảm động. Một chút nước mắt ứa ra, rơm rớm. Câm
nhìn thị. Đôi mắt hắn, mới đầu căng ra vì ngạc nhiên, dịu dần dần. Rồi chúng cũng rơm rớm
ướt. Nhưng đồng thời mặt hắn đỏ lên một chút. Hắn nhắc vội Hiền cho đứng xuống, rồi chạy ra
ngoài đột ngột, khiến người đàn bà giật mình nhìn theo.
Ít lâu sau mẹ Hiền không đi buôn với bà Ngã nữa. Thị đi làm nhà máy. Đầu mối tự bà Hai
Mợn. Bà Hai thấy thị và bà Ngã thân nhau thì có vẻ không bằng lòng. Thoạt tiên bà không bằng
lòng thị. Bởi vì thị đến đây, bà giúp đỡ cho nhiều. Đã đành bà chẳng giúp tiền, giúp gạo gì,
nhưng bà chỉ bảo dùm. Bà thuê hộ nhà, bà có lòng săn sóc lắm ấy thế mà thị nở xử cái lối qua
sông phụ công. Yên thân một tí là thị quên tất cả. Thị chỉ biết đi lại ton hót con mụ Ngã. Thị coi
bà chẳng khác gì người dưng. Vậy là bà ghen. Nhiều người có cái thói ghen vu vơ như vậy. Bà
giận luôn bà Ngã. Bởi vì bà nghĩ rằng: khi con đĩ trắng mắt kia chưa đến thì bà Ngã với bà vốn
hai người tử tế. Một đôi khi có thiếu tiền đong gạo bà Ngã vẫn thậm thọt chạy sang nhà bà vay
tạm. Nếu bà có, chẳng bao giờ bà tiếc. Khi một vài đồng, khi dăm ba đồng. Lần thì bà Ngã trả
ngay, cũng có lần hàng nửa tháng. Nếu bà không ăn đến, chẳng bao giờ bà nỡ cất mồm đòi. Lờ
lãi không có một đồng xu nhỏ. Nói thế nghĩa là bà Ngã được nhờ bà nhiều lắm. Nhưng từ ngày
bám được thị, bà Ngã đã có chỗ khác để nhờ rồi. Bà không cần đến hàng xóm cũ nữa... Tính bà
Hai Mợn vốn đa nghi, nên bà cứ nghĩ quẩn quanh như thế. Rồi bà đoán rằng: mẹ Hiền có nhiều
tiền. Có nhiều tiền nên con mẹ Ngã nó mới bám chằng chằng như vậy. Đứa nào dại thì được
chết. Con mẹ Ngã nó chẳng vừa đâu nhé. Đánh đôi với nó thì có ngày giẻ rách cũng chẳng còn
mà đeo...
Bà Hai Mợn thấy bà cần phải làm một việc phúc đức. Một buổi tối bà đến chơi nhà Hiền. Bà
làm như vô tình đi qua, thấy mẹ Hiền ngồi rỗi thì tạt vào nói chuyện chơi. Bắt đầu bà hỏi thị
xem hôm nay có phát tài không! Rồi bà hỏi loanh quanh xem lỗ lãi thế nào? Sau cùng bà mới
ngồi lại gần với thị và thì thầm nói khẽ:
- Chỗ chị em tôi hỏi thật: chị đi với bà Ngã thế thì buôn chung hay buôn riêng?
- Thưa bà, cháu mới theo bà ấy đi cho quen thôi đấy ạ.
- Đã đành, nhưng vốn của cả hai người, hay của một mình bà ấy?
- Vốn của bà ấy tất.
Bà Hai thất...
Tác giả: Nam Cao
Nhà xuất bản: Văn học
Năm xuất bản: 2002
Đánh máy và tạo ebook: hiepsiga
Tạo bìa: inno14
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Mẹ con thằng Hiền tới tỉnh vào lúc tang tảng sáng. Chân trời trăng trắng sau những mái ngói
cũ nhấp nhô. Đường vắng và câm. Nhà hàng phố còn đóng cửa, trơ trẽn như những người ngủ
ngoài hè đến tận sáng ngày. Cái hào nhoáng của các cửa hàng đã bị những cánh cửa lùa che kín.
Vẻ hoạt động chìm trong giấc ngủ... Một bà lão bán bánh mỳ tây đi sớm quá, buông ra một
tiếng rao lẻ loi và khàn khàn như một tiếng nói mê. Mấy cái xe không ghếch ở bờ đường, trước
cửa một căn nhà con con, có ánh đèn. Bốn năm người phu xe xúm xít quanh cái chõng hàng của
một bà già bịt khăn vuông, đang dỡ một cái chõ xôi bốc khói. Bấy giờ là tháng chín. Buổi sáng
hơi lành lạnh. Hiền đang ngủ gục trên vai mẹ, bỗng nghe tiếng “phịch... phịch... phành” và giật
mình mở mắt ra. Đó là tiếng bật bông trong cái căn nhà có ánh đèn và một góc dùng làm hàng
nước kia. Nhưng Hiền chưa nghe thấy thứ tiếng ấy bao giờ. Nó không hiểu từ đâu. Nó ngơ ngác
nhìn quanh, và để ý đến những bóng đèn điện mòng mọng đỏ. Chúng giống hệt như những con
mắt đã thức đêm nhiều quá, thành mỏi mệt. Chúng gà gà. Rồi đột nhiên, chúng nhắm lại đều
một lượt. Hiền càng ngơ ngác đẫy...
Mẹ Hiền đưa con đến một cái xóm nhỏ có cái tên xinh xinh: xóm Bài Thơ. Cái tên gọi đánh
lừa. Bởi vì xóm Bài Thơ ở ngang hông một cái ngõ ngang bẩn thỉu như một cái vũng phân,
nhưng lại thụt lùi mãi vào trong như một vết sâu ăn loen vào khoảng giữa hai dãy nhà, mỗi dãy
quay mặt ra một phố to. Vết loen cũng không sâu: bởi vì sau năm, sáu nhà đầu dãy nông nông,
những cái nhà ở hai dãy nói trên áp lưng liền lại với nhau: xóm Bài Thơ không còn chỗ hở để có
thể ăn sâu vào nữa. Cả xóm độ mươi hai nhà vừa ngói, vừa lá thuộc cả về một chủ. Cái nhà của
người chủ quay lưng ra ngõ ngang. Nó chiếm hết cả cái đầu ngoài xóm, chỉ còn để trừ một lối
vào. Nguyên cái nền của nó cũng đã cao đến lưng chừng những cái nhà kia. Nhà kiên cố, nghênh
ngang và bệ vệ. Những cánh cửa con bao giờ cũng đóng, nó có vẻ ngồi phệ bụng, lim dim ngủ
trên cái bệ cao của nó, đợi những mái nhà lau nhau ở dưới làm mà nuôi. Mà đúng như vậy thật.
Chủ nhân vô nghề nghiệp. Ông nghiện nặng. Giá ông phải nằm đường nằm chợ tất đã bị người
ta liệt vào hạng người du đãng. Có thể bị đưa ra tòa và kết án. Nhưng bố mẹ ông đã để lại cho
ông nhà và đất. Vậy thì ông là nghiệp chủ. Ông có thể ăn và hút rất lương thiện bằng tiền cho
thuê đất, cho thuê nhà... Những cái nhà cho thuê thấp lè tè. Dãy nhà gạch ở ngay chỗ cổng vào.
Nó chạy dài từ đầu ngoài đến đầu trong. Tất cả độ mươi gian rất giống nhau. Trước cửa là
khoảng đất rộng bỏ không. Chẳng có một cây gì. Trước kia, đây là một xưởng cưa. Đây đó, còn
những đống mạt cưa làm thành mùn. Còn thì là những đám cỏ mới lên, những đống rác mới,
những đám rêu. Vài chú lợn chân ngắn ngủn lê cái bụng phệ qua những vũng nước ngầu ngầu
đến rê mõm trên những đống bã cua bốc mùi hăng. Mấy anh gà trống lộc ngộc đi ngất nghểu
cạnh những chị gà mái bầu bĩnh, hiền lành và những chú ngỗng, chú ngan bước lạch bà lạch
bạch. Hai bên còn lại của khu đất được khép kín bằng những bức tường hậu của những nhà liền
bên. Lần vữa trát ngoài không quét vôi, đã mốc đen. Ở chỗ loe hình thước thợ, là một cái
chuồng tiêu rất sơ sài: mái lợp gồi, vách, cửa bằng phên nứa lẫn với những mảng sắt tây, két gỉ
lấy ở những thùng dầu bẹp. Hai căn nhà lá ở gần kề ngay đấy.
Mẹ Hiền đến xóm Bài Thơ để tìm một người cô họ làm nghề bán thuốc sài. Bà cô đã có hồi
nuôi cháu ba năm. Lần này, cháu có ý đến nhờ cô cái chỗ ăn chỗ ở ít lâu, rồi sẽ liệu cách buôn
bán sinh nhai. Nhưng người cô đã đi biệt tích rồi. Một năm khó làm ăn, trẻ con nhà nghèo biết
phận, không còn dám cam sài. Chẳng còn ai buồn hỏi đến thuốc của bà. Thuốc của bà mốc cả
lên. Luôn ba tháng, bà không có tiền để trả tiền nhà. Người ta bắt cái giường, cái chõng của bà
rồi đuổi bà đi. Từ bấy giờ, chẳng còn ai gặp bà ở đâu. Có người bảo: bà về kiếm ăn ở mấy chợ
nhà quê. Có người thì lại bảo: bà ra mãi miệt Hồng – gay, Cẩm – phả bởi cái món thuốc sâu
quảng của bà hay lắm... Hầu hết, những người ngày xưa ở xóm này cũng đã đi chỗ khác rồi. Còn
sót lại có vợ chồng ông Ngã và vợ chồng ông Hai Mợn. Các bà ấy còn nhớ mặt mẹ Hiền. Họ kể
cho thị nghe biết sự thể bà lang. Rồi họ khuyên thị nên thuê một căn nhà lá mà ở tạm, rồi ngày
một ngày hai sẽ đào công bới việc mà làm ăn. Tiền nhà chẳng mấy. Mỗi tháng có năm hào. Chủ
nhà lại cho mượn cái giường. Tội nghiệp! Đó chính là cái giường bắt của bà lang. Một vế mọt
quá gần gãy hẳn làm đôi. Người ta táp bằng một đoạn tre. Trông thảm hại lắm rồi. Nhưng sự ấy
không hề gì, còn mượn được, đã là tốt phúc.
Dọn đến ở căn nhà lá, mẹ con Hiền đã làm khó chịu một người. Ấy là một thằng câm. Hắn vào
trạc ngoại ba mươi. Người dong dỏng và khô. Hai vai xuôi hẳn xuống để tăng bề cao cho cái cổ
dựng lên thẳng như một khúc thân cau. Bởi thế mà trông người hắn đưỡn. Cái mặt lúc nào cũng
nhăn nhăn. Hai mắt đăm chiêu. Tóc vuốt ngược lên và quấn thành một búi tó con con ở giữa
đỉnh đầu. Cái trán do thế được nhô tất cả ra. Hắn có một vẻ gì ngây ngô mà dữ tợn. Hiền sợ lắm.
Nhất là điệu bộ của hắn hay cuống quýt, vặn vọ, hậm hực thế nào. Người ta tưởng như hắn bực
tức vì không nói được.
Không ai biết tông tích hắn ra sao. Chỉ biết rằng hắn có thể làm rất nhiều nghề. Một buổi
sớm, người ta thấy hắn đến quét vôi lại cái nhà của ông Ấm chủ nhân xóm Bài Thơ. Cũng chẳng
hiểu ông Ấm rước được hắn ở đâu về. Bởi vì hắn không biết nói, mà ông Ấm thì không thích
nói. Chưa mấy người giáp mặt ông. Những người thuê nhà có điều gì cần nói với ông, cứ việc
nói với người đầy tớ của ông, một lão chột lực lưỡng, cục mịch, xấu xí, vai và lưng u lên, cổ to
và đen ghê như cổ trâu, chân đi bình bịch, cổ tay to và vuông, những ngón tay nổi cục, mặt nấc
lên thành nhiều cái bướu nho nhỏ, cái mắt chột lúc nào cũng giương ra, cái con ngươi trắng
đục ra, còn mắt kia thì luôn luôn nhấp nháy đều một nhịp với một bên mép cứ xếch lên phía
mang tai từng cái rất nhanh; có người bảo đấy là bệnh rút gân, và cũng là do bệnh ấy, mỗi lần
muốn nói gì lão cứ lắp một hồi dài cái tiếng đầu câu rồi mới tiếp được cả câu, mà khi nói mồm
và mắt lão xệch xạc đi một cách vừa buồn vừa cười, sợ lắm. Có lẽ vì thế mà lão ít nói chăng?
Hay lão bị lây cái bệnh ít lời của chủ? Người trong xóm vẫn gọi vụng thầy, tớ lão là hai thằng
câm: thằng câm chuột bò với thằng câm nháy trời. Không ngờ lại thêm một thằng câm tịt để
phân biệt với hai thằng câm kia, còn có khi nói được. Mới đầu họ tưởng thằng câm tịt làm nghề
quét vôi tường. Nhưng khi mấy bức tường quét cả rồi, họ lại thấy hắn đến gắn lại mấy cái ống
máng. Sự ấy cũng thường thôi. Một người có thể biết hai nghề, nhất là khi hai nghề ấy cũng
chẳng lấy gì làm khó lắm.
Vậy thì trừ cái nghề quét vôi tường, Câm còn có thể làm thợ thiếc. Người nọ bắt chước người
kia, họ lục lọi trong nhà xem còn cái thùng, cái hộp, cái đèn nào rò thì đem nhờ hàn chữa. Ấy
thế là hắn làm quen với họ, và từ đấy, cứ độ dăm bảy ngày hay mười ngày, họ lại thấy hắn đến
đấy, ý chừng để xem có ai thuê làm gì chăng. Thỉnh thoảng lại có đêm hắn đến ngủ nhờ ở ngoài
hiên, ngay trước cửa nhà ông Ngã hay nhà ông Hai Mợn. Không ai nỡ đuổi, bởi hắn là một
người tàn tật. Vả hắn không làm phiền ai: hắn nằm chỗ nào sáng dạy quét sạch như lau, hắn
còn quét giùm cả những chỗ hắn không nằm đến; người ta yêu cái nết hắn, và thường khi hắn
đến lại cho mượn manh chiếu nằm; nhưng lần nào hắn cũng lắc đầu, xua tay từ chối. Ít lâu sau,
chỗ hiên nhà ông Hai Mợn thành cái nhà của hắn. Hắn sách đồ đạc đến xếp nhờ vào một xó, và
chẳng có đêm nào không về đấy ngủ. Hắn thành người của xóm. Ở lâu với hắn, người ta mới
biết hắn rất nhiều nghề tạp nham. Thật là một người khéo tay. Một hôm thấy đôi giầy tây cũ
của ông Hai Mợn để trong gầm giường, bởi sụt dây nên há mõm ra, hắn cầm lấy xem, phủ bụi
đi, rồi lục hòm đồ lấy ra một cái kim và một đoạn dây gai ngồi khâu lại cho ông. Một hôm khác,
hắn chữa một cái ô cho cô Viên, con gái riêng của bà Hai. Lâu lâu, động cái gì hỏng là người ta
nhờ đến hắn: từ cái khóa hóc, cái đèn hỏng máy, cái ấm sứt vòi, cái phạng vỡ, cái guốc điếu
không kêu đến đôi dép đứt quai, cái rá sụt cạp, cái thùng dầu bẹp... Hình như chẳng có cái gì
hắn không làm được. Mà đối với người trong xóm, hắn lấy tiền công rất ít, hoặc không lấy tiền.
Hồi đầu năm, một người thuê nhà dọn đi. Không có người thay. Một căn nhà lá bỏ không mấy
tháng luôn. Người ta cho thằng câm ở nhờ...
Lúc bà Hai đưa mẹ con Hiền vào thì Câm đang dùng những mảnh sắt vụn làm những cái còi
để bán cho trẻ con chơi. Hắn dừng tay nhìn mẹ Hiền, cái mắt ngây ngấy lộ vẻ ngạc nhiên. Bà
Hai chỉ vào mẹ Hiền rồi chỉ xuống cái nền nhà, rồi lại chỉ vào cái hòm đồ của hắn rồi chỉ ra
ngoài. Hắn hiểu. Hắn xụ mặt ra, hắn nhìn xuống những cái kéo búa, kìm cùng những mảnh sắt
tây bừa bộn trên mặt đất, mắt lừ lừ, do dự. Bà Hai khẽ đập đập mấy cái vào vai hắn như người
ta vỗ về một con ngựa dữ trước khi cưỡi thử, rồi sà sà bàn tay trên những đồ của hắn mấy cái,
rồi chỉ vào cái hòm, rồi chỉ ra chỗ hiên nhà bà. Ấy thế là hắn ngẩng phắt mặt lên. Mặt hắn co
rúm lại. Đôi mắt long sòng sọc. Cái mồm hắn run run, để thoát ra những tiếng cổ họng giống
như chó tru. Đồng thời hai tay hắn khua rối rít cả lên. Rồi đột nhiên hắn chạy vụt ra ngoài. Một
thoáng sau, hắn lại vào. Hắn thu xếp đồ đạc rất vội vàng. Rồi hắn bê cái hòm bằng cả hai tay,
chạy huỳnh huỵch ra khỏi nhà y như người tức giận. Mẹ Hiền nhìn theo hắn một chút rồi khẽ
hỏi bà Hai.
- Ông ấy tức hay sao thế?
Bà Hai cười bằng cái thứ tiếng cười nằng nặc mỡ:
- Không! Tính nó như vậy đấy. Hơi một tí thì múa may chân tay. Người không biết thì tưởng
nó sắp đánh chết người ta. Vậy mà hiền đáo để. Hiền mà tử tế. Ở đây lâu rồi chị biết.
Bà nói đúng. Câm quả nhiên hiền thật. Hiền và tử tế... Chỉ mấy hôm sau, Hiền đã phải ở nhà
một mình. Mẹ Hiền đã nói với bà Ngã để bà ấy cho đi theo đi bán hàng dăm ba bữa cho quen.
Quen rồi thì sẽ làm như bà ấy: ngày thì nồi cháo, chõ xôi, ngày thì nồi bún thang, ngày thì mẻ
ốc nhồi luộc, ngày thì nồi chè củ... Chỉ có thế trong bao nhiêu năm nay mà bà ấy cũng tịu nhịn
nuôi con được mãi. Những như ông ấy thì chết đói. Ông Ngã làm thợ mộc. Cơm đã ăn của chủ
rồi. Lương cũng được tháng dăm đồng. Nhưng chẳng tháng nào còn lại cả. Có khi lại còn nặn
thêm của bà ấy nữa. Chỉ vì ông hay rượu, hay đánh bạc. Rượu chiều nào cũng phải uống. Sẻn
cho chết cũng phải vài ba cút với vài xu đỗ lạc. Những khi vay được tiền thì chẳng có chừng
nào. Ông vào hàng thịt chó, vào hiệu phở, vào hàng bán cháo lòng, uống hàng nửa chai với một
chai. Say ngọng cả mồm. Đi đường thì lảo đảo, chân nam đá chân xiêu. Mà lúc ấy trời bé lắm.
Chỉ có ông ta nhất; chỉ có ông tài giỏi nhất, chỉ có ông nhiều tiền nhất. Tiền!... ơ hờ hờ... tiền,
ông coi ra điều gì! Vỏ hến! Có biết không? Ông có dích! Đứa nào xin cho bớt... Cố nhiên là có
đứa xin. Chúng nịnh ông, những thằng thợ cùng làm với ông một phố. Ông dắt chúng nó ăn
canh bún, ăn đỗ lạc, ăn mía, ăn bánh rán. Chúng vừa ăn vừa phỉnh ông rộng rãi. Rồi chúng rủ
ông đánh chắn. Đánh chắn! Ờ! Thú lắm... Chính ông đang muốn đánh. Không đánh để tiền làm
gì chứ!... Ông đánh ngay, đánh thật to, cho mà biết tay... Ấy thế là sáng hôm sau, có đồng nào tét
cả. Ông lại cặm cụi cho đến khi nào chủ lại cho vay tiền nữa. Và chiều chiều, bà ấy lại phải bỏ
tiền túi ra mua cho ông mấy cút rượu, mấy xu đỗ lạc để ông ấy uống tạm cho đỡ thèm. Hôm
nào ông ấy uống xong, lăn ra ngủ còn khá phúc. Lắm hôm ông ấy cứ lè nhè đòi uống nữa hay
đòi tiền đi đánh bạc, rồi không được thì đâm khùng đánh con, đánh vợ. Vợ con khổ lắm. Bởi thế
mà bà ấy quắt queo suốt đời... Bà Ngã đã than thở cái tình cảnh của bà với mẹ Hiền. Rồi bà đã
bảo mẹ Hiền.
- Tôi thế còn chả chết, huống hồ là chị. Chị thì bất quá chỉ một con, một mẹ. Con đã chạy đi
chơi được, không còn quấn rứt. Ăn là mấy? Lo gì chết đói? Nếu chết đói thì tôi đã chết?...
- Bà cứ nói thế chứ bà còn biết buôn biết bán, nhà cháu thì chết cái lại vụng về.
- Rồi nó quen đi chứ! Một vài phiên lại không thạo quá. Chị cứ đi với tôi ít lâu cho thuộc
đường thuộc lối...
Mẹ Hiền theo bà Ngã đi suốt cả ngày. Hiền ở nhà có một mình. Thấy Hiền có vẻ buồn, Câm
vẫn chạy sang. Hắn xoa đầu, xoa tai thằng bé. Hắn cho nó cái kẹo hay miếng bánh, có khi một
vài trinh. Rồi khi hắn phải đi làm hay ra phố, hắn ra hiệu cho nó chạy đi chơi với lũ trẻ con
trong xóm.
Chúng khá đông. Suốt ngày chúng ở ngoài với lũ gà, vịt, ngỗng, ngan. Cả bọn có thằng Đạc
trông buồn cười nhất. Nó đầu to, đít bé như một con nòng nọc cóc. Bụng ỏng. Tóc lơ phơ có
mấy cái đỏ chòe chòe. Hai chân khẳng khiu có vẻ không mang nổi đầu và bụng. Nó lách nhách
khóc suốt ngày. Nước mắt, nước mũi pha với đất cát nguệch ngoạc đầy mặt và bôi hai ống tay
áo dầy lên. Bàn tay phải nó, hết gãi đầu gãi cổ lại dụi đôi mắt ong õng nước và nhoèn những cục
dử đùn ra vàng như mủ đặc. Thật là thằng bé để cho ruồi bâu, kiến đỗ. Không ai dám bảo nó là
con bà Hai Mợn. Bà Hai thật béo tốt nở nang. Cái xuân đã tàn rồi, mà đôi má bà vẫn đỏ, đôi mắt
bà vẫn sắc. Cô con gái lớn của bà cũng thế. Cô Viên mới độ hai mươi tuổi. Người phốp pháp da
thịt phây phây. Cô diện sang nhất xóm, mà chẳng làm gì. Ngày nào cô cũng đi chơi. Trước khi đi
đánh phấn, tô môi, vẽ lông mày, vuốt nước hoa thơm lựng. Người trong xóm ai trông thấy cũng
lườm cũng nguýt. Nhất là các bà xấu xí. Người ta bảo cô Viên là con riêng của bà Hai Mợn.
Trước khi lấy ông Hai, bà đã lấy ba, bốn đời chồng. Người đầu tiên là một ông tham. Cô Viên,
nghe đâu là con của ông ta. Nhưng chẳng biết bà phải cái lỗi gì, nên ông tham đuổi cả mẹ con
đi. (Lúc lấy nhau cũng không cưới, không cheo gì thì phải). Sau đời chồng ấy, bà lấy tây, lấy
khách. Thôi thì đủ hạng. Sang cũng có mà hèn cũng có. Nhưng bà chẳng ở được với ai lâu.
Người ta không chán bà thì bà cũng chán người ta. Tận đến lúc kém xuân và đã quá lứa rồi,
chẳng còn mấy người say, bà mới chịu phép lấy ông Hai Mợn vậy. Nếu chỉ xét cái sắc đẹp
không, thì thật là tiên lấy cú. Ông Hai Mợn trông chán lắm. Người cọc lại, cái mặt ngắn ngủn
ngắn ngùn, mắt toét, da gố ghỉnh! Đã thế ông lại bẩn. Cái cổ áo bao giờ cũng đầy những ghét.
Trông ông ấy với Bà Hai, chẳng khác gì đầy tớ với chủ nhà. Mà sự thật thì bà ấy coi ông ấy như
đầy tớ thật. Bà chửi ông xoen xoét. Bà lại thường cưỡi cả lên đầu ông mà đánh ông. Người
trong xóm phải buồn cười. Bởi vì nhà ông Ngã ở liền nhà ông Hai Mợn. Mà cả hai nhà ấy, vợ
chồng cùng có chuyện. Một bên thì chồng bắt nạt vợ, một bên thì vợ bắt nạt chồng. Cứ tối hôm
trước, ông Ngã đánh bà Ngã, là chẳng sai tối hôm sau bà Hai lại đánh ông Hai, và như là để báo
thù lại bọn đàn ông giùm bà Ngã vậy. Có khi nhà bên này đánh nhau, nhà bên kia cũng đánh
nhau. Lục đà lục đục. Nhưng xét cho cùng thì bà Ngã tuy hay bị chồng đánh nhưng còn có lúc
được chồng thương. Những lúc không say, ông Ngã thương vợ lắm. Còn bà Hai thì dường như
không còn biết ông ấy. Bà nhiếc ông đủ cách. Ông ấy làm loong toong sở máy đèn. Ngày nào
cũng đi làm từ sáu giờ. Mẹ con chỉ chơi không. Thế mà sáng ngày chỉ có ấm nước, bà cũng
không chịu dậy hay gọi cô Viên dậy đun đâu. Ông Hai phải dậy từ lúc còn đêm. Ông đun nước,
quét nhà rồi mới đi làm. Trời rét, ông phải đun cả nước rửa mặt cho vợ và con riêng của vợ.
Không hiểu sao ông lại sợ bà đến thế. Có lẽ vì ông xấu quá, đã nửa đời người không có vợ mà
bà thì đẹp. Có lẽ vì bà biết những mánh khóe bí mật để khiến người đàn ông mê. Chỉ biết ông
sợ bà một cách vô lý lắm. Bà hơi dọa đi là ông sợ. Người ta bảo: thằng Đạc chưa chắc đã phải là
con ông, chứng cớ là ông đối với nó ơ hờ lắm. Cái ấy thì chưa biết thế nào mà nói. Bởi vì thằng
Đạc có thể không là con ông ấy nhưng nó không thể không là con của bà ấy. Sự đó đã hiển
nhiên. Vậy mà bà ấy đối xử với nó cũng ơ hờ lắm. Cả cô Viên cũng thế. Chẳng ai trông nhìn gì
đến nó. Họ thả cho nó chạy rong với những đứa trẻ khác. Nhưng bởi nó bé nhất, mà lại yếu, nên
không thể dự vào các trò chơi của chúng. Nó lếch thếch chạy sau cùng, vừa chạy vừa khóc mếu.
Rồi vớ được bất cứ đứa nào, nó cũng ngoẹo đầu đi, đòi bế. Làm in như đứa kia là anh, chị hay
vú em nhà nó. Cố nhiên là bọn trẻ mắng cho chan chát. Chúng nó có phải là đầy tớ nhà nó đâu!
Có đứa thấy Đạc giơ tay chực bám lấy, tức mình phát vào tay đen đét. Đạc gào thật to. Bà Hai
nghe thấy tiếng chạy ra cửa, hỏi vang vang: “Đứa nào trêu nó thế?”. Bọn trẻ xô nhau chạy, như
một đàn gà trông thấy mèo nhảy ra chực vồ...
Có một con bé hay bế Đạc. Ấy là Tiền. Nó là con ông Ngã. Nó cũng hiền lành in như mẹ. Thấy
những trẻ khác mắng hay là tát hoặc dun ngã Đạc, nó thường kêu: “Ấy! Sao chúng mày ác thế?
Không bế nó thì thôi, việc gì mà đánh nó?”. Rồi nó lau nước mắt, nước mũi cho Đạc, dắt nó đi
hay bế nó. Tiền cũng chẳng lấy gì làm khỏe. Bế nách Đạc, nó thường phải vẹo cả sườn đi. Nhiều
đứa khác, thấy thế chẳng thương thì chớ, còn lừa lúc Tiền vô ý đến sau lưng đẩy cho một cái,
làm cả Tiền lẫn Đạc ngã đâm sấp mặt.
Hay chơi nhả nhất là thằng Lộc. Nó là cháu bà cụ hàng xén ở đầu dẫy, giáp ngõ ngang, không
có mẹ. Chỉ có ba, mỗi tháng về độ vài lần. Ba nó mặt xương xương, tóc cắt ngắn để một cái bờm
ở đằng trước như khách trú, ria mép cứng, cũng xén ngắn, nên đứng lởm chởm như một cái
bàn chải hình móng ngựa. Ông đi dép Nhật Bản và hay mặc một bộ đồ pi gia ma màu hung
hung. Lần nào về ông cũng đi xe đạp, một cái xe cuốc tay lái cù quằm, nan hoa sáng choang,
khung sơn màu cánh dán. Cả xóm không ai biết tên ông. Người ta gọi ông là ông ba thằng Lộc.
Nghề nghiệp của ông, người ta cũng không tường! Hỏi bà cụ thì bà cụ bảo: “Ấy, chính tôi cũng
không rõ nhé! Tôi có biết nó làm gì, tôi chết, làm gì mặc nó! Bà cháu tôi suốt đời chả được nó
thí cho đồng nào, chỉ quanh quẩn trông vào cái hàng được xu lãi nào thì ăn... ”. Hình như bà cụ
giận ông thì phải. Mỗi lần ông về, ông chỉ ở nhà một lúc. Mẹ con chẳng buồn hỏi đến nhau. Ngay
Lộc cũng không xoắn xít ba nó mấy. Ai cũng phải nhận rằng ông có vẻ khỏe, rắn rỏi, gan góc,
bướng bỉnh. Người ông cũng chỉ vừa phải thôi, nhưng tất cả trông cứng như sắt nguội. Thằng
Lộc tuy còn bé, cũng đã có cái cách như ba nó. Người nó loắt choắt nhưng khỏe lắm. Mà chúa
đời là hay bắt nạt. Bởi vậy chẳng đứa nào chơi với nó. Thấy mặt nó đâu là chúng nó lảng. Bởi vì
động có nó là nó phá. Thường thường, nó đến vào lúc chúng đang chơi. Giữa lúc chúng bất ngờ,
nó quay lô lô như một con cù, lăn xả vào giữa đám, miệng cười, tay đấm, chân đạp, đầu húc túi
bụi, gây một cuộc loạn đả huyên náo. Nó chỉ thích có một trò chơi ấy. Một lúc sau, mặt nó đỏ
bừng, mồ hôi nhễ nhại, áo quần xộc xệch, nó ngồi phệt ngay xuống đất, hai chân duỗi dài ra,
lưng tựa vào tường, há hốc mồm ra, vừa cười vừa thở, đôi mắt lăn tăn nhìn lũ trẻ nhâu nhâu
mắng nó. Hình như nó còn thích một trò chơi ấy nữa, ngồi nhe răng ra cười, nghe những đứa
khác vênh mặt, tớn môi lên, chan chát mắng. Đợi lũ trẻ mắng chán nó mới đứng lên. Nó cho là
món nợ trả xong rồi. Nó len lén trở về cửa đứng đợi một lúc bà cụ mải làm gì hay mải trông gì,
để chạy vụt vào nhà rửa ráy và thay quần áo. Năm chừng mười họa mới có một lần nó thoát.
Bởi vì lần nào nó cũng bật cười và bị bà cụ trông thấy. Lập tức bà cụ chửi cho một trận. Có khi
bà túm lấy tóc cháu, củng vào đầu công cốc. Lộc rụt cổ lại, cười khanh khách.
Một hôm, Lộc ra sân chẳng thấy bọn trẻ con đâu. Chỉ thấy hai chú lợn. Nó bực mình nắm ngay
đuôi một chú, mím môi lôi lại, ra sức kéo. Chú lợn hoảng sợ, kêu eng éc. Bác Vằn gái còn hoảng
sợ hơn con lợn. Bởi vì đôi lợn của bác là nửa cái giang sơn nhà bác. Bác Vằn trai làm nghề bán
mỳ rong. Ban ngày, bác ngồi ở bến tàu. Tối đến bác gánh mì lần lượt đi qua mấy phố quen. Phố
nào bác cũng đã có những chỗ nhất định. Cứ đến đấy hạ gánh. Muốn báo cho khách quen ăn
biết bác gõ mõ kêu cục rắc. Do đấy, người ta gọi bác là anh mì xực tắc. Mì của bác ngon, nên
khách quen nhiều. Bác kiếm cũng được đồng tiền. Ấy thế mà quanh năm công nợ bác dề dề. Chỉ
vì bác đông con mà vợ thì đần: bác gái vụng buôn, đi buôn mấy mươi phen đều mất vốn. Sau
cùng bác Vằn trai đành bảo vợ ở nhà. Nhưng không lẽ ở nhà để chơi không? Bác mua cho vợ
đôi lợn, giao cho mà chăm chút. Ngày ngày bác Vằn gái xách một cái thùng sắt tây, dạo một
vòng qua mấy nhà quen, xin nước vo gạo của người ta. Ở phố phường, nước phải mua. Bởi vậy
từ bát đũa đến xanh nồi, trước khi tráng nước sạch, đều phải rửa bằng nước gạo. Cái nước gạo
do thế trước được tất cả cái béo ngập còn sót lại với những hạt cơm thừa, những lưng canh
cặn. Lợn ăn đủ béo. Nếu chúng nó không béo, ấy là lỗi của bác Vằn gái vụng chăm. Bác trai sẽ
chửi cho ngập mặt. Bởi vậy bác gái chiều lợn lắm... Lúc ấy, bác đang xi đứa con út đái. Nghe
tiếng lợn kêu, bác vội quăng nó xuống giường rồi tất tưởi chạy ra. Vừa thấy bóng bác, Lộc cắm
đầu chạy biệt. Bác chỉ còn có thể xắn quần lên qua đầu gối dậm chân lên bèn bẹt, nghiến răng
lại mà rít lên: “Con nhà quan ôn vật nào thế kia”... Lộc đã khuất vào chỗ đầu chái trong nhà ông
Ấm. Những lần bị bà cầm roi đuổi đánh. Lộc vẫn chạy vào chỗ ấy. Bởi chỗ ấy là cái bếp nhà ông
Ấm. Lúc nào cũng có sẵn một cái thang ghệch lên tường. Không hiểu thằng Câm nháy trời vẫn
leo lên mái bếp làm gì vậy? Những lúc hắn đi vắng, Lộc thường leo trộm lên, có ý để xem hắn
giấu gì trên ấy. Lộc chẳng thấy gì. Nhưng những lúc không còn biết trêu ai nó vẫn trèo lên nóc
bếp ngồi chơi. Lâu dần cái việc trèo lên ấy quen đi. Nó làm nhẹn như một con mèo. Thành thử
mỗi lần bị bà đuổi, nó lại chạy tót ra chỗ cái thang. Nó trèo lên. Rồi ngồi cười trên nóc mái nhà,
nó nhìn xuống cười khanh khách. Bà cụ già yếu quá, chân tay run rẩy, đâu còn hơi sức mà trèo.
Dù còn trèo được bà cũng chẳng dám trèo. Bà trông thấy cháu ngồi cheo leo trên nóc bếp cũng
đã đủ run cả ruột rồi. Nếu bà còn trèo lên, ngộ nó sợ bị đánh mà chạy trốn. Vô phúc trượt chân
một cái, lăn xuống đất thì còn gì là mạng. Không vỡ đầu ắt gẫy chân. Lộc vốn ranh ma đã biết
thóp bà cụ tuy hùng hổ nhưng vốn nhát. Có đời nào dám để cho cháu què!... Lần này, trêu lợn
nhà bác Vằn xong rồi, Lộc cũng trốn ra chỗ cái thang. Nó ngạc nhiên, bởi thấy thằng Đạc đang
khóc thầm ở đấy. À, thì ra thằng Đạc hôm nay cũng ra sân chậm. Các bạn kéo nhau đi đâu mất
cả rồi, mất chị Tiền! Đạc chạy đi tìm. Tìm không thấy nên nó khóc... Lộc mới trông đã ghét. Cái
gì mà thằng Đạc tỉ tỉ suốt ngày! Mồm lúc nào cũng mếu xệch đi. Mắt lúc nào cũng ầng ậc nước.
Lộc không thích cái hạng trẻ con như vậy. Nó cũng nheo mắt vào, bèm bẹp cái mồm, bắt chước
Đạc mếu để nhạo Đạc.
- I hi hi... hi hi!... Ô em tôi khóc đấy à? I hi hi... hi hi!... làm sao em tôi thế?... Đặc vừa giặt mồm
ra, vừa nghoẹo cái đầu về một bên: hai tay nó chực níu lấy tay Lộc. Lộc hăm hở xốc nó lên. Nó
trèo thang. Nó đặt thằng Đạc cưỡi lên nóc bếp bảo:
- Ôm lấy cái ống khói! Ôm thật chặt không ôm ngã vỡ đầu thì bỏ mẹ!
Đạc toan đu lấy cổ nó. Nó vừa gỡ tay Đạc ra, vừa trợn mắt lên vừa dọa:
- Mày mà bám lấy tao, tao quăng xuống kia ngay. Muốn gẫy cổ thì bảo ông?... Ôm lấy cái này,
mau lên! Ôm lấy! Rồi tao ngồi sau lưng mày, giữ lấy mày, không ngã đâu mà sợ... Nào! Chúng ta
đi tàu... tu tu tu! Tu tu!...
Đạc đành phải nhận cái trò chơi nguy hiểm ấy. Nhưng Lộc đã vội vàng xuống đất và lôi cái
thang ra chỗ khác khanh khách cười. Vừa lúc bọn trẻ ở ngoài ngõ ngang về. Lộc chạy ra gọi
chúng. Lộc chỉ cho chúng thằng Đạc ngồi trên nóc bếp:
- Chúng mày xem: thằng Đạc đi tàu bay kia kìa!
Chúng cười ầm ĩ. Duy có Tiền hoảng sợ kêu lên:
- Trời đất ơi! Khổ quá! Mày làm vỡ đầu nó ra bây giờ... Hiền ơi!
Tiền kêu cứu Hiền. Nhưng Hiền cũng chẳng biết làm sao nốt. Có cái thang thì thằng Lộc giữ,
dạo đứa nào động đến thì đánh cho vỡ mặt. Vả lại thang làm gì? Hiền chưa chắc dám trèo lên.
Càng không dám bế đạc mà trở xuống. Đạc vẫn ôm chặt cái ống khói mà gào khóc. Lũ trẻ con
nhốn nháo. Tiền chắp tay lạy Lộc. Lộc khanh khách cười. Mặt Hiền đỏ bừng lên vì tức Lộc. Nó
chạy một mạch về cửa nhà ông Hai Mợn. Nó không mách bà Hai; nó ghét bà Hai lắm. Nhưng nó
ra hiệu cho Câm theo nó. Câm ngơ ngác. Nó nắm lấy tay Câm mà kéo đi. Câm gật đầu và chạy
theo. Vừa thấy Câm, Lộc ù té chạy. Lũ trẻ không cười nữa, vì cái mặt Câm hầm hầm, trông sợ
lắm, Hiền chỉ lên thằng Đạc. Câm trợn mắt há hốc mồm, rung rung cái đầu. Ấy là Câm hình dung
nỗi sợ. Hiền chỉ vào cái thang, Câm hiểu. Hắn bắc thang trèo lên nóc bếp. Hắn bế thằng Đạc
xuống rồi cứ chắp nguyên ở nách, chạy một mạch về nhà bà Hai. Lũ trẻ ào ào chạy theo...
Có lẽ Câm lấy việc ấy làm khoái lắm. Suốt ngày, hắn chạy lăng xăng hết nhà nọ đến nhà kia.
Gặp người nào hắn cũng múa may chân tây, trợn mắt, há mồm, lúc lắc đầu, cố diễn đạt tất cả
các việc đã xảy ra. Ai cũng biết chuyện rồi, nên ai cũng hiểu ngay. Họ gật đầu, cười. Câm thích
chí vì đã làm được cho người ta hiểu cũng cười bằng cả nét mặt và tay chân...
Cả buổi chiều, Câm có vẻ ngóng mẹ Hiền. Người ta đoán thế, bởi thấy hắn thỉnh thoảng lại
nhìn vào nhà thị. Hắn làm như người sốt ruột đã đến thành nỗi bứt rứt. Và khi vừa trông thấy
bóng dáng mẹ Hiền đội một cái thúng về, hắn chạy theo ngay. Hắn đỡ đội xuống giúp thị. Rồi
không còn để cho thị kịp ngạc nhiên, hắn hấp tấp nhắc lại tất cả những nét mặt, những cử chỉ
hắn đã dùng để kể câu chuyện thằng Đạc ngồi trên nóc bếp. Người đàn bà ngớ mặt ra không
hiểu. Câm tức lắm. Mặt hắn nhăn nhó một cách đau khổ ấm ức. Ngón tay hắn hơi run run một
chút. Nhưng hắn cố bình tĩnh, diễn lại ý của mình lần nữa. Người đàn bà vẫn không hiểu nốt.
Mắt Câm đỏ bừng lên. Hắn thành sừng sộ, bình bịch chạy ra lại chạy vào, in như một con hổ
lồng lộn trong cái cũi. Mẹ Hiền hoảng sợ. Thị tưởng hắn muốn tìm một cái gì để phang vào đầu
thị. Và thị ngờ rằng chính thị hay con thị đã vô ý làm thiệt hại gì đến hắn. Nhưng Hiền về. Câm
mừng lắm. Hắn vồ lấy nó. Bộ mặt co rúm của hắn giãn ra. Hắn tươi cười chỉ vào Hiền mà ra
hiệu. Mẹ Hiền vẫn không hiểu. Nhưng Hiền hiểu, Hiền tủm tỉm cười. Hiền nói cho mẹ nghe tất
cả những điều Câm muốn nói. Trong khi Hiền nói, Câm nhìn mặt mẹ Hiền. Nét mặt thị cứ linh
động dần dần do sự hiểu biết dần dần câu chuyện. Đến khi thị hiểu cả, thị cười rũ rượi. Câm
cũng cười. Nhưng hắn chỉ cười một chút rồi mặt hắn lại đỏ bừng lên. Hắn đột nhiên chạy trốn.
Một lát sau, mẹ Hiền thấy hắn ngồi trước cửa nhà bà Hai Mợn, lấm lét nhìn trộm mẹ con thị.
Mắt hắn bẽn lẽn. Hắn có vẻ hiểu rằng: mẹ con thị đang nói đến hắn và cười hắn. Thị sinh ái
ngại. Thị lục thúng bánh lấy quà cho con. Đó là một khúc sắn tàu. Thị lấy dao cắt làm đôi, đưa
một nửa cho Hiền.
- Phần con đây.
Hiền nhìn nửa kia như muốn hỏi: thế, còn đây?...
Thị đưa hết cho con, khẽ bảo:
- Con chạy đi đưa miếng này cho ông Câm...
Và thị cắt nghĩa:
- Ông ấy có gì ăn cũng cho con; con có gì chỉ ăn một mình, phải tội.
Hiền vâng lời mẹ. nó cầm miếng sắn tàu chạy sang nhà bà Hai Mợn, đưa cho Câm. Câm xua
tay, lắc đầu, không chịu lấy. Hiền bỏ vội vào lòng hắn, chạy về. Nhưng Câm lại chạy sang tận
nhà, trả lại Hiền. Mẹ Hiền ra hiệu cho Câm ăn. Câm lắc đầu. hiền phụng phịu, lườm Câm để tỏ ý:
Câm không ăn thế, Hiền giận đấy. Rồi nó lại nhét miếng sắn vào tay hắn. Hắn do dự một chút
rồi cầm vậy. Nhưng hắn chỉ bẻ một mẩu con ăn rồi lại trả Hiền. Hắn phưỡn bụng ra rồi lấy một
ngón tay gõ vào. Hiền cắt nghĩa cho mẹ hiểu:
- Ông ấy bảo: ông ấy còn no lắm.
Mẹ Hiền nhìn Câm cười tủm tỉm. Câm cũng cười. Hiền muốn đùa Câm, dí miếng sắn vào
mồm hắn, bắt ăn. Câm giằng tay nó xuống. Mẹ Hiền sợ Câm giận, khẽ phát vào lưng con, mắng:
- Đừng láo thế? Mày chỉ hỗn.
Câm vừa cười vừa xua tay để bảo mẹ Hiền đừng đánh nữa. Rồi Câm bế thốc Hiền lên, đặt nó
ngồi vào lòng, vuốt ve hôn hít. Mẹ Hiền cảm động. Một chút nước mắt ứa ra, rơm rớm. Câm
nhìn thị. Đôi mắt hắn, mới đầu căng ra vì ngạc nhiên, dịu dần dần. Rồi chúng cũng rơm rớm
ướt. Nhưng đồng thời mặt hắn đỏ lên một chút. Hắn nhắc vội Hiền cho đứng xuống, rồi chạy ra
ngoài đột ngột, khiến người đàn bà giật mình nhìn theo.
Ít lâu sau mẹ Hiền không đi buôn với bà Ngã nữa. Thị đi làm nhà máy. Đầu mối tự bà Hai
Mợn. Bà Hai thấy thị và bà Ngã thân nhau thì có vẻ không bằng lòng. Thoạt tiên bà không bằng
lòng thị. Bởi vì thị đến đây, bà giúp đỡ cho nhiều. Đã đành bà chẳng giúp tiền, giúp gạo gì,
nhưng bà chỉ bảo dùm. Bà thuê hộ nhà, bà có lòng săn sóc lắm ấy thế mà thị nở xử cái lối qua
sông phụ công. Yên thân một tí là thị quên tất cả. Thị chỉ biết đi lại ton hót con mụ Ngã. Thị coi
bà chẳng khác gì người dưng. Vậy là bà ghen. Nhiều người có cái thói ghen vu vơ như vậy. Bà
giận luôn bà Ngã. Bởi vì bà nghĩ rằng: khi con đĩ trắng mắt kia chưa đến thì bà Ngã với bà vốn
hai người tử tế. Một đôi khi có thiếu tiền đong gạo bà Ngã vẫn thậm thọt chạy sang nhà bà vay
tạm. Nếu bà có, chẳng bao giờ bà tiếc. Khi một vài đồng, khi dăm ba đồng. Lần thì bà Ngã trả
ngay, cũng có lần hàng nửa tháng. Nếu bà không ăn đến, chẳng bao giờ bà nỡ cất mồm đòi. Lờ
lãi không có một đồng xu nhỏ. Nói thế nghĩa là bà Ngã được nhờ bà nhiều lắm. Nhưng từ ngày
bám được thị, bà Ngã đã có chỗ khác để nhờ rồi. Bà không cần đến hàng xóm cũ nữa... Tính bà
Hai Mợn vốn đa nghi, nên bà cứ nghĩ quẩn quanh như thế. Rồi bà đoán rằng: mẹ Hiền có nhiều
tiền. Có nhiều tiền nên con mẹ Ngã nó mới bám chằng chằng như vậy. Đứa nào dại thì được
chết. Con mẹ Ngã nó chẳng vừa đâu nhé. Đánh đôi với nó thì có ngày giẻ rách cũng chẳng còn
mà đeo...
Bà Hai Mợn thấy bà cần phải làm một việc phúc đức. Một buổi tối bà đến chơi nhà Hiền. Bà
làm như vô tình đi qua, thấy mẹ Hiền ngồi rỗi thì tạt vào nói chuyện chơi. Bắt đầu bà hỏi thị
xem hôm nay có phát tài không! Rồi bà hỏi loanh quanh xem lỗ lãi thế nào? Sau cùng bà mới
ngồi lại gần với thị và thì thầm nói khẽ:
- Chỗ chị em tôi hỏi thật: chị đi với bà Ngã thế thì buôn chung hay buôn riêng?
- Thưa bà, cháu mới theo bà ấy đi cho quen thôi đấy ạ.
- Đã đành, nhưng vốn của cả hai người, hay của một mình bà ấy?
- Vốn của bà ấy tất.
Bà Hai thất...
 





