TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU VỀ WEBSITE HỌC LIỆU

    Kính gửi quý thầy cô và các em học sinh thân mến,Trang học liệu điện tử của Thư viện Tiểu học Tân Đông Hiệp là một nền tảng số tích hợp chất lượng, chuyên nghiệp, được thiết kế để phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu của thầy cô cùng các em học sinh. Giao diện trang web hiện đại, dễ điều hướng, tận dụng các yếu tố công nghệ như trích dẫn khoa học, phân loại theo lĩnh vực (Văn học, Toán học, Khoa học tự nhiên, Lịch sử…), và cho phép truy cập tài liệu nhanh chóng theo từ khóa, thể loại hoặc độ tuổi phù hợp. Hệ thống hỗ trợ tải về các file PDF, bài giảng minh họa, video minh họa dạng đồ họa, giúp người sử dụng dễ dàng tiếp cận tri thức, học liệu hỗ trợ giảng dạy – học tập mọi lúc, mọi nơi. Dưới sự phối hợp của các thầy cô giáo giàu nhiệt huyết, giàu kinh nghiệm sư phạm và luôn cập nhật phương pháp giảng dạy tiên tiến, học sinh toàn trường được khuyến khích phát triển toàn diện từ nhận thức khoa học đến kỹ năng tự học, sáng tạo. Nhờ nền tảng học liệu số này, việc tiếp cận thông tin trở nên minh bạch, hiệu quả và có hệ thống, khuyến khích việc phát triển tư duy logic, phân tích phản biện và khám phá tri thức một cách bài bản, sâu sắc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Screenshot_1309.png 35_Phieu_Bai_tap_cuoi_tuan_Mon_Toan_Lop_2_Bo_sach_Canh_dieu.jpg GiaoantrinhchieuMonToan2Hocki1Bosachcanhdieu.jpg KehoachbaidayDaoducLop3BosachKetnoitrithuc2022tieuhocvn.jpg TiengViet4KetnoiTuan5Bai9Tiet3LuyentuvacauDongtuTrang41.jpg ClipartKey_135275.png TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet3Trang31.jpg ClipartKey_191402.png TiengViet4KetnoiTuan7Bai16Tiet1va2TruocngayxaqueTrang66.jpg TiengViet3KetnoiTuan5Bai9DocDihocvuisaotrang43.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai6Tiet12DocNghesitrongTrang26.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai5Tiet1DocthanlanxanhvatackeTrang23.jpg TiengViet3KetnoiTuan3Bai6Tiet1Doc_NhatkitapboiTrang26.jpg Motvaibienphaptochuctrochoihoctaptrongmondaoduclop2.jpg Thumbnail_Ca_chua.png

    TẠP CHÍ THƯ VIỆN

    LIÊN KẾT LIÊN THƯ VIỆN

    💕💕Thư viện chính là kho báu, nơi mỗi cuốn sách là một viên ngọc quý." – Anonymous💕Đọc sách làm cho tâm hồn ta tinh tế, trí tuệ ta sáng suốt và nhân cách ta vững vàng." – Anonymous💕

    Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn

    Trên sa mạc và trong rừng thẳm

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 15h:36' 09-03-2024
    Dung lượng: 1.5 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    TRÊN SA MẠC VÀ TRONG
    RỪNG THẲM
    Henryk Sienkiewicz
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Giới Thiệu
    Henryk Sienkiewicz (1846 - 1916) là nhà văn xuất sắc của Ba Lan thời
    cận đại, một trong những văn hào lớn của thế giới (ông được tặng giải Noben
    về văn học năm 1905). Các tác phẩm của ông tràn đầy tinh thần dân tộc, tình
    yêu chính nghĩa và công lí, lòng nhân đạo, lên án mọi thứ bất công, mọi hình
    thức áp bức bóc lột con người.
    H
    Ở Ba Lan, các tác phẩm của Sienkiewicz là sách gối đầu giường của
    nhiều thế hệ. Trong những năm phát xít Hítle chiếm đóng Ba Lan, chúng ra
    lệnh cấm đọc, cấm tàng trữ sách của Sienkievicz, tịch thu và đốt các tác
    phẩm của văn hào, nhưng nhân dân Ba Lan vẫn bí mật truyền tay nhau đọc,
    dù bao người vì thế phải bị treo cổ hoặc đưa vào trại tập trung.
    Trên văn đàn thế giới, các truyện ngắn, truyệ n vừa cùng những tiểu
    thuyết lịch sử rất xuất sắc của ông như: Bằng lửa và gươm, Trận Hồng thủy,
    Ngài Vôlôđixki, Quo vadis, Hiệp sĩ thánh chiến... được xếp vào hàng các tác
    phẩm kinh điển, được dịch ra trên bốn mươi thứ tiếng, nhiều lần được dựng
    thành kịch, quay thành phim và rất được ưa chuộng.
    Trong di sản văn học đồ sộ với hơn 60 tập sách của H.Sienkievicz, tiểu
    thuyết chiếm một vị trí đặc biệt: đó là tác phẩm duy nhất mà văn hào viết
    tặng cho bạn đọc thiếu nhi. Tác phẩm ra đời năm 1911, trong thời kì “hồi
    xuân” của văn hào sau hơn 10 năm bệnh tật. Ngay sau khi xuất bản, tác phẩ
    m đã được hoan nghênh nhiệt liệt, được tái bản ngay và được dịch ra nhiều

    thứ tiếng nước ngoài. Và trong suốt gần một thế kỉ qua, nhiều thế hệ thanh
    niên đã ngưỡng mộ và học tập Xtas, yêu mến tri kỉ với Nen, vui cười với sự
    láu lỉnh của Cali.
    Tác phẩm đã gợi nên khát vọng sống cao đẹp, khát vọng đi tới những
    chân trời xa, thực hiện những kì tích phi thường, vượt mọi hiểm nguy, chiến
    thắng mọi bất công tàn ác.
    Tuy nhiên, trong sự phản ánh và đánh giá lịch sử của nhà văn có nhiều
    điểm cần được xem xét lại. Điều cần lưu ý hơn cả có lẽ là cách nhìn nhận
    của nhà văn về phong trào khởi nghĩa của các tín đồ Hồi giáo Xuđan dưới sự
    lãnh đạocủa Mahơđi. Để hiểu rõ vấn đề này, ta cần đi ngược dòng lịch sử
    vùng Đông Phi, nhất là lịch sử Xuđan.
    H. Sienkievicz đã không nhìn nhận được bản chất và ý nghĩa tích cực
    của cuộc khởi nghĩa, đánh giá phong trào cũng như bản thân các lãnh tụ của
    cuộc khởi nghĩa một cách thiếu thiện cảm.
    Nhưng điều đó không cản trở bạn đọc yêu thích cuốn sách, bởi vì là một
    tác phẩm văn học rất hấp dẫn, và giá trị của món quà mà văn hào tặng cho
    các bạn trẻ (và không chỉ cho các bạn trẻ) vẫn mãi mãi là tuyệt diệu!

    TRÊN SA MẠC VÀ TRONG
    RỪNG THẲM
    Henryk Sienkiewicz
    Chương 1:
    -E m biết không, Nen, - Xtas Tarcôpxki nói với cô bạn gái người Anh bé
    nhỏ của mình. - Hôm qua, cảnh sát đã tới bắt vợ viên quản lí Xmainơ cùng
    với ba đứa con của mụ ta, chính cái mụ Phátma đã mấy lần tới văn phòng
    của ba anh và ba em đấy.
    - E
    Còn Nen, cô bé đẹp như một bức tranh, thì ngước cặp mắt màu lục nhạt
    của mình lên nhìn Xtas và hỏi vẻ vừa ngạc nhiên vừa sợ hãi:
    - Thế họ bắt bà ta bỏ tù à, anh?
    - Không, nhưng họ không cho phép mụ ta đi khỏi Xuđan.
    Đồng thời có một nhân viên tới đây để canh không cho mụ ta rời một
    bước khỏi Port Xaiđơ.
    - Sao vậy hả anh?
    Xtas, cậu thiếu niên vừa hết tuổi mười bốn, tuy rất yêu mến cô bạn gái
    tám tuổi của mình, song vẫn xem đó chỉ là một đứa bé non nớt, liền nói với
    vẻ mặt rất kiêu:
    - Khi nào lớn như anh, em sẽ biết không những chỉ mọi chuyện xảy ra
    dọc kênh đào này, từ Port Xaiđơ đến Xuê(1) mà còn cả trên toàn bộ đất Ai
    Cập nữa. Thế em không biết gì về Mahơđi hay sao?
    - Em nghe nói là ông ta xấu xí và không ngoan. Cậu bé mỉm cười thương

    hại.
    - Hắn ta có xấu xí hay không thì anh không biết. Những người dân
    Xuđan thì quả quyết rằng hắn ta đẹp tuyệt vời. Nhưng bảo kẻ đã giết hại
    ngần ấy ngườ i là “không ngoan” thì chỉ có thể là một cô nhóc con tám tuổi
    mặc váy ngắn mà thôi. Đấy, chỉ ngắn tới đầu gối là cùng.
    - Ba em bảo thế, ba em biết giỏi nhất.
    - Ba bảo em thế vì nói cách khác thì em không hiểu nổi. Giá nói với anh
    thì ba em đã chẳng bảo thế. Mahơđi còn tệ hơn cả một bầy cá sấu. Hiểu
    chưa? “Không ngoan!” Hay thật! Nói như với bọn trẻ con mới đẻ ấy.
    Song chợt nhìn thấy vẻ mặt xịu đi của cô bé, Xtas liền nín bặt, sau đó nói
    tiếp:
    - Nen, em biết đấy, anh đâu muốn nặng lời với em. Sẽ đến lúc cả em nữa
    cũng sẽ mười bốn tuổi. Anh cam đoan với em như thế.
    - Thế cơ! - Cô bé đáp với cái nhìn đầy lo lắng. Nhưng nếu như trước đó
    Mahơđi tiến được vào Port Xaiđơ và ăn thịt em mất thì sao nào?
    - Mahơđi không phải là kẻ ăn thịt người, nên hắn không ăn thịt dân
    chúng mà chỉ giết hại họ thôi. Hắn cũng chẳng tiến nổi tới Port Xaiđơ, mà
    nếu như hắn có tiến vào được và muốn giết em, thì trước hết hắn phải đấu
    với anh đã.
    Lời tuyên bố đó cùng với tiếng không khí được hít mạnh vào mũi Xtas
    không hứa hẹn một điều gì tốt lành cho Mahơđi, đã khiến Nen yên tâm về sự
    an toàn của bản thân mình.
    - Em biết, - cô bé nói, - anh chẳng chịu nộp em đâu, phải không? Thế
    nhưng tại sao người ta lại không cho bà Phátma rời khỏi Port Xaiđơ?
    - Bởi vì mụ ta là em họ của Mahơđi. Chồng mụ ta, gã Xmainơ hứa với
    chính phủ Ai Cập ở Cairô rằng y sẽ tới Xuđan, nơi Mahơđi đang ở, để xin tự

    do cho tất cả những người Âu bị rơi vào tay hắn.
    - Cái ông Xmainơ ấy là người tốt hả anh?
    - Khoan đã nào. Ba em và ba anh, những người hiểu rõ Xmainơ, hoàn
    toàn không tin hắn ta chút nào, và đã khuyên pasa(2) Nubarơ chớ có tin y.
    Nhưng chính phủ vẫn đồng ý cử Xmainơ đi, và thế là đã nửa năm nay
    Xmainơ ở tịt chỗ Mahơđi. Tù binh không những không được thả về mà lại
    có tin từ Khactum cho biết rằng, bọn Mahơđi đối xử với họ ngày một tàn tệ
    hơn, còn lão Xmainơ thì sau khi cuỗm tiền của chính phủ đã phản bội. Hắn
    hoàn toàn ngả hẳn về phía Mahơđi và đã được phong tước emia2. Người ta
    còn nói rằng, trong trận đánh khủng khiếp mà tướng Hicxơ bị tử trận, chính
    Xmainơ đã chỉ huy pháo binh của quân Mahơđi, và hình như chính hắn là kẻ
    đã dạy cho bọn Mahơđi cách sử dụng đạ i bác, loại vũ khí mà trước đó, vốn
    là những kẻ mọi rợ, chúng hoàn toàn không biết đến. Bây giờ, lão Xmainơ
    đang muốn đưa vợ con thoát khỏi Ai Cập, cho nên khi mụ Phátma, con
    người ngay từ đầu hẳn đã biết mọi chuyện mà Xmainơ làm, muốn bí mật
    chuồn khỏi Port Xaiđơ, thì chính phủ liền bắt giữ mụ ta cùng các con mụ lạ i.
    - Nhưng chính phủ sẽ được gì ở bà Phátma và lũ con của ba ta hở anh?
    - Chính phủ sẽ nói với Mahơđi: “Hãy trả cho chúng ta các tù binh của
    ngươi, chúng ta sẽ trả mụ Phátma cho ngươi...” Câu chuyện tạm bị gián đoạn
    vì lúc này Xtas chợt chú ý đến những con chim đang bay từ phía Êchtum Om
    Pharagơ về phía hồ Mendalê. Chúng bay khá thấp, trong bầu không khí trong
    vắt trông rõ mấy con bồ nông với chiếc cổ cong gập lại sát lưng đang khoan
    thai vỗ những đôi cánh khổng lồ. Xtas dõi theo đường bay của chúng, em
    ngẩng đầu lên, chạy mươi bước dọc theo bờ kênh, vừa chạy vừa vung vẩy
    đôi tay.
    - Nhìn kìa anh, có cả chim hồng hạc đang bay nữa kìa! - Nen bỗng kêu
    lên.
    Xtas đứng sững ngay lại, vì quả thực phía sau đàn bồ nông, nhưng cao
    hơn chúng một tí, có thể trông thấy hai đoá hoa lớn màu hồng và màu đỏ

    thắm dường như đang treo lơ lửng trên nền trời xanh thẳm.
    - Hồng hạc! Chim hồng hạc!
    - Chiều chiều chúng nó thường bay về tổ của chúng trên vùng đảo đấy, cậu bé thốt lên. - Ôi, giá mà anh có khẩu súng nhỉ.
    - Anh bắn chúng nó làm gì cơ?
    - Phụ nữ không thể hiểu được những chuyện ấy đâu. Nhưng thôi, chúng
    mình đi tiếp đi, có thể sẽ trông thấy chúng nhiều hơn nữa chăng.
    Vừa nói em vừa dắt tay cô bé; cả hai đi về phía bến tầu đầu tiên trên
    kênh đào tiếp sau cảng PortXaiđơ. Theo sau lưng chúng là bà Đina, một phụ
    nữ da đen, ngày trước từng là nhũ mẫu của cô bé Nen. Họ đi dọc bờ đập
    ngăn nước hồ Mendalê với kênh đào, trong kênh lúc ấy đang có một chiếc
    tầu thuỷ lớn chạy bằng hơi nước của Anh được hoa tiêu dẫn đi. Chiều xuống.
    Mặt trời hãy còn cao nhưng đã ngả về phía hồ. Làn nước lợ mằn mặn của hồ
    loang loáng ánh sáng và lung linh phản chiếu muôn sắc cầu vồng. Bên bờ
    phía Ả Rập, trải dài đến hút tầm mắt là sa mạc trơ trụi, câm lặng, chết chóc,
    đầy vẻ hằn thù. Giữa bầu trời thuỷ tinh dường như chết cứng và cái mênh
    mông vô bờ bến của mặt cát gợn sóng không hề có một dấu hiệu gì của sự
    sống. Trong lúc trên mặt kênh đào cuộc sống đang sôi sục, thuyền bè tấp
    nập, vang rộn tiếng còi tầu, và trên hồ Mendalê hàng đàn hải âu và vịt trời
    đang nhộn nhịp đảo chao trong ánh mặt trời, thì phía bên kia, phía bờ Ả Rập
    lại giống hệt như xứ sở của cái chết. Chỉ khi mặt trời xuống thấp dần và ngày
    càng ngả sang màu đỏ thì mặt cát mới dần dần nhuốm màu tim tím, màu tím
    của những mầm cây non trong các khu rừng Ba Lan về mùa thu.
    Trong khi đi về phía bến tầu, bọn trẻ còn trông thấy vài con chim hồng
    hạc nữa mà chúng vui sướng ngắm không chán mắt.
    Sau đó, bà Đina nói rằng đã đến lúc phải quay về nhà. Ở Ai Cập ban
    ngày thường nóng nực (thậm chí cả trong mùa đông), nhưng ban đêm lại rất
    lạnh, mà sức khoẻ của Nen thì lại đòi hỏi phải hết sức giữ gìn, nên ông

    Rôlixơn, cha của cô bé, không cho phép cô ở lại trên bờ nước sau khi mặt
    trời lặn. Họ bèn quay trở về thành phố.
    Vila của ông Rôlixơn nằm ngay rìa thành phố, gần bờ kênh đào.
    Khi mặt trời lặn xuống biển, họ đã về tới nhà. Một lát sau, kĩ sư
    Tarcôpxki, cha của Xtas, được mời đến dự bữa cơm, cũng tới, và thế là cả
    nhà, cùng với cô Oliviơ, cô gia sư người Pháp của Nen, ngồi vào bàn ăn.
    Đã từ nhiều năm nay, ông Rôlixơn, một trong các giám đốc của công ti
    kênh đào Xuê, và ông Vlađixlap Tarcôpxki, kĩ sư trưởng của công ti này, kết
    thân với nhau. Cả hai đều goá vợ: bà Tarcôpxca, vốn dòng dõi người Pháp,
    đã mất ngay từ khi Xtas vừa chào đời, nghĩa là hơn mười ba năm về trước,
    còn mẹ của Nen thì qua đời vì bệnh phổi tại Hêluankhi cô bé mới lên ba. Ở
    Port Xaiđơ, hai ông bố goá vợ sống trong hai ngôi nhà cạnh nhau, và do
    công việc của mình, ngày nào họ cũ ng gặp nhau. Nỗi bất hạnh chung khiến
    họ xích lại gần nhau hơn và làm cho tình bạn vốn có càng thêm bền chặt.
    Ông Rôlixơn yêu Xtas như con đẻ, còn ông Tarcôpxki thì sẵn sàng nhảy
    vào lửa và lao xuống nước vì cô bé Nen. Sau khi kết thú c công việc hàng
    ngày, phút nghỉ ngơi thú vị nhất đối với họ là được trò chuyện về bọn trẻ, về
    việc giáo dục và về tương lai của chúng. Trong những câu chuyện đó, ông
    Rôlixơn thường khen ngợi năng khiếu, nghị lực và lò ng can đảm của Xtas,
    còn ông Tarcôpxki thì lại say sưa với khuôn mặt thiên thần ngọt ngào của
    Nen. Và cả hai điều ấy đều là sự thật. Tuy hơi kiêu căng và hơi khoác lác
    một chút, nhưng Xtas học rất giỏi và các thầy giáo ở trường học dạy tiếng
    Anh tại Port Xaiđơ, nơi cậu bé học, đều công nhận rằng em có những năng
    khiếu khác thường. Nếu nói về lòng dũng cảm và tính tháo vát thì em được
    thừa hưởng ở người cha, vì ông Tarcôpxki có được những đức tính ấy ở trình
    độ cao, và cũng chính nhờ có chúng mà ông đã vươn tới cương vị cao cấp
    hiện tại.
    Năm 1863(4), ông đã chiến đấu suốt mười một tháng liền không ngơi
    nghỉ, sau đó ông bị thương, bị bắ t, rồi bị đầy đi Xibia, ông chạy trốn về Ba
    Lan rồi thoát ra nước ngoài. Trước khi tham gia khởi nghĩa, ông đã tốt

    nghiệp kĩ sư, nhưng sau đó, ông còn dành thêm một năm nữa để nghiên cứu
    thuỷ lực học. Rồi sau đó, ông tìm được việc làm ở kênh đào, và chỉ trong vài
    năm, khi người ta đã đánh giá được sự am tường công việc, nghị lực cùng
    tính cần cù của ông, ông được nhậ n cương vị kĩ sư trưởng cao quý ấy.
    Xtas được sinh ra, nuôi dưỡng và lớn đến năm mười bốn tuổi ngay tại
    hải cảng Port Xaiđơ trên kênh đào, nên các kĩ sư, bạn đồng nghiệp của cha
    em, thường gọi em là “đứa con của sa mạc”.
    Khi đang đi học, thỉnh thoảng, trong những dịp nghỉ hè hay nghỉ lễ, em
    lại được cùng với cha hoặc ông Rôlixơn tham gia các chuyến đi công vụ của
    họ từ Port Xaiđơ đến tận Xuê để kiểm tra công việc trên bờ kênh cùng việc
    nạo vét lòng kênh. Em quen hết thảy mọi người, từ các kĩ sư và nhân viên
    thuế quan, đến công nhân, những người Ả Rập và người da đen. Em “lùng
    sục” khắp nơi mọi chốn, tại bất cứ nơi nào đặt chân tới, và dần dần tiến hành
    những chuyến đi dài dọc theo bờ kênh, đi thuyền trên hồ Mendalê và nhiều
    lần bơi thuyền ra khá xa.Em đã từng vượt sang phía bờ Ả Rập, và nhảy đại
    lên lưng một con ngựa của ai đó, hoặc nếu thiếu ngựa thì lạc đà hay thậm chí
    cả lừa cũ ng được, đóng vai một tay kị sĩ dũng cảm của sa mạc. Tóm lại, nói
    như ông Tarcôpxki, em “chui rúc” khắ p mọi nơi, và hễ rảnh rỗi một chút
    ngoài giờ học là lại lần ngay ra bờ nước.
    Người cha không ngăn cản chuyện đó, vì ông hiểu rằng, việc chèo
    thuyền, cưỡi ngựa và sự tiếp xúc thường xuyên với không khí trong lành sẽ
    củng cố thêm sức khoẻ của đứa trẻ, đồng thời phát triển tính tháo vát của nó.
    Xtas cao và khoẻ hơn nhiều so với những đứa trẻ cùng tuổi, và chỉ cần nhìn
    vào cặp mắt cậu bé cũng có thể dễ dàng đoán được rằng, nếu lâm vào một
    chuyện hiểm nguy nào đó thì chắc hẳn cậu bé sẽ dễ phạm sai lầm do quá
    hăng hái hơn là vì khiếp sợ. Mới mười bốn tuổi đầu, em đã là một trong
    những tay bơi lội giỏi nhất ở Port Xaiđơ, điều này không phải là chuyện
    xoàng,bởi dân Ả Rập và người da đen vốn bơi lội giỏi như cá. Trong khi nhả
    đạn vào lũ vịt trời và ngỗng trời Ai Cập bằng khẩu súng săn cỡ nhỏ, cậu bé
    đã rèn luyện cho mình có được cánh tay và con mắt bắn trăm phát trăm
    trúng. Em ước ao một ngày nào đó sẽ được đi săn các loài thú lớn ở Trung

    Phi, háo hức lắng nghe chuyện những người Xuđan làm thuê ở vùng kênh
    đào, những người này đã từng gặp thú dữ và bọn thú da dầy khổng lồ tại quê
    hương họ.
    Điều này còn có thêm một cái lợi nữa là vừa nghe chuyện, cậu bé vừa
    học được ngôn ngữ của họ. Kênh đào Xuê không những chỉ đào thông là
    xong mà còn đòi hỏi phải thường xuyên chăm lo tu sửa, vì nếu không thì chỉ
    trong vòng một năm thôi, cát từ các sa mạc nằm dọc hai bờ kênh sẽ lấp biến
    nó đi. Cái công trình khổng lồ này của ông Lécxép(5) kéo theo một sự lao
    động liên tục và đòi hỏi phải thường xuyên cảnh giác. Do vậy, cho tới nay,
    có hàng loạt máy móc khổng lồ cùng hàng nghìn công nhân, dướ i sự giá m
    sát của các kĩ sư thành thạo công việc, lao động nạo nét lòng kênh. Để đào
    thông con kênh này đã từng phải dùng tới sức của hai mươi lăm nghìn người
    lao động. Giờ đây, khi công trình đã hoàn thành và lại được trang bị những
    máy móc hoàn thiện hơn, thì cần ít người hơn hẳn so với trước kia, song số
    lượng nhân công cho đến nay vẫn còn rất lớn. Trong đó, đại đa số là cư dân
    trong vùng, cũng không thiếu mặt dân Nubia, Xuđan, Xômali cùng nhiều
    dân tộc da đen khác sinh sống ở vùng sông Nin Trắ ng và sông Nin Xanh,
    nghĩa là trong những vùng thuộc phạm vi cai trị của chính phủ Ai Cập, trước
    khi nổ ra cuộc khởi loạn của Mahơđi. Xtas sống thân mật với mọi người và
    cũng giống như những người dân Ba Lan khác, vốn sẵn có năng khiếu ngoại
    ngữ, em nắm được nhiều thứ thổ ngữ của họ mà chính bản thân em cũng
    không rõ từ khi nào và tại làm sao nữa. Sinhtrưởng ở Ai Cập, em nói tiếng Ả
    Rập như một Người Ả Rập chính cống. Nhờ có những người Dandiba
    thường được thuê làm thợ đốt lò phục vụ các thứ máy móc, em học được
    tiếng Kixvahili, thứ tiếng rất phổ biến trong toàn bộ miền Trung Phi, thậm
    chí em có thể trò chuyện với những người da đen Đinnếch và Sinlúc sinh
    sống ở vùng hạ lưu sông Nin, phía dưới Phasôđa(4). Ngoài ra, em nói thạo
    tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Ba Lan, vì cha em một người yêu nước nhiệt
    thành, rất quan tâm đến chuyện làm sao cho cậu bé nói được tiếng nói quê
    hương. Dĩ nhiên, Xtas coi tiếng Ba Lan là thứ ngôn ngữ hay nhất trên thế
    giới, và cậu bé đã dạy cho bé Nen nói tiếng Ba Lan với không ít thành công.
    Có điều em không làm sao dạy cho cô bé phát âm được đúng tên em là Xtas
    chứ không phải “Xtex”. Cũng chính vì lí do đó mà đôi khi giữa hai đứa trẻ

    xảy ra chuyện bất hoà, song những chuyện bất hoà đó cũng chỉ kéo dài cho
    tới khi cặp mắt cô bé bắt đầu long lanh những giọt lệ mà thôi. Và khi ấy,
    “Xtex” bèn xin lỗi, đồng thời thường tự giận mình.
    Song cậu bé có một thói quen xấu là hay tỏ vẻ khinh thường khi nói về
    chuyện Nen mới lên tám và so sánh điều đó với tuổi tác và kinh nghiệm sống
    của bản thân mình. Em cho rằng một thiếu niên mười bốn tuổi, dẫu vẫn chưa
    hoàn toàn là người lớn, nhưng đã không còn là trẻ con nữa, và đã có khả
    năng thực hiện được mọi hành động anh hùng, đặc biệt là khi thiếu niên ấy
    mang trong mình dòng máu Ba Lan hoà dòng máu Pháp. Em khao khát một
    lúc nào đó sẽ có hoàn cảnh để thực hiện những hành động anh hùng như thế,
    nhất là để bảo vệ Nen. Cả hai thường tưởng tượng ra đủ mọi loại hiểm nguy
    khác nhau, và Xtas thường phải trả lời các câu hỏi của Nen xem em sẽ làm
    gì, nếu như nói thí dụ - một con cá sấu dài mười mét, hoặc một con bọ cạp to
    bằng con chó bò qua cửa sổ vào nhà cô bé. Song cả hai không một phút nào
    ngờ được rằng, chẳng bao lâu nữa, thực tế kinh khủng sẽ vượt xa mọi điều
    tưởng tượng của chúng.
    -----------------------------1 Kênh đào Xuê là một trong những kênh đào quan trọng nhấtthế giới.
    Kênh ở Đông Bắc Ai Cập, nối thông Địa Trung Hải với Hồng Hải. Dài 160
    km. Các hải cảng chính ở hai đầu kênh là PortXaiđơ và Xuê. Được xây dựng
    trong khoảng 1859-1869 dưới sự chủ trì của viện sĩ người Pháp Ph.M.
    Lecxép (ND)
    2 Pasa (hay Basa): tước hiệu vương hầu ở các nước Trung Đông.
    3 Emia: chức thủ lĩnh quân sự ở các nước Trung Đông.
    4 Năm 1863, nhân dân Ba Lan khởi nghĩa chống lại sự thống trị của bọn
    Nga hoàng.
    Cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ tháng Giêng năm 1863 và kéo dài đến mùa
    thu năm 1864.

    5 M.Lecxép (1805-1894): nhà ngoại giao và doanh nghiệp người Pháp viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp, người tổ chức đàokênh Xuê (18591869). Ông cũng là người tổ chức đào kênh Panama (1879-1889) và chính vì
    việc này mà ông bị phá sản.
    6 Phasôđa (nay là Côđốc) - thành phố ở Xuđan.

    TRÊN SA MẠC VÀ TRONG
    RỪNG THẲM
    Henryk Sienkiewicz
    Chương 2:
    Trong bữa cơm, có một tin vui chờ đón hai đứa trẻ. Vài tuần trước đây,
    hai ông Tarcôpxki và Rôlixơn, với tư cách là những kĩ sư lành nghề, được
    mời đến xem xét và đánh giá công việc trên toàn bộ mạng kênh rạch ở tỉnh
    En Phaium, trong vùng lân cận thành phố Mêđinét gần hồ Carôun, cũng như
    vù ng dọc theo sông Duxép và sông Nin. Họ sẽ ở lại đó chừng một tháng và
    đã được công ti của họ cho nghỉ phép để làm việc đó. Vì lễ Thiên Chúa
    giáng sinh sắp tới, mà cả hai đều không muốn chia tay với bọn trẻ, nên họ
    quyết định rằng cả Nen lẫn Xtas sẽ đi tới Mêđinét. Nghe tin này, bọn trẻ suý
    t nhảy vọt lên vì vui sướng. Cho tới nay, chúng chỉ mới được biết các thành
    phố nằm dọc kênh đào, đó là Izmailơ và Xuê, còn ngoài vùng kênh là các
    thành phố Alécxanđria và Cairô. Chúng cũng đã được tham quan các kim tự
    tháp khổng lồ và tượng con Nhân sư ở gần thành phố Cairô. Song đó chỉ
    toàn là những chuyến đi ngắ n ngủi, trong khi đó, muốn tới được Mêđinét En
    Phaium, chúng sẽ phải ngồi tàu hoả suốt cả một ngà y trời dọc theo sông Nin
    về phía Nam, rồi sau đó, từ En Vaxta trở đi, rẽ về phía Tây, về phía sa mạc
    Libi. Xtas đã được nghe nói về thành phố Mêđinét qua câu chuyện của các kĩ
    sư trẻ và các du khách từng được đi tới đó để săn bắn các loài chim nước
    cùng chó sói sa mạc và linh cẩu. Em biết rằng đó là một ốc đảo lớn nằm ở
    hữu ngạn sông Nin, nhưng không chịu ảnh hưởng của các trận lụt do con
    sóng này gây ra, mà có thuỷ hệ riêng, được tạo nên bởi hồ Carôun, sông
    Bahơrơ Duxép, cùng cả một hệ thống kênh rạch nhỏ khác nữa. Những người
    từng thấy cái ốc đảo này đều nói rằng mặc dù vùng đất này vẫ n thuộc về Ai
    Cập, nhưng do bị ngăn cách bởi sa mạc, nên nó tạo thành một chỉnh thể biệt
    lập hoàn toàn. Chỉ có riêng dòng sông Duxép, trông giống như một sợi dây
    mỏng mảnh màu xanh lơ là mối liên hệ giữa vùng này với thung lũng sông
    Nin. Sự dồi dào về nước, độ phì nhiêu của đất và sự phong phú tuyệt vời của

    hệ thực vật đã khiến cho vùng này gần như trở thành một thiên đường trên
    mặt đất, còn những di tích trải trên một diện tích rộng lớn của thành phố
    Crôcôđilôpôlix thì thu hút hàng trăm du khách tới đây viếng thăm. Riêng
    Xtas thì chủ yếu là bị hấp dẫn bởi bờ hồ Carôun đầy các loài chim nước và
    những chuyến đi săn chó sói trong vùng đồi núi hoang mạc Guêben En
    Xêđơmên.
    T
    Nhưng mãi mấy ngày nữa bọn trẻ mới bắt đầu được nghỉ lễ, mà sự kiểm
    tra công việc ở vùng kênh lại khẩn cấp, khiến các ông bố không thể chờ đợi
    mất thì giờ, nên họ bèn sắp xế p rằng họ sẽ khởi hành ngay, còn bọn trẻ sẽ
    cùng với cô Oliviơ xuất phát sau một tuần lễ. Cả Nen lẫn Xtas đều muốn
    được cù ng đi ngay, nhưng Xtas không dám đề nghị. Cả hai liền bắt đầu hỏi
    han đủ mọi thứ chuyện liên quan tới chuyến đi, và chúng lại náo nức vui
    sướng một lần nữa khi được biết rằng, chúng sẽ không phải nghỉ ngơi trong
    các khách sạn thiếu thốn tiện nghi của người Hy Lạp, mà sẽ nghỉ trong
    những chiếc lều do Hội du lịch của Cúc(1) cung cấp. Các du khách từ Cairô
    đến thăm Mêđinét, thậm chí dù họ có lưu lại đó một thời gian dài đi nữa,
    cũng thường sống theo cách đó. Công ti Cúc cung cấp cho họ lều trại, người
    phục vụ, lương thực dự trữ, lừa ngựa, lạc đà cùng người dẫn đường, nên du
    khách chẳng hề phải lo nghĩ chuyện gì cả. Quả tình đó là một phương thức
    du lịch khá tốn kém, nhưng ông Tarcôpxki và ông Rôlixơn không cần phải
    quan tâm tới chuyện đó, vì mọi chi phí sẽ do chính phủ Ai Cập đài thọ, chính
    phủ này đã mời họ tới đánh giá và kiểm tra công việc tại vùng kênh, với tư
    cách là những chuyên gia giỏi. Cô bé Nen vốn thích cưỡi lạc đà hơn tất cả
    mọi chuyện khác trên đời, nên được cha hứa rằng sẽ được nhận riêng một
    con tuấn mã có bướu, trên đó cô bé sẽ cùng với cô Oliviơ, bà Đina, hoặc
    thỉnh thoảng cùng với Xtas, tham gia vào những chuyến đi chơi trong những
    vùng sa mạc lân cận và tới Carôun. Ông Tarcôpxki hứa với Xtas rằng sẽ cho
    phép em đi săn chó sói ban đêm, và nếu như em mang được chứng chỉ học
    tập giỏi từ trường về, thì sẽ được thưởng một khẩu súng săn Anh chính hiệu,
    cùng với mọi thứ đồ nghề cần thiết cho thợ săn. Vì Xtas hoàn toàn tin chắc
    vào kết quả học tập của bản thân, nên ngay lập tức em bắt đầu tự cho mình

    đã là chủ nhân của một khẩu súng săn và tự nhủ sẽ dùng khẩu súng ấy thực
    hiện biết bao kì công để đời đời được ghi nhớ.
    Với lũ trẻ đang vui mừng, bữa ăn trôi qua trong những dự kiến và những
    câu chuyện như vậy. Riêng cô Oliviơ tỏ ra tương đối ít nhiệt tình nhất với
    chuyến đi, bởi cô ngại phải rời xa cái biệt thự đầy đủ tiện nghi ở Port Xaiđơ
    này; cô kinh hoàng khi nghĩ tới chuyện sẽ phải sống hàng mấy tuần trong
    lều, và nhất là chuyện cưỡi lạc đà. Cô đã được thưởng thức vài lần các
    chuyến đi kiểu ấy, điều mà bất cứ người dân châu Âu nào sống ở Ai Cập
    cũng đều làm thử vì tò mò. Song bao giờ các chuyến đi ấy cũng bị kết thúc
    chẳng mỹ mãn chút nào. Một lần, con lạc đà đứng lên sớm quá, khi cô chưa
    kịp ngồi vững trên bành, kết quả là cô bị tuột từ trên lưng nó xuống đất. Một
    lần khác, một chú lạc đà một bướu, hẳn không thuộc loại dễ khiến, đã lắc cô
    đến nỗi hai ngày sau cô vẫn chưa hoàn hồn. Tóm lại, nếu như Nen, sau vài
    chuyến được ông Rôlixơn cho phép đi như thế, cam đoan rằng trên đời này
    không có gì sướng hơn là việc cưỡi lạc đà, thì cô Oliviơ lại chỉ nhớ toàn
    những ấn tượng khó chịu mà thôi. Cô bảo rằng chuyện đó có thể là tốt đối
    với người Ả Rập, hoặc đối với một “cái kẹo” bé bỏng như Nen, cô bé bị lắc
    chẳng đáng là bao, chẳng khác nào một chú ruồi đỗ lên bướu lạc đà, song
    chẳng thích hợp chút nào đối với những người có tuổi, chẳng nhẹ nhàng gì,
    mà lại có xu hướng dễ bị say sóng. Còn nếu nói về Mêđinét En Phaium thì
    cô lại còn có thêm những lo lắng khác nữa. Ở Port Xaiđơ cũng như ở
    Alécxanđria, Cairô và trên toàn Ai Cập, người ta chẳng bàn tán gì khác hơn
    ngoài chuyện khởi loạn của Mahơđi và sự tàn ác của bọn phiến loạn. Cô
    Oliviơ không biết chính xác thành phố Mêđinét nằm ở đâu, nên cô lo ngại,
    không hiểu nó có nằm quá gần bọn Mahơđi hay chăng, và thế là cô bèn hỏi
    ông Rôlixơn điều đó.
    Song ông chỉ mỉm cười và nói:
    - Hiện nay Mahơđi đang bao vây thành phố Kháctum, trong đó tướng
    Goócđôn đang cố thủ. Cô có biết Mêđinét cách Kháctum bao xa không?
    - Tôi chẳng có khái niệm gì về chuyện đó cả.

    - Cũng xấp xỉ bằng từ đây tới đảo Xixin vậy, ông Tarcôpxki giải thích.
    - Vâng, gần bằng. - Xtas khẳng định. - Kháctumnằm tại điểm mà sông
    Nin Trắng và Xanh hoà vào nhau tạo thành một dòng chung. Từ chỗ chúng
    ta tới đó còn cách cả một khoảng không gian mênh mông của đất Ai Cập và
    toàn bộ miền Nubia.
    Tiếp đó em còn muốn thêm rằng dù cho Mêđinét có nằm gần vùng khởi
    loạn đi chăng nữa, thì đã có em tại đó với khẩu súng của mình, nhưng em
    chợt nhớ lại rằ ng đã nhiều lần bị cha quở mắng vì những lời huênh hoang
    tương tự, nên vội nín lặng.
    Hai ông bố lại bắt đầu nói sang chuyện Mahơđi và cuộc khởi loạn, vì đó
    là vấn đề quan trọng bậc nhất có quan hệ tới Ai Cập.
    Tin tức từ Kháctumđưa về rất xấu. Đã từ một tháng rưỡi nay, những bộ
    tộc man rợ bao vây chặt thành phố này, chính phủ Ai Cập và chính phủ Anh
    thì phản ứng rất chậm chạp. Mãi đến bây giờ đạo viện binh giải vây mới vừa
    lên đườ ng, và người ta e rằng, mặc dù có áng vinh quang, lòng can trường
    và năng lực của tướng Goócđôn, song thành phố quan trọng này sẽ bị lọt vào
    tay bọn dã man mất. Ông Tarcôpxki cũng có ý kiến như thế, ông ngờ rằng,
    Anh quốc thầm mong sao Mahơđi chiếm lấy Xuđan của Ai Cập để rồi sau đó
    họ sẽ chiếm lại miền đất này từ tay Mahơđi, và biến miền đất mênh mông
    này thành tài sản nước Anh. Song ông không trao đổi với ông Rôlixơn
    những điều nghi ngờ ấy, vì không muốn xú c phạm đến những tình cảm ái
    quốc của bạn.
    Gần cuối bữa ăn, Xtas hỏi tại sao chính phủ Ai Cập lại chiếm cứ tất cả
    các nước nằm về phía NamNubia là Coócđôphan, Đácphua và Xuđan cho
    đến tận Anbéc Nianđa, và tước đoạt quyền tự do của dân cư những miền đất
    đó. Ông Rôlixơn quyết định giải thích cho cậu bé: tất cả những gì mà chính
    phủ Ai Cập làm đều là thực hiện theo chỉ thị củ a Anh quốc, bởi nước Anh
    đang nắm quyền bảo hộ Ai Cập và về thực chất thì đang thống trị nước này
    một cách tuỳ ý.

    - Chính phủ Ai Cập không tước đoạt tự do của bất cứ một ai cả, - ông
    nói, - mà ngược lại, còn mang lại tự do cho hàng trăm nghìn, thậm chí hàng
    triệu người. Trong thời gian gần đây, ở Coócđôphan,ở Đácphua và Xuđan
    không có một quốc gia độc lập nào tồn tại cả. Chỉ thảng hoặc ở nơi này nơi
    nọ, một tiểu thủ lĩnh nào đó dùng bạo lực áp đặt chính quyền của mình sang
    một miền đất khác và chiếm đoạt vùng đất ấy, không thèm để ý tới nguyện
    vọng của các cư dân địa phương. Còn trên đại thể, những miền này quần tụ
    các bộ tộc độc lập của người Ả Rập pha da đen, nghĩa là những bộ tộc mang
    trong mình dòng máu của cả hai chủng người đó. Các bộ tộc này luôn luôn
    sống trong tình trạng chiến tranh liên miên. Họ tấn công nhau, cướp của
    nhau ngựa,lạc đà, súc vật có sừng và trước hết là nô lệ. Đồng thời họ phạm
    không biết bao nhiêu điều tàn bạo. Nhưng tệ hại nhất là bọn thương gia săn
    ngà voi và săn nô lệ. Chúng gần như tạo thành một giai cấp riêng biệt, bao
    gồm hầu hết các tộc trưởng và những thương nhân giàu có.
    Chúng tiến hành những cuộc săn lùng có vũ trang vào sâu trong lục địa
    Phi châu, cướp đi ngà voi và bắt sống hàng nghìn người, cả đàn ông, đàn bà,
    trẻ con. Chúng triệt phá các làng mạ c và trại ấp, phá hoại đồng ruộng, khiến
    máu chảy thành sông và giết hại không thương tiếc tất cả những ai muốn
    chống cự lại. Nhiều vùng ở miền nam Xuđan, Đácphua và Coócđôphan cũng
    như vùng thượng nguồn sông Nin cho tới tận hồ lớn, không còn một bóng
    người. Song bọn cướp Ả Rập này mỗi ngày tiến thêm một xa, đến nỗi cả
    vùng Trung Phi trở thành vùng đất của máu và nước mắt.
    Anh quốc, như cháu biết, vốn săn đuổi bọn thương nhân buôn bán nô lệ
    trên toàn thế giới, bèn đồng ý để chính phủ Ai Cập chiếm Coócđôphan,
    Đácphua và Xuđan, đó là cách duy nhất buộc lũ cướp phải từ bỏ cuộc buôn
    bán bẩn thỉu ấy đi, là cách duy nhất để giữ chúng trong vòng kiềm toả.
    Những người da đen bất hạnh thở phào nhẹ nhõm, những cuộc tấn công ăn
    cướp lắng dần, và người ta bắt đầu được sống có luật lệ. Dĩ nhiên tình hình
    ấy khiến bọn lái buôn không thoả mãn. Vậy nên, khi mà trong số chúng nó
    có tên Môhamét Áchmét, bây giờ được gọi là Mahơđi, tên này bắt đầu kêu
    gào phát động một cuộc chiến tranh tôn giáo về hình thức, lấy cớ rằng tại Ai
    Cập lòng tin vào đức Môhamét đang bị suy giảm, thì tất cả bọn chúng đều

    cầm lấy vũ khí. Và thế là bùng nổ cuộc chiến tranh khủng khiếp này, cuộc
    chiến tranh mà cho tới nay rất bất lợi cho người Ai Cập. Trong tất cả các trận
    chiến đấu, Mahơđi đều đánh bại quân chính phủ, chiếm Coócđôphan,
    Đácphua, Xuđan; hiện nay, các bộ tộc của hắn đang vây hãm Kháctum và
    tiến về phía Bắc tới tận biên giới Nubia.
    - Nhưng liệu hắn có tiến được tới Ai Cập không ạ? - Xtas hỏi.
    - Không, - ông Rôlixơn trả lời, - Mahơđi quả có nói rằng, hắn sẽ đánh
    chiếm toàn thế giới, song đó chỉ là một con người mông muội, không hiểu gì
    cả. Hắn sẽ không bao giờ chiếm được Ai Cập vì Anh quốc không khi nào
    cho phép chuyện đó xảy ra.
    - Thế nếu như quân đội Ai Cập hoàn toàn tan rã thì sao?
    - Khi đó quân đội Anh sẽ thay, mà quân đội Anhthì chưa từng có ai
    thắng nổi bao giờ.
    - Thế tại sao người Anh lại cho phép Mahơđichiếm ngần ấy nước?
    - Sao cháu biết là Anh quốc cho phép? - ÔngRôlixơn nói. - Anh quốc
    chẳng bao giờ phải vội vã cả, bởi Anh quốc là quốc gia vĩnh cửu.
    Câu chuyện bị gián đoạn bởi một người đầy tớ da đen vào báo rằng mụ
    Phátma Xmainơ tới và cầu xin được vào gặp.
    Phụ nữ phương Đông thường chỉ chăm lo việc nội trợ và rất ít khi rời
    khỏi “buồng the”. Chỉ những người nghèo mới ra chợ hoặc đi làm đồng, thí
    dụ như vợ của các fellach, tức là những nông dân Ai Cập, nhưng cả những
    người này cũng che mặt khi ra đường.
    Mặc dù mụ Phátma gốc người Xuđan, tại đó người ta không theo phong
    tục này, hơn nữa, trước đây cũng đã từng có lần mụ tới văn phòng ông
    Rôlixơn rồi, xong việc mụ đến đây, nhất là vào lúc đêm hôm thế này và lại
    tới nhà riêng, cũng gây nên một sự ngạc nhiên.

    - Chúng ta sẽ được biết điều mới về gã Xmainơđây, - ông Tarcôpxki nói.
    - Phải, - ông Rôlixơn đáp lại, đồng thời đưa tay ra hiệu cho người hầu
    dẫn mụ Phátma vào.
    Lát sau một phụ nữ Xuđan còn trẻ, người cao dong dỏng, mặt hoàn toàn
    không che mạ ng, với nước da rất sẫm màu, cặp mắt tuyệt đẹp, tuy hơi man
    dại và dữ tợn, bước vào. Vừa vào, mụ đã sụp mặt xuống đất, và khi ông
    Rôlixơn bảo mụ đứng dậy thì mụ chỉ ngẩng mặt lên nhưng vẫn tiếp tục quỳ.
    - Thưa ngài, - mụ nói, - cầu đức Ala ban phúc cho ngài, cho con cháu
    của ngài, ngôi nhà của ngài và súc vật của ngài.
    - Chị muốn gì? - Người kĩ sư hỏi.
    - Thưa ngài, con ...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách là cách đối thoại thầm lặng với những bộ óc vĩ đại nhất trong lịch sử." – René Descartes

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG HIỆP - TP. HỒ CHÍ MINH !