Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn
Trên sa mạc và trong rừng thẳm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:36' 09-03-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:36' 09-03-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
TRÊN SA MẠC VÀ TRONG
RỪNG THẲM
Henryk Sienkiewicz
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Giới Thiệu
Henryk Sienkiewicz (1846 - 1916) là nhà văn xuất sắc của Ba Lan thời
cận đại, một trong những văn hào lớn của thế giới (ông được tặng giải Noben
về văn học năm 1905). Các tác phẩm của ông tràn đầy tinh thần dân tộc, tình
yêu chính nghĩa và công lí, lòng nhân đạo, lên án mọi thứ bất công, mọi hình
thức áp bức bóc lột con người.
H
Ở Ba Lan, các tác phẩm của Sienkiewicz là sách gối đầu giường của
nhiều thế hệ. Trong những năm phát xít Hítle chiếm đóng Ba Lan, chúng ra
lệnh cấm đọc, cấm tàng trữ sách của Sienkievicz, tịch thu và đốt các tác
phẩm của văn hào, nhưng nhân dân Ba Lan vẫn bí mật truyền tay nhau đọc,
dù bao người vì thế phải bị treo cổ hoặc đưa vào trại tập trung.
Trên văn đàn thế giới, các truyện ngắn, truyệ n vừa cùng những tiểu
thuyết lịch sử rất xuất sắc của ông như: Bằng lửa và gươm, Trận Hồng thủy,
Ngài Vôlôđixki, Quo vadis, Hiệp sĩ thánh chiến... được xếp vào hàng các tác
phẩm kinh điển, được dịch ra trên bốn mươi thứ tiếng, nhiều lần được dựng
thành kịch, quay thành phim và rất được ưa chuộng.
Trong di sản văn học đồ sộ với hơn 60 tập sách của H.Sienkievicz, tiểu
thuyết chiếm một vị trí đặc biệt: đó là tác phẩm duy nhất mà văn hào viết
tặng cho bạn đọc thiếu nhi. Tác phẩm ra đời năm 1911, trong thời kì “hồi
xuân” của văn hào sau hơn 10 năm bệnh tật. Ngay sau khi xuất bản, tác phẩ
m đã được hoan nghênh nhiệt liệt, được tái bản ngay và được dịch ra nhiều
thứ tiếng nước ngoài. Và trong suốt gần một thế kỉ qua, nhiều thế hệ thanh
niên đã ngưỡng mộ và học tập Xtas, yêu mến tri kỉ với Nen, vui cười với sự
láu lỉnh của Cali.
Tác phẩm đã gợi nên khát vọng sống cao đẹp, khát vọng đi tới những
chân trời xa, thực hiện những kì tích phi thường, vượt mọi hiểm nguy, chiến
thắng mọi bất công tàn ác.
Tuy nhiên, trong sự phản ánh và đánh giá lịch sử của nhà văn có nhiều
điểm cần được xem xét lại. Điều cần lưu ý hơn cả có lẽ là cách nhìn nhận
của nhà văn về phong trào khởi nghĩa của các tín đồ Hồi giáo Xuđan dưới sự
lãnh đạocủa Mahơđi. Để hiểu rõ vấn đề này, ta cần đi ngược dòng lịch sử
vùng Đông Phi, nhất là lịch sử Xuđan.
H. Sienkievicz đã không nhìn nhận được bản chất và ý nghĩa tích cực
của cuộc khởi nghĩa, đánh giá phong trào cũng như bản thân các lãnh tụ của
cuộc khởi nghĩa một cách thiếu thiện cảm.
Nhưng điều đó không cản trở bạn đọc yêu thích cuốn sách, bởi vì là một
tác phẩm văn học rất hấp dẫn, và giá trị của món quà mà văn hào tặng cho
các bạn trẻ (và không chỉ cho các bạn trẻ) vẫn mãi mãi là tuyệt diệu!
TRÊN SA MẠC VÀ TRONG
RỪNG THẲM
Henryk Sienkiewicz
Chương 1:
-E m biết không, Nen, - Xtas Tarcôpxki nói với cô bạn gái người Anh bé
nhỏ của mình. - Hôm qua, cảnh sát đã tới bắt vợ viên quản lí Xmainơ cùng
với ba đứa con của mụ ta, chính cái mụ Phátma đã mấy lần tới văn phòng
của ba anh và ba em đấy.
- E
Còn Nen, cô bé đẹp như một bức tranh, thì ngước cặp mắt màu lục nhạt
của mình lên nhìn Xtas và hỏi vẻ vừa ngạc nhiên vừa sợ hãi:
- Thế họ bắt bà ta bỏ tù à, anh?
- Không, nhưng họ không cho phép mụ ta đi khỏi Xuđan.
Đồng thời có một nhân viên tới đây để canh không cho mụ ta rời một
bước khỏi Port Xaiđơ.
- Sao vậy hả anh?
Xtas, cậu thiếu niên vừa hết tuổi mười bốn, tuy rất yêu mến cô bạn gái
tám tuổi của mình, song vẫn xem đó chỉ là một đứa bé non nớt, liền nói với
vẻ mặt rất kiêu:
- Khi nào lớn như anh, em sẽ biết không những chỉ mọi chuyện xảy ra
dọc kênh đào này, từ Port Xaiđơ đến Xuê(1) mà còn cả trên toàn bộ đất Ai
Cập nữa. Thế em không biết gì về Mahơđi hay sao?
- Em nghe nói là ông ta xấu xí và không ngoan. Cậu bé mỉm cười thương
hại.
- Hắn ta có xấu xí hay không thì anh không biết. Những người dân
Xuđan thì quả quyết rằng hắn ta đẹp tuyệt vời. Nhưng bảo kẻ đã giết hại
ngần ấy ngườ i là “không ngoan” thì chỉ có thể là một cô nhóc con tám tuổi
mặc váy ngắn mà thôi. Đấy, chỉ ngắn tới đầu gối là cùng.
- Ba em bảo thế, ba em biết giỏi nhất.
- Ba bảo em thế vì nói cách khác thì em không hiểu nổi. Giá nói với anh
thì ba em đã chẳng bảo thế. Mahơđi còn tệ hơn cả một bầy cá sấu. Hiểu
chưa? “Không ngoan!” Hay thật! Nói như với bọn trẻ con mới đẻ ấy.
Song chợt nhìn thấy vẻ mặt xịu đi của cô bé, Xtas liền nín bặt, sau đó nói
tiếp:
- Nen, em biết đấy, anh đâu muốn nặng lời với em. Sẽ đến lúc cả em nữa
cũng sẽ mười bốn tuổi. Anh cam đoan với em như thế.
- Thế cơ! - Cô bé đáp với cái nhìn đầy lo lắng. Nhưng nếu như trước đó
Mahơđi tiến được vào Port Xaiđơ và ăn thịt em mất thì sao nào?
- Mahơđi không phải là kẻ ăn thịt người, nên hắn không ăn thịt dân
chúng mà chỉ giết hại họ thôi. Hắn cũng chẳng tiến nổi tới Port Xaiđơ, mà
nếu như hắn có tiến vào được và muốn giết em, thì trước hết hắn phải đấu
với anh đã.
Lời tuyên bố đó cùng với tiếng không khí được hít mạnh vào mũi Xtas
không hứa hẹn một điều gì tốt lành cho Mahơđi, đã khiến Nen yên tâm về sự
an toàn của bản thân mình.
- Em biết, - cô bé nói, - anh chẳng chịu nộp em đâu, phải không? Thế
nhưng tại sao người ta lại không cho bà Phátma rời khỏi Port Xaiđơ?
- Bởi vì mụ ta là em họ của Mahơđi. Chồng mụ ta, gã Xmainơ hứa với
chính phủ Ai Cập ở Cairô rằng y sẽ tới Xuđan, nơi Mahơđi đang ở, để xin tự
do cho tất cả những người Âu bị rơi vào tay hắn.
- Cái ông Xmainơ ấy là người tốt hả anh?
- Khoan đã nào. Ba em và ba anh, những người hiểu rõ Xmainơ, hoàn
toàn không tin hắn ta chút nào, và đã khuyên pasa(2) Nubarơ chớ có tin y.
Nhưng chính phủ vẫn đồng ý cử Xmainơ đi, và thế là đã nửa năm nay
Xmainơ ở tịt chỗ Mahơđi. Tù binh không những không được thả về mà lại
có tin từ Khactum cho biết rằng, bọn Mahơđi đối xử với họ ngày một tàn tệ
hơn, còn lão Xmainơ thì sau khi cuỗm tiền của chính phủ đã phản bội. Hắn
hoàn toàn ngả hẳn về phía Mahơđi và đã được phong tước emia2. Người ta
còn nói rằng, trong trận đánh khủng khiếp mà tướng Hicxơ bị tử trận, chính
Xmainơ đã chỉ huy pháo binh của quân Mahơđi, và hình như chính hắn là kẻ
đã dạy cho bọn Mahơđi cách sử dụng đạ i bác, loại vũ khí mà trước đó, vốn
là những kẻ mọi rợ, chúng hoàn toàn không biết đến. Bây giờ, lão Xmainơ
đang muốn đưa vợ con thoát khỏi Ai Cập, cho nên khi mụ Phátma, con
người ngay từ đầu hẳn đã biết mọi chuyện mà Xmainơ làm, muốn bí mật
chuồn khỏi Port Xaiđơ, thì chính phủ liền bắt giữ mụ ta cùng các con mụ lạ i.
- Nhưng chính phủ sẽ được gì ở bà Phátma và lũ con của ba ta hở anh?
- Chính phủ sẽ nói với Mahơđi: “Hãy trả cho chúng ta các tù binh của
ngươi, chúng ta sẽ trả mụ Phátma cho ngươi...” Câu chuyện tạm bị gián đoạn
vì lúc này Xtas chợt chú ý đến những con chim đang bay từ phía Êchtum Om
Pharagơ về phía hồ Mendalê. Chúng bay khá thấp, trong bầu không khí trong
vắt trông rõ mấy con bồ nông với chiếc cổ cong gập lại sát lưng đang khoan
thai vỗ những đôi cánh khổng lồ. Xtas dõi theo đường bay của chúng, em
ngẩng đầu lên, chạy mươi bước dọc theo bờ kênh, vừa chạy vừa vung vẩy
đôi tay.
- Nhìn kìa anh, có cả chim hồng hạc đang bay nữa kìa! - Nen bỗng kêu
lên.
Xtas đứng sững ngay lại, vì quả thực phía sau đàn bồ nông, nhưng cao
hơn chúng một tí, có thể trông thấy hai đoá hoa lớn màu hồng và màu đỏ
thắm dường như đang treo lơ lửng trên nền trời xanh thẳm.
- Hồng hạc! Chim hồng hạc!
- Chiều chiều chúng nó thường bay về tổ của chúng trên vùng đảo đấy, cậu bé thốt lên. - Ôi, giá mà anh có khẩu súng nhỉ.
- Anh bắn chúng nó làm gì cơ?
- Phụ nữ không thể hiểu được những chuyện ấy đâu. Nhưng thôi, chúng
mình đi tiếp đi, có thể sẽ trông thấy chúng nhiều hơn nữa chăng.
Vừa nói em vừa dắt tay cô bé; cả hai đi về phía bến tầu đầu tiên trên
kênh đào tiếp sau cảng PortXaiđơ. Theo sau lưng chúng là bà Đina, một phụ
nữ da đen, ngày trước từng là nhũ mẫu của cô bé Nen. Họ đi dọc bờ đập
ngăn nước hồ Mendalê với kênh đào, trong kênh lúc ấy đang có một chiếc
tầu thuỷ lớn chạy bằng hơi nước của Anh được hoa tiêu dẫn đi. Chiều xuống.
Mặt trời hãy còn cao nhưng đã ngả về phía hồ. Làn nước lợ mằn mặn của hồ
loang loáng ánh sáng và lung linh phản chiếu muôn sắc cầu vồng. Bên bờ
phía Ả Rập, trải dài đến hút tầm mắt là sa mạc trơ trụi, câm lặng, chết chóc,
đầy vẻ hằn thù. Giữa bầu trời thuỷ tinh dường như chết cứng và cái mênh
mông vô bờ bến của mặt cát gợn sóng không hề có một dấu hiệu gì của sự
sống. Trong lúc trên mặt kênh đào cuộc sống đang sôi sục, thuyền bè tấp
nập, vang rộn tiếng còi tầu, và trên hồ Mendalê hàng đàn hải âu và vịt trời
đang nhộn nhịp đảo chao trong ánh mặt trời, thì phía bên kia, phía bờ Ả Rập
lại giống hệt như xứ sở của cái chết. Chỉ khi mặt trời xuống thấp dần và ngày
càng ngả sang màu đỏ thì mặt cát mới dần dần nhuốm màu tim tím, màu tím
của những mầm cây non trong các khu rừng Ba Lan về mùa thu.
Trong khi đi về phía bến tầu, bọn trẻ còn trông thấy vài con chim hồng
hạc nữa mà chúng vui sướng ngắm không chán mắt.
Sau đó, bà Đina nói rằng đã đến lúc phải quay về nhà. Ở Ai Cập ban
ngày thường nóng nực (thậm chí cả trong mùa đông), nhưng ban đêm lại rất
lạnh, mà sức khoẻ của Nen thì lại đòi hỏi phải hết sức giữ gìn, nên ông
Rôlixơn, cha của cô bé, không cho phép cô ở lại trên bờ nước sau khi mặt
trời lặn. Họ bèn quay trở về thành phố.
Vila của ông Rôlixơn nằm ngay rìa thành phố, gần bờ kênh đào.
Khi mặt trời lặn xuống biển, họ đã về tới nhà. Một lát sau, kĩ sư
Tarcôpxki, cha của Xtas, được mời đến dự bữa cơm, cũng tới, và thế là cả
nhà, cùng với cô Oliviơ, cô gia sư người Pháp của Nen, ngồi vào bàn ăn.
Đã từ nhiều năm nay, ông Rôlixơn, một trong các giám đốc của công ti
kênh đào Xuê, và ông Vlađixlap Tarcôpxki, kĩ sư trưởng của công ti này, kết
thân với nhau. Cả hai đều goá vợ: bà Tarcôpxca, vốn dòng dõi người Pháp,
đã mất ngay từ khi Xtas vừa chào đời, nghĩa là hơn mười ba năm về trước,
còn mẹ của Nen thì qua đời vì bệnh phổi tại Hêluankhi cô bé mới lên ba. Ở
Port Xaiđơ, hai ông bố goá vợ sống trong hai ngôi nhà cạnh nhau, và do
công việc của mình, ngày nào họ cũ ng gặp nhau. Nỗi bất hạnh chung khiến
họ xích lại gần nhau hơn và làm cho tình bạn vốn có càng thêm bền chặt.
Ông Rôlixơn yêu Xtas như con đẻ, còn ông Tarcôpxki thì sẵn sàng nhảy
vào lửa và lao xuống nước vì cô bé Nen. Sau khi kết thú c công việc hàng
ngày, phút nghỉ ngơi thú vị nhất đối với họ là được trò chuyện về bọn trẻ, về
việc giáo dục và về tương lai của chúng. Trong những câu chuyện đó, ông
Rôlixơn thường khen ngợi năng khiếu, nghị lực và lò ng can đảm của Xtas,
còn ông Tarcôpxki thì lại say sưa với khuôn mặt thiên thần ngọt ngào của
Nen. Và cả hai điều ấy đều là sự thật. Tuy hơi kiêu căng và hơi khoác lác
một chút, nhưng Xtas học rất giỏi và các thầy giáo ở trường học dạy tiếng
Anh tại Port Xaiđơ, nơi cậu bé học, đều công nhận rằng em có những năng
khiếu khác thường. Nếu nói về lòng dũng cảm và tính tháo vát thì em được
thừa hưởng ở người cha, vì ông Tarcôpxki có được những đức tính ấy ở trình
độ cao, và cũng chính nhờ có chúng mà ông đã vươn tới cương vị cao cấp
hiện tại.
Năm 1863(4), ông đã chiến đấu suốt mười một tháng liền không ngơi
nghỉ, sau đó ông bị thương, bị bắ t, rồi bị đầy đi Xibia, ông chạy trốn về Ba
Lan rồi thoát ra nước ngoài. Trước khi tham gia khởi nghĩa, ông đã tốt
nghiệp kĩ sư, nhưng sau đó, ông còn dành thêm một năm nữa để nghiên cứu
thuỷ lực học. Rồi sau đó, ông tìm được việc làm ở kênh đào, và chỉ trong vài
năm, khi người ta đã đánh giá được sự am tường công việc, nghị lực cùng
tính cần cù của ông, ông được nhậ n cương vị kĩ sư trưởng cao quý ấy.
Xtas được sinh ra, nuôi dưỡng và lớn đến năm mười bốn tuổi ngay tại
hải cảng Port Xaiđơ trên kênh đào, nên các kĩ sư, bạn đồng nghiệp của cha
em, thường gọi em là “đứa con của sa mạc”.
Khi đang đi học, thỉnh thoảng, trong những dịp nghỉ hè hay nghỉ lễ, em
lại được cùng với cha hoặc ông Rôlixơn tham gia các chuyến đi công vụ của
họ từ Port Xaiđơ đến tận Xuê để kiểm tra công việc trên bờ kênh cùng việc
nạo vét lòng kênh. Em quen hết thảy mọi người, từ các kĩ sư và nhân viên
thuế quan, đến công nhân, những người Ả Rập và người da đen. Em “lùng
sục” khắp nơi mọi chốn, tại bất cứ nơi nào đặt chân tới, và dần dần tiến hành
những chuyến đi dài dọc theo bờ kênh, đi thuyền trên hồ Mendalê và nhiều
lần bơi thuyền ra khá xa.Em đã từng vượt sang phía bờ Ả Rập, và nhảy đại
lên lưng một con ngựa của ai đó, hoặc nếu thiếu ngựa thì lạc đà hay thậm chí
cả lừa cũ ng được, đóng vai một tay kị sĩ dũng cảm của sa mạc. Tóm lại, nói
như ông Tarcôpxki, em “chui rúc” khắ p mọi nơi, và hễ rảnh rỗi một chút
ngoài giờ học là lại lần ngay ra bờ nước.
Người cha không ngăn cản chuyện đó, vì ông hiểu rằng, việc chèo
thuyền, cưỡi ngựa và sự tiếp xúc thường xuyên với không khí trong lành sẽ
củng cố thêm sức khoẻ của đứa trẻ, đồng thời phát triển tính tháo vát của nó.
Xtas cao và khoẻ hơn nhiều so với những đứa trẻ cùng tuổi, và chỉ cần nhìn
vào cặp mắt cậu bé cũng có thể dễ dàng đoán được rằng, nếu lâm vào một
chuyện hiểm nguy nào đó thì chắc hẳn cậu bé sẽ dễ phạm sai lầm do quá
hăng hái hơn là vì khiếp sợ. Mới mười bốn tuổi đầu, em đã là một trong
những tay bơi lội giỏi nhất ở Port Xaiđơ, điều này không phải là chuyện
xoàng,bởi dân Ả Rập và người da đen vốn bơi lội giỏi như cá. Trong khi nhả
đạn vào lũ vịt trời và ngỗng trời Ai Cập bằng khẩu súng săn cỡ nhỏ, cậu bé
đã rèn luyện cho mình có được cánh tay và con mắt bắn trăm phát trăm
trúng. Em ước ao một ngày nào đó sẽ được đi săn các loài thú lớn ở Trung
Phi, háo hức lắng nghe chuyện những người Xuđan làm thuê ở vùng kênh
đào, những người này đã từng gặp thú dữ và bọn thú da dầy khổng lồ tại quê
hương họ.
Điều này còn có thêm một cái lợi nữa là vừa nghe chuyện, cậu bé vừa
học được ngôn ngữ của họ. Kênh đào Xuê không những chỉ đào thông là
xong mà còn đòi hỏi phải thường xuyên chăm lo tu sửa, vì nếu không thì chỉ
trong vòng một năm thôi, cát từ các sa mạc nằm dọc hai bờ kênh sẽ lấp biến
nó đi. Cái công trình khổng lồ này của ông Lécxép(5) kéo theo một sự lao
động liên tục và đòi hỏi phải thường xuyên cảnh giác. Do vậy, cho tới nay,
có hàng loạt máy móc khổng lồ cùng hàng nghìn công nhân, dướ i sự giá m
sát của các kĩ sư thành thạo công việc, lao động nạo nét lòng kênh. Để đào
thông con kênh này đã từng phải dùng tới sức của hai mươi lăm nghìn người
lao động. Giờ đây, khi công trình đã hoàn thành và lại được trang bị những
máy móc hoàn thiện hơn, thì cần ít người hơn hẳn so với trước kia, song số
lượng nhân công cho đến nay vẫn còn rất lớn. Trong đó, đại đa số là cư dân
trong vùng, cũng không thiếu mặt dân Nubia, Xuđan, Xômali cùng nhiều
dân tộc da đen khác sinh sống ở vùng sông Nin Trắ ng và sông Nin Xanh,
nghĩa là trong những vùng thuộc phạm vi cai trị của chính phủ Ai Cập, trước
khi nổ ra cuộc khởi loạn của Mahơđi. Xtas sống thân mật với mọi người và
cũng giống như những người dân Ba Lan khác, vốn sẵn có năng khiếu ngoại
ngữ, em nắm được nhiều thứ thổ ngữ của họ mà chính bản thân em cũng
không rõ từ khi nào và tại làm sao nữa. Sinhtrưởng ở Ai Cập, em nói tiếng Ả
Rập như một Người Ả Rập chính cống. Nhờ có những người Dandiba
thường được thuê làm thợ đốt lò phục vụ các thứ máy móc, em học được
tiếng Kixvahili, thứ tiếng rất phổ biến trong toàn bộ miền Trung Phi, thậm
chí em có thể trò chuyện với những người da đen Đinnếch và Sinlúc sinh
sống ở vùng hạ lưu sông Nin, phía dưới Phasôđa(4). Ngoài ra, em nói thạo
tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Ba Lan, vì cha em một người yêu nước nhiệt
thành, rất quan tâm đến chuyện làm sao cho cậu bé nói được tiếng nói quê
hương. Dĩ nhiên, Xtas coi tiếng Ba Lan là thứ ngôn ngữ hay nhất trên thế
giới, và cậu bé đã dạy cho bé Nen nói tiếng Ba Lan với không ít thành công.
Có điều em không làm sao dạy cho cô bé phát âm được đúng tên em là Xtas
chứ không phải “Xtex”. Cũng chính vì lí do đó mà đôi khi giữa hai đứa trẻ
xảy ra chuyện bất hoà, song những chuyện bất hoà đó cũng chỉ kéo dài cho
tới khi cặp mắt cô bé bắt đầu long lanh những giọt lệ mà thôi. Và khi ấy,
“Xtex” bèn xin lỗi, đồng thời thường tự giận mình.
Song cậu bé có một thói quen xấu là hay tỏ vẻ khinh thường khi nói về
chuyện Nen mới lên tám và so sánh điều đó với tuổi tác và kinh nghiệm sống
của bản thân mình. Em cho rằng một thiếu niên mười bốn tuổi, dẫu vẫn chưa
hoàn toàn là người lớn, nhưng đã không còn là trẻ con nữa, và đã có khả
năng thực hiện được mọi hành động anh hùng, đặc biệt là khi thiếu niên ấy
mang trong mình dòng máu Ba Lan hoà dòng máu Pháp. Em khao khát một
lúc nào đó sẽ có hoàn cảnh để thực hiện những hành động anh hùng như thế,
nhất là để bảo vệ Nen. Cả hai thường tưởng tượng ra đủ mọi loại hiểm nguy
khác nhau, và Xtas thường phải trả lời các câu hỏi của Nen xem em sẽ làm
gì, nếu như nói thí dụ - một con cá sấu dài mười mét, hoặc một con bọ cạp to
bằng con chó bò qua cửa sổ vào nhà cô bé. Song cả hai không một phút nào
ngờ được rằng, chẳng bao lâu nữa, thực tế kinh khủng sẽ vượt xa mọi điều
tưởng tượng của chúng.
-----------------------------1 Kênh đào Xuê là một trong những kênh đào quan trọng nhấtthế giới.
Kênh ở Đông Bắc Ai Cập, nối thông Địa Trung Hải với Hồng Hải. Dài 160
km. Các hải cảng chính ở hai đầu kênh là PortXaiđơ và Xuê. Được xây dựng
trong khoảng 1859-1869 dưới sự chủ trì của viện sĩ người Pháp Ph.M.
Lecxép (ND)
2 Pasa (hay Basa): tước hiệu vương hầu ở các nước Trung Đông.
3 Emia: chức thủ lĩnh quân sự ở các nước Trung Đông.
4 Năm 1863, nhân dân Ba Lan khởi nghĩa chống lại sự thống trị của bọn
Nga hoàng.
Cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ tháng Giêng năm 1863 và kéo dài đến mùa
thu năm 1864.
5 M.Lecxép (1805-1894): nhà ngoại giao và doanh nghiệp người Pháp viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp, người tổ chức đàokênh Xuê (18591869). Ông cũng là người tổ chức đào kênh Panama (1879-1889) và chính vì
việc này mà ông bị phá sản.
6 Phasôđa (nay là Côđốc) - thành phố ở Xuđan.
TRÊN SA MẠC VÀ TRONG
RỪNG THẲM
Henryk Sienkiewicz
Chương 2:
Trong bữa cơm, có một tin vui chờ đón hai đứa trẻ. Vài tuần trước đây,
hai ông Tarcôpxki và Rôlixơn, với tư cách là những kĩ sư lành nghề, được
mời đến xem xét và đánh giá công việc trên toàn bộ mạng kênh rạch ở tỉnh
En Phaium, trong vùng lân cận thành phố Mêđinét gần hồ Carôun, cũng như
vù ng dọc theo sông Duxép và sông Nin. Họ sẽ ở lại đó chừng một tháng và
đã được công ti của họ cho nghỉ phép để làm việc đó. Vì lễ Thiên Chúa
giáng sinh sắp tới, mà cả hai đều không muốn chia tay với bọn trẻ, nên họ
quyết định rằng cả Nen lẫn Xtas sẽ đi tới Mêđinét. Nghe tin này, bọn trẻ suý
t nhảy vọt lên vì vui sướng. Cho tới nay, chúng chỉ mới được biết các thành
phố nằm dọc kênh đào, đó là Izmailơ và Xuê, còn ngoài vùng kênh là các
thành phố Alécxanđria và Cairô. Chúng cũng đã được tham quan các kim tự
tháp khổng lồ và tượng con Nhân sư ở gần thành phố Cairô. Song đó chỉ
toàn là những chuyến đi ngắ n ngủi, trong khi đó, muốn tới được Mêđinét En
Phaium, chúng sẽ phải ngồi tàu hoả suốt cả một ngà y trời dọc theo sông Nin
về phía Nam, rồi sau đó, từ En Vaxta trở đi, rẽ về phía Tây, về phía sa mạc
Libi. Xtas đã được nghe nói về thành phố Mêđinét qua câu chuyện của các kĩ
sư trẻ và các du khách từng được đi tới đó để săn bắn các loài chim nước
cùng chó sói sa mạc và linh cẩu. Em biết rằng đó là một ốc đảo lớn nằm ở
hữu ngạn sông Nin, nhưng không chịu ảnh hưởng của các trận lụt do con
sóng này gây ra, mà có thuỷ hệ riêng, được tạo nên bởi hồ Carôun, sông
Bahơrơ Duxép, cùng cả một hệ thống kênh rạch nhỏ khác nữa. Những người
từng thấy cái ốc đảo này đều nói rằng mặc dù vùng đất này vẫ n thuộc về Ai
Cập, nhưng do bị ngăn cách bởi sa mạc, nên nó tạo thành một chỉnh thể biệt
lập hoàn toàn. Chỉ có riêng dòng sông Duxép, trông giống như một sợi dây
mỏng mảnh màu xanh lơ là mối liên hệ giữa vùng này với thung lũng sông
Nin. Sự dồi dào về nước, độ phì nhiêu của đất và sự phong phú tuyệt vời của
hệ thực vật đã khiến cho vùng này gần như trở thành một thiên đường trên
mặt đất, còn những di tích trải trên một diện tích rộng lớn của thành phố
Crôcôđilôpôlix thì thu hút hàng trăm du khách tới đây viếng thăm. Riêng
Xtas thì chủ yếu là bị hấp dẫn bởi bờ hồ Carôun đầy các loài chim nước và
những chuyến đi săn chó sói trong vùng đồi núi hoang mạc Guêben En
Xêđơmên.
T
Nhưng mãi mấy ngày nữa bọn trẻ mới bắt đầu được nghỉ lễ, mà sự kiểm
tra công việc ở vùng kênh lại khẩn cấp, khiến các ông bố không thể chờ đợi
mất thì giờ, nên họ bèn sắp xế p rằng họ sẽ khởi hành ngay, còn bọn trẻ sẽ
cùng với cô Oliviơ xuất phát sau một tuần lễ. Cả Nen lẫn Xtas đều muốn
được cù ng đi ngay, nhưng Xtas không dám đề nghị. Cả hai liền bắt đầu hỏi
han đủ mọi thứ chuyện liên quan tới chuyến đi, và chúng lại náo nức vui
sướng một lần nữa khi được biết rằng, chúng sẽ không phải nghỉ ngơi trong
các khách sạn thiếu thốn tiện nghi của người Hy Lạp, mà sẽ nghỉ trong
những chiếc lều do Hội du lịch của Cúc(1) cung cấp. Các du khách từ Cairô
đến thăm Mêđinét, thậm chí dù họ có lưu lại đó một thời gian dài đi nữa,
cũng thường sống theo cách đó. Công ti Cúc cung cấp cho họ lều trại, người
phục vụ, lương thực dự trữ, lừa ngựa, lạc đà cùng người dẫn đường, nên du
khách chẳng hề phải lo nghĩ chuyện gì cả. Quả tình đó là một phương thức
du lịch khá tốn kém, nhưng ông Tarcôpxki và ông Rôlixơn không cần phải
quan tâm tới chuyện đó, vì mọi chi phí sẽ do chính phủ Ai Cập đài thọ, chính
phủ này đã mời họ tới đánh giá và kiểm tra công việc tại vùng kênh, với tư
cách là những chuyên gia giỏi. Cô bé Nen vốn thích cưỡi lạc đà hơn tất cả
mọi chuyện khác trên đời, nên được cha hứa rằng sẽ được nhận riêng một
con tuấn mã có bướu, trên đó cô bé sẽ cùng với cô Oliviơ, bà Đina, hoặc
thỉnh thoảng cùng với Xtas, tham gia vào những chuyến đi chơi trong những
vùng sa mạc lân cận và tới Carôun. Ông Tarcôpxki hứa với Xtas rằng sẽ cho
phép em đi săn chó sói ban đêm, và nếu như em mang được chứng chỉ học
tập giỏi từ trường về, thì sẽ được thưởng một khẩu súng săn Anh chính hiệu,
cùng với mọi thứ đồ nghề cần thiết cho thợ săn. Vì Xtas hoàn toàn tin chắc
vào kết quả học tập của bản thân, nên ngay lập tức em bắt đầu tự cho mình
đã là chủ nhân của một khẩu súng săn và tự nhủ sẽ dùng khẩu súng ấy thực
hiện biết bao kì công để đời đời được ghi nhớ.
Với lũ trẻ đang vui mừng, bữa ăn trôi qua trong những dự kiến và những
câu chuyện như vậy. Riêng cô Oliviơ tỏ ra tương đối ít nhiệt tình nhất với
chuyến đi, bởi cô ngại phải rời xa cái biệt thự đầy đủ tiện nghi ở Port Xaiđơ
này; cô kinh hoàng khi nghĩ tới chuyện sẽ phải sống hàng mấy tuần trong
lều, và nhất là chuyện cưỡi lạc đà. Cô đã được thưởng thức vài lần các
chuyến đi kiểu ấy, điều mà bất cứ người dân châu Âu nào sống ở Ai Cập
cũng đều làm thử vì tò mò. Song bao giờ các chuyến đi ấy cũng bị kết thúc
chẳng mỹ mãn chút nào. Một lần, con lạc đà đứng lên sớm quá, khi cô chưa
kịp ngồi vững trên bành, kết quả là cô bị tuột từ trên lưng nó xuống đất. Một
lần khác, một chú lạc đà một bướu, hẳn không thuộc loại dễ khiến, đã lắc cô
đến nỗi hai ngày sau cô vẫn chưa hoàn hồn. Tóm lại, nếu như Nen, sau vài
chuyến được ông Rôlixơn cho phép đi như thế, cam đoan rằng trên đời này
không có gì sướng hơn là việc cưỡi lạc đà, thì cô Oliviơ lại chỉ nhớ toàn
những ấn tượng khó chịu mà thôi. Cô bảo rằng chuyện đó có thể là tốt đối
với người Ả Rập, hoặc đối với một “cái kẹo” bé bỏng như Nen, cô bé bị lắc
chẳng đáng là bao, chẳng khác nào một chú ruồi đỗ lên bướu lạc đà, song
chẳng thích hợp chút nào đối với những người có tuổi, chẳng nhẹ nhàng gì,
mà lại có xu hướng dễ bị say sóng. Còn nếu nói về Mêđinét En Phaium thì
cô lại còn có thêm những lo lắng khác nữa. Ở Port Xaiđơ cũng như ở
Alécxanđria, Cairô và trên toàn Ai Cập, người ta chẳng bàn tán gì khác hơn
ngoài chuyện khởi loạn của Mahơđi và sự tàn ác của bọn phiến loạn. Cô
Oliviơ không biết chính xác thành phố Mêđinét nằm ở đâu, nên cô lo ngại,
không hiểu nó có nằm quá gần bọn Mahơđi hay chăng, và thế là cô bèn hỏi
ông Rôlixơn điều đó.
Song ông chỉ mỉm cười và nói:
- Hiện nay Mahơđi đang bao vây thành phố Kháctum, trong đó tướng
Goócđôn đang cố thủ. Cô có biết Mêđinét cách Kháctum bao xa không?
- Tôi chẳng có khái niệm gì về chuyện đó cả.
- Cũng xấp xỉ bằng từ đây tới đảo Xixin vậy, ông Tarcôpxki giải thích.
- Vâng, gần bằng. - Xtas khẳng định. - Kháctumnằm tại điểm mà sông
Nin Trắng và Xanh hoà vào nhau tạo thành một dòng chung. Từ chỗ chúng
ta tới đó còn cách cả một khoảng không gian mênh mông của đất Ai Cập và
toàn bộ miền Nubia.
Tiếp đó em còn muốn thêm rằng dù cho Mêđinét có nằm gần vùng khởi
loạn đi chăng nữa, thì đã có em tại đó với khẩu súng của mình, nhưng em
chợt nhớ lại rằ ng đã nhiều lần bị cha quở mắng vì những lời huênh hoang
tương tự, nên vội nín lặng.
Hai ông bố lại bắt đầu nói sang chuyện Mahơđi và cuộc khởi loạn, vì đó
là vấn đề quan trọng bậc nhất có quan hệ tới Ai Cập.
Tin tức từ Kháctumđưa về rất xấu. Đã từ một tháng rưỡi nay, những bộ
tộc man rợ bao vây chặt thành phố này, chính phủ Ai Cập và chính phủ Anh
thì phản ứng rất chậm chạp. Mãi đến bây giờ đạo viện binh giải vây mới vừa
lên đườ ng, và người ta e rằng, mặc dù có áng vinh quang, lòng can trường
và năng lực của tướng Goócđôn, song thành phố quan trọng này sẽ bị lọt vào
tay bọn dã man mất. Ông Tarcôpxki cũng có ý kiến như thế, ông ngờ rằng,
Anh quốc thầm mong sao Mahơđi chiếm lấy Xuđan của Ai Cập để rồi sau đó
họ sẽ chiếm lại miền đất này từ tay Mahơđi, và biến miền đất mênh mông
này thành tài sản nước Anh. Song ông không trao đổi với ông Rôlixơn
những điều nghi ngờ ấy, vì không muốn xú c phạm đến những tình cảm ái
quốc của bạn.
Gần cuối bữa ăn, Xtas hỏi tại sao chính phủ Ai Cập lại chiếm cứ tất cả
các nước nằm về phía NamNubia là Coócđôphan, Đácphua và Xuđan cho
đến tận Anbéc Nianđa, và tước đoạt quyền tự do của dân cư những miền đất
đó. Ông Rôlixơn quyết định giải thích cho cậu bé: tất cả những gì mà chính
phủ Ai Cập làm đều là thực hiện theo chỉ thị củ a Anh quốc, bởi nước Anh
đang nắm quyền bảo hộ Ai Cập và về thực chất thì đang thống trị nước này
một cách tuỳ ý.
- Chính phủ Ai Cập không tước đoạt tự do của bất cứ một ai cả, - ông
nói, - mà ngược lại, còn mang lại tự do cho hàng trăm nghìn, thậm chí hàng
triệu người. Trong thời gian gần đây, ở Coócđôphan,ở Đácphua và Xuđan
không có một quốc gia độc lập nào tồn tại cả. Chỉ thảng hoặc ở nơi này nơi
nọ, một tiểu thủ lĩnh nào đó dùng bạo lực áp đặt chính quyền của mình sang
một miền đất khác và chiếm đoạt vùng đất ấy, không thèm để ý tới nguyện
vọng của các cư dân địa phương. Còn trên đại thể, những miền này quần tụ
các bộ tộc độc lập của người Ả Rập pha da đen, nghĩa là những bộ tộc mang
trong mình dòng máu của cả hai chủng người đó. Các bộ tộc này luôn luôn
sống trong tình trạng chiến tranh liên miên. Họ tấn công nhau, cướp của
nhau ngựa,lạc đà, súc vật có sừng và trước hết là nô lệ. Đồng thời họ phạm
không biết bao nhiêu điều tàn bạo. Nhưng tệ hại nhất là bọn thương gia săn
ngà voi và săn nô lệ. Chúng gần như tạo thành một giai cấp riêng biệt, bao
gồm hầu hết các tộc trưởng và những thương nhân giàu có.
Chúng tiến hành những cuộc săn lùng có vũ trang vào sâu trong lục địa
Phi châu, cướp đi ngà voi và bắt sống hàng nghìn người, cả đàn ông, đàn bà,
trẻ con. Chúng triệt phá các làng mạ c và trại ấp, phá hoại đồng ruộng, khiến
máu chảy thành sông và giết hại không thương tiếc tất cả những ai muốn
chống cự lại. Nhiều vùng ở miền nam Xuđan, Đácphua và Coócđôphan cũng
như vùng thượng nguồn sông Nin cho tới tận hồ lớn, không còn một bóng
người. Song bọn cướp Ả Rập này mỗi ngày tiến thêm một xa, đến nỗi cả
vùng Trung Phi trở thành vùng đất của máu và nước mắt.
Anh quốc, như cháu biết, vốn săn đuổi bọn thương nhân buôn bán nô lệ
trên toàn thế giới, bèn đồng ý để chính phủ Ai Cập chiếm Coócđôphan,
Đácphua và Xuđan, đó là cách duy nhất buộc lũ cướp phải từ bỏ cuộc buôn
bán bẩn thỉu ấy đi, là cách duy nhất để giữ chúng trong vòng kiềm toả.
Những người da đen bất hạnh thở phào nhẹ nhõm, những cuộc tấn công ăn
cướp lắng dần, và người ta bắt đầu được sống có luật lệ. Dĩ nhiên tình hình
ấy khiến bọn lái buôn không thoả mãn. Vậy nên, khi mà trong số chúng nó
có tên Môhamét Áchmét, bây giờ được gọi là Mahơđi, tên này bắt đầu kêu
gào phát động một cuộc chiến tranh tôn giáo về hình thức, lấy cớ rằng tại Ai
Cập lòng tin vào đức Môhamét đang bị suy giảm, thì tất cả bọn chúng đều
cầm lấy vũ khí. Và thế là bùng nổ cuộc chiến tranh khủng khiếp này, cuộc
chiến tranh mà cho tới nay rất bất lợi cho người Ai Cập. Trong tất cả các trận
chiến đấu, Mahơđi đều đánh bại quân chính phủ, chiếm Coócđôphan,
Đácphua, Xuđan; hiện nay, các bộ tộc của hắn đang vây hãm Kháctum và
tiến về phía Bắc tới tận biên giới Nubia.
- Nhưng liệu hắn có tiến được tới Ai Cập không ạ? - Xtas hỏi.
- Không, - ông Rôlixơn trả lời, - Mahơđi quả có nói rằng, hắn sẽ đánh
chiếm toàn thế giới, song đó chỉ là một con người mông muội, không hiểu gì
cả. Hắn sẽ không bao giờ chiếm được Ai Cập vì Anh quốc không khi nào
cho phép chuyện đó xảy ra.
- Thế nếu như quân đội Ai Cập hoàn toàn tan rã thì sao?
- Khi đó quân đội Anh sẽ thay, mà quân đội Anhthì chưa từng có ai
thắng nổi bao giờ.
- Thế tại sao người Anh lại cho phép Mahơđichiếm ngần ấy nước?
- Sao cháu biết là Anh quốc cho phép? - ÔngRôlixơn nói. - Anh quốc
chẳng bao giờ phải vội vã cả, bởi Anh quốc là quốc gia vĩnh cửu.
Câu chuyện bị gián đoạn bởi một người đầy tớ da đen vào báo rằng mụ
Phátma Xmainơ tới và cầu xin được vào gặp.
Phụ nữ phương Đông thường chỉ chăm lo việc nội trợ và rất ít khi rời
khỏi “buồng the”. Chỉ những người nghèo mới ra chợ hoặc đi làm đồng, thí
dụ như vợ của các fellach, tức là những nông dân Ai Cập, nhưng cả những
người này cũng che mặt khi ra đường.
Mặc dù mụ Phátma gốc người Xuđan, tại đó người ta không theo phong
tục này, hơn nữa, trước đây cũng đã từng có lần mụ tới văn phòng ông
Rôlixơn rồi, xong việc mụ đến đây, nhất là vào lúc đêm hôm thế này và lại
tới nhà riêng, cũng gây nên một sự ngạc nhiên.
- Chúng ta sẽ được biết điều mới về gã Xmainơđây, - ông Tarcôpxki nói.
- Phải, - ông Rôlixơn đáp lại, đồng thời đưa tay ra hiệu cho người hầu
dẫn mụ Phátma vào.
Lát sau một phụ nữ Xuđan còn trẻ, người cao dong dỏng, mặt hoàn toàn
không che mạ ng, với nước da rất sẫm màu, cặp mắt tuyệt đẹp, tuy hơi man
dại và dữ tợn, bước vào. Vừa vào, mụ đã sụp mặt xuống đất, và khi ông
Rôlixơn bảo mụ đứng dậy thì mụ chỉ ngẩng mặt lên nhưng vẫn tiếp tục quỳ.
- Thưa ngài, - mụ nói, - cầu đức Ala ban phúc cho ngài, cho con cháu
của ngài, ngôi nhà của ngài và súc vật của ngài.
- Chị muốn gì? - Người kĩ sư hỏi.
- Thưa ngài, con ...
RỪNG THẲM
Henryk Sienkiewicz
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Giới Thiệu
Henryk Sienkiewicz (1846 - 1916) là nhà văn xuất sắc của Ba Lan thời
cận đại, một trong những văn hào lớn của thế giới (ông được tặng giải Noben
về văn học năm 1905). Các tác phẩm của ông tràn đầy tinh thần dân tộc, tình
yêu chính nghĩa và công lí, lòng nhân đạo, lên án mọi thứ bất công, mọi hình
thức áp bức bóc lột con người.
H
Ở Ba Lan, các tác phẩm của Sienkiewicz là sách gối đầu giường của
nhiều thế hệ. Trong những năm phát xít Hítle chiếm đóng Ba Lan, chúng ra
lệnh cấm đọc, cấm tàng trữ sách của Sienkievicz, tịch thu và đốt các tác
phẩm của văn hào, nhưng nhân dân Ba Lan vẫn bí mật truyền tay nhau đọc,
dù bao người vì thế phải bị treo cổ hoặc đưa vào trại tập trung.
Trên văn đàn thế giới, các truyện ngắn, truyệ n vừa cùng những tiểu
thuyết lịch sử rất xuất sắc của ông như: Bằng lửa và gươm, Trận Hồng thủy,
Ngài Vôlôđixki, Quo vadis, Hiệp sĩ thánh chiến... được xếp vào hàng các tác
phẩm kinh điển, được dịch ra trên bốn mươi thứ tiếng, nhiều lần được dựng
thành kịch, quay thành phim và rất được ưa chuộng.
Trong di sản văn học đồ sộ với hơn 60 tập sách của H.Sienkievicz, tiểu
thuyết chiếm một vị trí đặc biệt: đó là tác phẩm duy nhất mà văn hào viết
tặng cho bạn đọc thiếu nhi. Tác phẩm ra đời năm 1911, trong thời kì “hồi
xuân” của văn hào sau hơn 10 năm bệnh tật. Ngay sau khi xuất bản, tác phẩ
m đã được hoan nghênh nhiệt liệt, được tái bản ngay và được dịch ra nhiều
thứ tiếng nước ngoài. Và trong suốt gần một thế kỉ qua, nhiều thế hệ thanh
niên đã ngưỡng mộ và học tập Xtas, yêu mến tri kỉ với Nen, vui cười với sự
láu lỉnh của Cali.
Tác phẩm đã gợi nên khát vọng sống cao đẹp, khát vọng đi tới những
chân trời xa, thực hiện những kì tích phi thường, vượt mọi hiểm nguy, chiến
thắng mọi bất công tàn ác.
Tuy nhiên, trong sự phản ánh và đánh giá lịch sử của nhà văn có nhiều
điểm cần được xem xét lại. Điều cần lưu ý hơn cả có lẽ là cách nhìn nhận
của nhà văn về phong trào khởi nghĩa của các tín đồ Hồi giáo Xuđan dưới sự
lãnh đạocủa Mahơđi. Để hiểu rõ vấn đề này, ta cần đi ngược dòng lịch sử
vùng Đông Phi, nhất là lịch sử Xuđan.
H. Sienkievicz đã không nhìn nhận được bản chất và ý nghĩa tích cực
của cuộc khởi nghĩa, đánh giá phong trào cũng như bản thân các lãnh tụ của
cuộc khởi nghĩa một cách thiếu thiện cảm.
Nhưng điều đó không cản trở bạn đọc yêu thích cuốn sách, bởi vì là một
tác phẩm văn học rất hấp dẫn, và giá trị của món quà mà văn hào tặng cho
các bạn trẻ (và không chỉ cho các bạn trẻ) vẫn mãi mãi là tuyệt diệu!
TRÊN SA MẠC VÀ TRONG
RỪNG THẲM
Henryk Sienkiewicz
Chương 1:
-E m biết không, Nen, - Xtas Tarcôpxki nói với cô bạn gái người Anh bé
nhỏ của mình. - Hôm qua, cảnh sát đã tới bắt vợ viên quản lí Xmainơ cùng
với ba đứa con của mụ ta, chính cái mụ Phátma đã mấy lần tới văn phòng
của ba anh và ba em đấy.
- E
Còn Nen, cô bé đẹp như một bức tranh, thì ngước cặp mắt màu lục nhạt
của mình lên nhìn Xtas và hỏi vẻ vừa ngạc nhiên vừa sợ hãi:
- Thế họ bắt bà ta bỏ tù à, anh?
- Không, nhưng họ không cho phép mụ ta đi khỏi Xuđan.
Đồng thời có một nhân viên tới đây để canh không cho mụ ta rời một
bước khỏi Port Xaiđơ.
- Sao vậy hả anh?
Xtas, cậu thiếu niên vừa hết tuổi mười bốn, tuy rất yêu mến cô bạn gái
tám tuổi của mình, song vẫn xem đó chỉ là một đứa bé non nớt, liền nói với
vẻ mặt rất kiêu:
- Khi nào lớn như anh, em sẽ biết không những chỉ mọi chuyện xảy ra
dọc kênh đào này, từ Port Xaiđơ đến Xuê(1) mà còn cả trên toàn bộ đất Ai
Cập nữa. Thế em không biết gì về Mahơđi hay sao?
- Em nghe nói là ông ta xấu xí và không ngoan. Cậu bé mỉm cười thương
hại.
- Hắn ta có xấu xí hay không thì anh không biết. Những người dân
Xuđan thì quả quyết rằng hắn ta đẹp tuyệt vời. Nhưng bảo kẻ đã giết hại
ngần ấy ngườ i là “không ngoan” thì chỉ có thể là một cô nhóc con tám tuổi
mặc váy ngắn mà thôi. Đấy, chỉ ngắn tới đầu gối là cùng.
- Ba em bảo thế, ba em biết giỏi nhất.
- Ba bảo em thế vì nói cách khác thì em không hiểu nổi. Giá nói với anh
thì ba em đã chẳng bảo thế. Mahơđi còn tệ hơn cả một bầy cá sấu. Hiểu
chưa? “Không ngoan!” Hay thật! Nói như với bọn trẻ con mới đẻ ấy.
Song chợt nhìn thấy vẻ mặt xịu đi của cô bé, Xtas liền nín bặt, sau đó nói
tiếp:
- Nen, em biết đấy, anh đâu muốn nặng lời với em. Sẽ đến lúc cả em nữa
cũng sẽ mười bốn tuổi. Anh cam đoan với em như thế.
- Thế cơ! - Cô bé đáp với cái nhìn đầy lo lắng. Nhưng nếu như trước đó
Mahơđi tiến được vào Port Xaiđơ và ăn thịt em mất thì sao nào?
- Mahơđi không phải là kẻ ăn thịt người, nên hắn không ăn thịt dân
chúng mà chỉ giết hại họ thôi. Hắn cũng chẳng tiến nổi tới Port Xaiđơ, mà
nếu như hắn có tiến vào được và muốn giết em, thì trước hết hắn phải đấu
với anh đã.
Lời tuyên bố đó cùng với tiếng không khí được hít mạnh vào mũi Xtas
không hứa hẹn một điều gì tốt lành cho Mahơđi, đã khiến Nen yên tâm về sự
an toàn của bản thân mình.
- Em biết, - cô bé nói, - anh chẳng chịu nộp em đâu, phải không? Thế
nhưng tại sao người ta lại không cho bà Phátma rời khỏi Port Xaiđơ?
- Bởi vì mụ ta là em họ của Mahơđi. Chồng mụ ta, gã Xmainơ hứa với
chính phủ Ai Cập ở Cairô rằng y sẽ tới Xuđan, nơi Mahơđi đang ở, để xin tự
do cho tất cả những người Âu bị rơi vào tay hắn.
- Cái ông Xmainơ ấy là người tốt hả anh?
- Khoan đã nào. Ba em và ba anh, những người hiểu rõ Xmainơ, hoàn
toàn không tin hắn ta chút nào, và đã khuyên pasa(2) Nubarơ chớ có tin y.
Nhưng chính phủ vẫn đồng ý cử Xmainơ đi, và thế là đã nửa năm nay
Xmainơ ở tịt chỗ Mahơđi. Tù binh không những không được thả về mà lại
có tin từ Khactum cho biết rằng, bọn Mahơđi đối xử với họ ngày một tàn tệ
hơn, còn lão Xmainơ thì sau khi cuỗm tiền của chính phủ đã phản bội. Hắn
hoàn toàn ngả hẳn về phía Mahơđi và đã được phong tước emia2. Người ta
còn nói rằng, trong trận đánh khủng khiếp mà tướng Hicxơ bị tử trận, chính
Xmainơ đã chỉ huy pháo binh của quân Mahơđi, và hình như chính hắn là kẻ
đã dạy cho bọn Mahơđi cách sử dụng đạ i bác, loại vũ khí mà trước đó, vốn
là những kẻ mọi rợ, chúng hoàn toàn không biết đến. Bây giờ, lão Xmainơ
đang muốn đưa vợ con thoát khỏi Ai Cập, cho nên khi mụ Phátma, con
người ngay từ đầu hẳn đã biết mọi chuyện mà Xmainơ làm, muốn bí mật
chuồn khỏi Port Xaiđơ, thì chính phủ liền bắt giữ mụ ta cùng các con mụ lạ i.
- Nhưng chính phủ sẽ được gì ở bà Phátma và lũ con của ba ta hở anh?
- Chính phủ sẽ nói với Mahơđi: “Hãy trả cho chúng ta các tù binh của
ngươi, chúng ta sẽ trả mụ Phátma cho ngươi...” Câu chuyện tạm bị gián đoạn
vì lúc này Xtas chợt chú ý đến những con chim đang bay từ phía Êchtum Om
Pharagơ về phía hồ Mendalê. Chúng bay khá thấp, trong bầu không khí trong
vắt trông rõ mấy con bồ nông với chiếc cổ cong gập lại sát lưng đang khoan
thai vỗ những đôi cánh khổng lồ. Xtas dõi theo đường bay của chúng, em
ngẩng đầu lên, chạy mươi bước dọc theo bờ kênh, vừa chạy vừa vung vẩy
đôi tay.
- Nhìn kìa anh, có cả chim hồng hạc đang bay nữa kìa! - Nen bỗng kêu
lên.
Xtas đứng sững ngay lại, vì quả thực phía sau đàn bồ nông, nhưng cao
hơn chúng một tí, có thể trông thấy hai đoá hoa lớn màu hồng và màu đỏ
thắm dường như đang treo lơ lửng trên nền trời xanh thẳm.
- Hồng hạc! Chim hồng hạc!
- Chiều chiều chúng nó thường bay về tổ của chúng trên vùng đảo đấy, cậu bé thốt lên. - Ôi, giá mà anh có khẩu súng nhỉ.
- Anh bắn chúng nó làm gì cơ?
- Phụ nữ không thể hiểu được những chuyện ấy đâu. Nhưng thôi, chúng
mình đi tiếp đi, có thể sẽ trông thấy chúng nhiều hơn nữa chăng.
Vừa nói em vừa dắt tay cô bé; cả hai đi về phía bến tầu đầu tiên trên
kênh đào tiếp sau cảng PortXaiđơ. Theo sau lưng chúng là bà Đina, một phụ
nữ da đen, ngày trước từng là nhũ mẫu của cô bé Nen. Họ đi dọc bờ đập
ngăn nước hồ Mendalê với kênh đào, trong kênh lúc ấy đang có một chiếc
tầu thuỷ lớn chạy bằng hơi nước của Anh được hoa tiêu dẫn đi. Chiều xuống.
Mặt trời hãy còn cao nhưng đã ngả về phía hồ. Làn nước lợ mằn mặn của hồ
loang loáng ánh sáng và lung linh phản chiếu muôn sắc cầu vồng. Bên bờ
phía Ả Rập, trải dài đến hút tầm mắt là sa mạc trơ trụi, câm lặng, chết chóc,
đầy vẻ hằn thù. Giữa bầu trời thuỷ tinh dường như chết cứng và cái mênh
mông vô bờ bến của mặt cát gợn sóng không hề có một dấu hiệu gì của sự
sống. Trong lúc trên mặt kênh đào cuộc sống đang sôi sục, thuyền bè tấp
nập, vang rộn tiếng còi tầu, và trên hồ Mendalê hàng đàn hải âu và vịt trời
đang nhộn nhịp đảo chao trong ánh mặt trời, thì phía bên kia, phía bờ Ả Rập
lại giống hệt như xứ sở của cái chết. Chỉ khi mặt trời xuống thấp dần và ngày
càng ngả sang màu đỏ thì mặt cát mới dần dần nhuốm màu tim tím, màu tím
của những mầm cây non trong các khu rừng Ba Lan về mùa thu.
Trong khi đi về phía bến tầu, bọn trẻ còn trông thấy vài con chim hồng
hạc nữa mà chúng vui sướng ngắm không chán mắt.
Sau đó, bà Đina nói rằng đã đến lúc phải quay về nhà. Ở Ai Cập ban
ngày thường nóng nực (thậm chí cả trong mùa đông), nhưng ban đêm lại rất
lạnh, mà sức khoẻ của Nen thì lại đòi hỏi phải hết sức giữ gìn, nên ông
Rôlixơn, cha của cô bé, không cho phép cô ở lại trên bờ nước sau khi mặt
trời lặn. Họ bèn quay trở về thành phố.
Vila của ông Rôlixơn nằm ngay rìa thành phố, gần bờ kênh đào.
Khi mặt trời lặn xuống biển, họ đã về tới nhà. Một lát sau, kĩ sư
Tarcôpxki, cha của Xtas, được mời đến dự bữa cơm, cũng tới, và thế là cả
nhà, cùng với cô Oliviơ, cô gia sư người Pháp của Nen, ngồi vào bàn ăn.
Đã từ nhiều năm nay, ông Rôlixơn, một trong các giám đốc của công ti
kênh đào Xuê, và ông Vlađixlap Tarcôpxki, kĩ sư trưởng của công ti này, kết
thân với nhau. Cả hai đều goá vợ: bà Tarcôpxca, vốn dòng dõi người Pháp,
đã mất ngay từ khi Xtas vừa chào đời, nghĩa là hơn mười ba năm về trước,
còn mẹ của Nen thì qua đời vì bệnh phổi tại Hêluankhi cô bé mới lên ba. Ở
Port Xaiđơ, hai ông bố goá vợ sống trong hai ngôi nhà cạnh nhau, và do
công việc của mình, ngày nào họ cũ ng gặp nhau. Nỗi bất hạnh chung khiến
họ xích lại gần nhau hơn và làm cho tình bạn vốn có càng thêm bền chặt.
Ông Rôlixơn yêu Xtas như con đẻ, còn ông Tarcôpxki thì sẵn sàng nhảy
vào lửa và lao xuống nước vì cô bé Nen. Sau khi kết thú c công việc hàng
ngày, phút nghỉ ngơi thú vị nhất đối với họ là được trò chuyện về bọn trẻ, về
việc giáo dục và về tương lai của chúng. Trong những câu chuyện đó, ông
Rôlixơn thường khen ngợi năng khiếu, nghị lực và lò ng can đảm của Xtas,
còn ông Tarcôpxki thì lại say sưa với khuôn mặt thiên thần ngọt ngào của
Nen. Và cả hai điều ấy đều là sự thật. Tuy hơi kiêu căng và hơi khoác lác
một chút, nhưng Xtas học rất giỏi và các thầy giáo ở trường học dạy tiếng
Anh tại Port Xaiđơ, nơi cậu bé học, đều công nhận rằng em có những năng
khiếu khác thường. Nếu nói về lòng dũng cảm và tính tháo vát thì em được
thừa hưởng ở người cha, vì ông Tarcôpxki có được những đức tính ấy ở trình
độ cao, và cũng chính nhờ có chúng mà ông đã vươn tới cương vị cao cấp
hiện tại.
Năm 1863(4), ông đã chiến đấu suốt mười một tháng liền không ngơi
nghỉ, sau đó ông bị thương, bị bắ t, rồi bị đầy đi Xibia, ông chạy trốn về Ba
Lan rồi thoát ra nước ngoài. Trước khi tham gia khởi nghĩa, ông đã tốt
nghiệp kĩ sư, nhưng sau đó, ông còn dành thêm một năm nữa để nghiên cứu
thuỷ lực học. Rồi sau đó, ông tìm được việc làm ở kênh đào, và chỉ trong vài
năm, khi người ta đã đánh giá được sự am tường công việc, nghị lực cùng
tính cần cù của ông, ông được nhậ n cương vị kĩ sư trưởng cao quý ấy.
Xtas được sinh ra, nuôi dưỡng và lớn đến năm mười bốn tuổi ngay tại
hải cảng Port Xaiđơ trên kênh đào, nên các kĩ sư, bạn đồng nghiệp của cha
em, thường gọi em là “đứa con của sa mạc”.
Khi đang đi học, thỉnh thoảng, trong những dịp nghỉ hè hay nghỉ lễ, em
lại được cùng với cha hoặc ông Rôlixơn tham gia các chuyến đi công vụ của
họ từ Port Xaiđơ đến tận Xuê để kiểm tra công việc trên bờ kênh cùng việc
nạo vét lòng kênh. Em quen hết thảy mọi người, từ các kĩ sư và nhân viên
thuế quan, đến công nhân, những người Ả Rập và người da đen. Em “lùng
sục” khắp nơi mọi chốn, tại bất cứ nơi nào đặt chân tới, và dần dần tiến hành
những chuyến đi dài dọc theo bờ kênh, đi thuyền trên hồ Mendalê và nhiều
lần bơi thuyền ra khá xa.Em đã từng vượt sang phía bờ Ả Rập, và nhảy đại
lên lưng một con ngựa của ai đó, hoặc nếu thiếu ngựa thì lạc đà hay thậm chí
cả lừa cũ ng được, đóng vai một tay kị sĩ dũng cảm của sa mạc. Tóm lại, nói
như ông Tarcôpxki, em “chui rúc” khắ p mọi nơi, và hễ rảnh rỗi một chút
ngoài giờ học là lại lần ngay ra bờ nước.
Người cha không ngăn cản chuyện đó, vì ông hiểu rằng, việc chèo
thuyền, cưỡi ngựa và sự tiếp xúc thường xuyên với không khí trong lành sẽ
củng cố thêm sức khoẻ của đứa trẻ, đồng thời phát triển tính tháo vát của nó.
Xtas cao và khoẻ hơn nhiều so với những đứa trẻ cùng tuổi, và chỉ cần nhìn
vào cặp mắt cậu bé cũng có thể dễ dàng đoán được rằng, nếu lâm vào một
chuyện hiểm nguy nào đó thì chắc hẳn cậu bé sẽ dễ phạm sai lầm do quá
hăng hái hơn là vì khiếp sợ. Mới mười bốn tuổi đầu, em đã là một trong
những tay bơi lội giỏi nhất ở Port Xaiđơ, điều này không phải là chuyện
xoàng,bởi dân Ả Rập và người da đen vốn bơi lội giỏi như cá. Trong khi nhả
đạn vào lũ vịt trời và ngỗng trời Ai Cập bằng khẩu súng săn cỡ nhỏ, cậu bé
đã rèn luyện cho mình có được cánh tay và con mắt bắn trăm phát trăm
trúng. Em ước ao một ngày nào đó sẽ được đi săn các loài thú lớn ở Trung
Phi, háo hức lắng nghe chuyện những người Xuđan làm thuê ở vùng kênh
đào, những người này đã từng gặp thú dữ và bọn thú da dầy khổng lồ tại quê
hương họ.
Điều này còn có thêm một cái lợi nữa là vừa nghe chuyện, cậu bé vừa
học được ngôn ngữ của họ. Kênh đào Xuê không những chỉ đào thông là
xong mà còn đòi hỏi phải thường xuyên chăm lo tu sửa, vì nếu không thì chỉ
trong vòng một năm thôi, cát từ các sa mạc nằm dọc hai bờ kênh sẽ lấp biến
nó đi. Cái công trình khổng lồ này của ông Lécxép(5) kéo theo một sự lao
động liên tục và đòi hỏi phải thường xuyên cảnh giác. Do vậy, cho tới nay,
có hàng loạt máy móc khổng lồ cùng hàng nghìn công nhân, dướ i sự giá m
sát của các kĩ sư thành thạo công việc, lao động nạo nét lòng kênh. Để đào
thông con kênh này đã từng phải dùng tới sức của hai mươi lăm nghìn người
lao động. Giờ đây, khi công trình đã hoàn thành và lại được trang bị những
máy móc hoàn thiện hơn, thì cần ít người hơn hẳn so với trước kia, song số
lượng nhân công cho đến nay vẫn còn rất lớn. Trong đó, đại đa số là cư dân
trong vùng, cũng không thiếu mặt dân Nubia, Xuđan, Xômali cùng nhiều
dân tộc da đen khác sinh sống ở vùng sông Nin Trắ ng và sông Nin Xanh,
nghĩa là trong những vùng thuộc phạm vi cai trị của chính phủ Ai Cập, trước
khi nổ ra cuộc khởi loạn của Mahơđi. Xtas sống thân mật với mọi người và
cũng giống như những người dân Ba Lan khác, vốn sẵn có năng khiếu ngoại
ngữ, em nắm được nhiều thứ thổ ngữ của họ mà chính bản thân em cũng
không rõ từ khi nào và tại làm sao nữa. Sinhtrưởng ở Ai Cập, em nói tiếng Ả
Rập như một Người Ả Rập chính cống. Nhờ có những người Dandiba
thường được thuê làm thợ đốt lò phục vụ các thứ máy móc, em học được
tiếng Kixvahili, thứ tiếng rất phổ biến trong toàn bộ miền Trung Phi, thậm
chí em có thể trò chuyện với những người da đen Đinnếch và Sinlúc sinh
sống ở vùng hạ lưu sông Nin, phía dưới Phasôđa(4). Ngoài ra, em nói thạo
tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Ba Lan, vì cha em một người yêu nước nhiệt
thành, rất quan tâm đến chuyện làm sao cho cậu bé nói được tiếng nói quê
hương. Dĩ nhiên, Xtas coi tiếng Ba Lan là thứ ngôn ngữ hay nhất trên thế
giới, và cậu bé đã dạy cho bé Nen nói tiếng Ba Lan với không ít thành công.
Có điều em không làm sao dạy cho cô bé phát âm được đúng tên em là Xtas
chứ không phải “Xtex”. Cũng chính vì lí do đó mà đôi khi giữa hai đứa trẻ
xảy ra chuyện bất hoà, song những chuyện bất hoà đó cũng chỉ kéo dài cho
tới khi cặp mắt cô bé bắt đầu long lanh những giọt lệ mà thôi. Và khi ấy,
“Xtex” bèn xin lỗi, đồng thời thường tự giận mình.
Song cậu bé có một thói quen xấu là hay tỏ vẻ khinh thường khi nói về
chuyện Nen mới lên tám và so sánh điều đó với tuổi tác và kinh nghiệm sống
của bản thân mình. Em cho rằng một thiếu niên mười bốn tuổi, dẫu vẫn chưa
hoàn toàn là người lớn, nhưng đã không còn là trẻ con nữa, và đã có khả
năng thực hiện được mọi hành động anh hùng, đặc biệt là khi thiếu niên ấy
mang trong mình dòng máu Ba Lan hoà dòng máu Pháp. Em khao khát một
lúc nào đó sẽ có hoàn cảnh để thực hiện những hành động anh hùng như thế,
nhất là để bảo vệ Nen. Cả hai thường tưởng tượng ra đủ mọi loại hiểm nguy
khác nhau, và Xtas thường phải trả lời các câu hỏi của Nen xem em sẽ làm
gì, nếu như nói thí dụ - một con cá sấu dài mười mét, hoặc một con bọ cạp to
bằng con chó bò qua cửa sổ vào nhà cô bé. Song cả hai không một phút nào
ngờ được rằng, chẳng bao lâu nữa, thực tế kinh khủng sẽ vượt xa mọi điều
tưởng tượng của chúng.
-----------------------------1 Kênh đào Xuê là một trong những kênh đào quan trọng nhấtthế giới.
Kênh ở Đông Bắc Ai Cập, nối thông Địa Trung Hải với Hồng Hải. Dài 160
km. Các hải cảng chính ở hai đầu kênh là PortXaiđơ và Xuê. Được xây dựng
trong khoảng 1859-1869 dưới sự chủ trì của viện sĩ người Pháp Ph.M.
Lecxép (ND)
2 Pasa (hay Basa): tước hiệu vương hầu ở các nước Trung Đông.
3 Emia: chức thủ lĩnh quân sự ở các nước Trung Đông.
4 Năm 1863, nhân dân Ba Lan khởi nghĩa chống lại sự thống trị của bọn
Nga hoàng.
Cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ tháng Giêng năm 1863 và kéo dài đến mùa
thu năm 1864.
5 M.Lecxép (1805-1894): nhà ngoại giao và doanh nghiệp người Pháp viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp, người tổ chức đàokênh Xuê (18591869). Ông cũng là người tổ chức đào kênh Panama (1879-1889) và chính vì
việc này mà ông bị phá sản.
6 Phasôđa (nay là Côđốc) - thành phố ở Xuđan.
TRÊN SA MẠC VÀ TRONG
RỪNG THẲM
Henryk Sienkiewicz
Chương 2:
Trong bữa cơm, có một tin vui chờ đón hai đứa trẻ. Vài tuần trước đây,
hai ông Tarcôpxki và Rôlixơn, với tư cách là những kĩ sư lành nghề, được
mời đến xem xét và đánh giá công việc trên toàn bộ mạng kênh rạch ở tỉnh
En Phaium, trong vùng lân cận thành phố Mêđinét gần hồ Carôun, cũng như
vù ng dọc theo sông Duxép và sông Nin. Họ sẽ ở lại đó chừng một tháng và
đã được công ti của họ cho nghỉ phép để làm việc đó. Vì lễ Thiên Chúa
giáng sinh sắp tới, mà cả hai đều không muốn chia tay với bọn trẻ, nên họ
quyết định rằng cả Nen lẫn Xtas sẽ đi tới Mêđinét. Nghe tin này, bọn trẻ suý
t nhảy vọt lên vì vui sướng. Cho tới nay, chúng chỉ mới được biết các thành
phố nằm dọc kênh đào, đó là Izmailơ và Xuê, còn ngoài vùng kênh là các
thành phố Alécxanđria và Cairô. Chúng cũng đã được tham quan các kim tự
tháp khổng lồ và tượng con Nhân sư ở gần thành phố Cairô. Song đó chỉ
toàn là những chuyến đi ngắ n ngủi, trong khi đó, muốn tới được Mêđinét En
Phaium, chúng sẽ phải ngồi tàu hoả suốt cả một ngà y trời dọc theo sông Nin
về phía Nam, rồi sau đó, từ En Vaxta trở đi, rẽ về phía Tây, về phía sa mạc
Libi. Xtas đã được nghe nói về thành phố Mêđinét qua câu chuyện của các kĩ
sư trẻ và các du khách từng được đi tới đó để săn bắn các loài chim nước
cùng chó sói sa mạc và linh cẩu. Em biết rằng đó là một ốc đảo lớn nằm ở
hữu ngạn sông Nin, nhưng không chịu ảnh hưởng của các trận lụt do con
sóng này gây ra, mà có thuỷ hệ riêng, được tạo nên bởi hồ Carôun, sông
Bahơrơ Duxép, cùng cả một hệ thống kênh rạch nhỏ khác nữa. Những người
từng thấy cái ốc đảo này đều nói rằng mặc dù vùng đất này vẫ n thuộc về Ai
Cập, nhưng do bị ngăn cách bởi sa mạc, nên nó tạo thành một chỉnh thể biệt
lập hoàn toàn. Chỉ có riêng dòng sông Duxép, trông giống như một sợi dây
mỏng mảnh màu xanh lơ là mối liên hệ giữa vùng này với thung lũng sông
Nin. Sự dồi dào về nước, độ phì nhiêu của đất và sự phong phú tuyệt vời của
hệ thực vật đã khiến cho vùng này gần như trở thành một thiên đường trên
mặt đất, còn những di tích trải trên một diện tích rộng lớn của thành phố
Crôcôđilôpôlix thì thu hút hàng trăm du khách tới đây viếng thăm. Riêng
Xtas thì chủ yếu là bị hấp dẫn bởi bờ hồ Carôun đầy các loài chim nước và
những chuyến đi săn chó sói trong vùng đồi núi hoang mạc Guêben En
Xêđơmên.
T
Nhưng mãi mấy ngày nữa bọn trẻ mới bắt đầu được nghỉ lễ, mà sự kiểm
tra công việc ở vùng kênh lại khẩn cấp, khiến các ông bố không thể chờ đợi
mất thì giờ, nên họ bèn sắp xế p rằng họ sẽ khởi hành ngay, còn bọn trẻ sẽ
cùng với cô Oliviơ xuất phát sau một tuần lễ. Cả Nen lẫn Xtas đều muốn
được cù ng đi ngay, nhưng Xtas không dám đề nghị. Cả hai liền bắt đầu hỏi
han đủ mọi thứ chuyện liên quan tới chuyến đi, và chúng lại náo nức vui
sướng một lần nữa khi được biết rằng, chúng sẽ không phải nghỉ ngơi trong
các khách sạn thiếu thốn tiện nghi của người Hy Lạp, mà sẽ nghỉ trong
những chiếc lều do Hội du lịch của Cúc(1) cung cấp. Các du khách từ Cairô
đến thăm Mêđinét, thậm chí dù họ có lưu lại đó một thời gian dài đi nữa,
cũng thường sống theo cách đó. Công ti Cúc cung cấp cho họ lều trại, người
phục vụ, lương thực dự trữ, lừa ngựa, lạc đà cùng người dẫn đường, nên du
khách chẳng hề phải lo nghĩ chuyện gì cả. Quả tình đó là một phương thức
du lịch khá tốn kém, nhưng ông Tarcôpxki và ông Rôlixơn không cần phải
quan tâm tới chuyện đó, vì mọi chi phí sẽ do chính phủ Ai Cập đài thọ, chính
phủ này đã mời họ tới đánh giá và kiểm tra công việc tại vùng kênh, với tư
cách là những chuyên gia giỏi. Cô bé Nen vốn thích cưỡi lạc đà hơn tất cả
mọi chuyện khác trên đời, nên được cha hứa rằng sẽ được nhận riêng một
con tuấn mã có bướu, trên đó cô bé sẽ cùng với cô Oliviơ, bà Đina, hoặc
thỉnh thoảng cùng với Xtas, tham gia vào những chuyến đi chơi trong những
vùng sa mạc lân cận và tới Carôun. Ông Tarcôpxki hứa với Xtas rằng sẽ cho
phép em đi săn chó sói ban đêm, và nếu như em mang được chứng chỉ học
tập giỏi từ trường về, thì sẽ được thưởng một khẩu súng săn Anh chính hiệu,
cùng với mọi thứ đồ nghề cần thiết cho thợ săn. Vì Xtas hoàn toàn tin chắc
vào kết quả học tập của bản thân, nên ngay lập tức em bắt đầu tự cho mình
đã là chủ nhân của một khẩu súng săn và tự nhủ sẽ dùng khẩu súng ấy thực
hiện biết bao kì công để đời đời được ghi nhớ.
Với lũ trẻ đang vui mừng, bữa ăn trôi qua trong những dự kiến và những
câu chuyện như vậy. Riêng cô Oliviơ tỏ ra tương đối ít nhiệt tình nhất với
chuyến đi, bởi cô ngại phải rời xa cái biệt thự đầy đủ tiện nghi ở Port Xaiđơ
này; cô kinh hoàng khi nghĩ tới chuyện sẽ phải sống hàng mấy tuần trong
lều, và nhất là chuyện cưỡi lạc đà. Cô đã được thưởng thức vài lần các
chuyến đi kiểu ấy, điều mà bất cứ người dân châu Âu nào sống ở Ai Cập
cũng đều làm thử vì tò mò. Song bao giờ các chuyến đi ấy cũng bị kết thúc
chẳng mỹ mãn chút nào. Một lần, con lạc đà đứng lên sớm quá, khi cô chưa
kịp ngồi vững trên bành, kết quả là cô bị tuột từ trên lưng nó xuống đất. Một
lần khác, một chú lạc đà một bướu, hẳn không thuộc loại dễ khiến, đã lắc cô
đến nỗi hai ngày sau cô vẫn chưa hoàn hồn. Tóm lại, nếu như Nen, sau vài
chuyến được ông Rôlixơn cho phép đi như thế, cam đoan rằng trên đời này
không có gì sướng hơn là việc cưỡi lạc đà, thì cô Oliviơ lại chỉ nhớ toàn
những ấn tượng khó chịu mà thôi. Cô bảo rằng chuyện đó có thể là tốt đối
với người Ả Rập, hoặc đối với một “cái kẹo” bé bỏng như Nen, cô bé bị lắc
chẳng đáng là bao, chẳng khác nào một chú ruồi đỗ lên bướu lạc đà, song
chẳng thích hợp chút nào đối với những người có tuổi, chẳng nhẹ nhàng gì,
mà lại có xu hướng dễ bị say sóng. Còn nếu nói về Mêđinét En Phaium thì
cô lại còn có thêm những lo lắng khác nữa. Ở Port Xaiđơ cũng như ở
Alécxanđria, Cairô và trên toàn Ai Cập, người ta chẳng bàn tán gì khác hơn
ngoài chuyện khởi loạn của Mahơđi và sự tàn ác của bọn phiến loạn. Cô
Oliviơ không biết chính xác thành phố Mêđinét nằm ở đâu, nên cô lo ngại,
không hiểu nó có nằm quá gần bọn Mahơđi hay chăng, và thế là cô bèn hỏi
ông Rôlixơn điều đó.
Song ông chỉ mỉm cười và nói:
- Hiện nay Mahơđi đang bao vây thành phố Kháctum, trong đó tướng
Goócđôn đang cố thủ. Cô có biết Mêđinét cách Kháctum bao xa không?
- Tôi chẳng có khái niệm gì về chuyện đó cả.
- Cũng xấp xỉ bằng từ đây tới đảo Xixin vậy, ông Tarcôpxki giải thích.
- Vâng, gần bằng. - Xtas khẳng định. - Kháctumnằm tại điểm mà sông
Nin Trắng và Xanh hoà vào nhau tạo thành một dòng chung. Từ chỗ chúng
ta tới đó còn cách cả một khoảng không gian mênh mông của đất Ai Cập và
toàn bộ miền Nubia.
Tiếp đó em còn muốn thêm rằng dù cho Mêđinét có nằm gần vùng khởi
loạn đi chăng nữa, thì đã có em tại đó với khẩu súng của mình, nhưng em
chợt nhớ lại rằ ng đã nhiều lần bị cha quở mắng vì những lời huênh hoang
tương tự, nên vội nín lặng.
Hai ông bố lại bắt đầu nói sang chuyện Mahơđi và cuộc khởi loạn, vì đó
là vấn đề quan trọng bậc nhất có quan hệ tới Ai Cập.
Tin tức từ Kháctumđưa về rất xấu. Đã từ một tháng rưỡi nay, những bộ
tộc man rợ bao vây chặt thành phố này, chính phủ Ai Cập và chính phủ Anh
thì phản ứng rất chậm chạp. Mãi đến bây giờ đạo viện binh giải vây mới vừa
lên đườ ng, và người ta e rằng, mặc dù có áng vinh quang, lòng can trường
và năng lực của tướng Goócđôn, song thành phố quan trọng này sẽ bị lọt vào
tay bọn dã man mất. Ông Tarcôpxki cũng có ý kiến như thế, ông ngờ rằng,
Anh quốc thầm mong sao Mahơđi chiếm lấy Xuđan của Ai Cập để rồi sau đó
họ sẽ chiếm lại miền đất này từ tay Mahơđi, và biến miền đất mênh mông
này thành tài sản nước Anh. Song ông không trao đổi với ông Rôlixơn
những điều nghi ngờ ấy, vì không muốn xú c phạm đến những tình cảm ái
quốc của bạn.
Gần cuối bữa ăn, Xtas hỏi tại sao chính phủ Ai Cập lại chiếm cứ tất cả
các nước nằm về phía NamNubia là Coócđôphan, Đácphua và Xuđan cho
đến tận Anbéc Nianđa, và tước đoạt quyền tự do của dân cư những miền đất
đó. Ông Rôlixơn quyết định giải thích cho cậu bé: tất cả những gì mà chính
phủ Ai Cập làm đều là thực hiện theo chỉ thị củ a Anh quốc, bởi nước Anh
đang nắm quyền bảo hộ Ai Cập và về thực chất thì đang thống trị nước này
một cách tuỳ ý.
- Chính phủ Ai Cập không tước đoạt tự do của bất cứ một ai cả, - ông
nói, - mà ngược lại, còn mang lại tự do cho hàng trăm nghìn, thậm chí hàng
triệu người. Trong thời gian gần đây, ở Coócđôphan,ở Đácphua và Xuđan
không có một quốc gia độc lập nào tồn tại cả. Chỉ thảng hoặc ở nơi này nơi
nọ, một tiểu thủ lĩnh nào đó dùng bạo lực áp đặt chính quyền của mình sang
một miền đất khác và chiếm đoạt vùng đất ấy, không thèm để ý tới nguyện
vọng của các cư dân địa phương. Còn trên đại thể, những miền này quần tụ
các bộ tộc độc lập của người Ả Rập pha da đen, nghĩa là những bộ tộc mang
trong mình dòng máu của cả hai chủng người đó. Các bộ tộc này luôn luôn
sống trong tình trạng chiến tranh liên miên. Họ tấn công nhau, cướp của
nhau ngựa,lạc đà, súc vật có sừng và trước hết là nô lệ. Đồng thời họ phạm
không biết bao nhiêu điều tàn bạo. Nhưng tệ hại nhất là bọn thương gia săn
ngà voi và săn nô lệ. Chúng gần như tạo thành một giai cấp riêng biệt, bao
gồm hầu hết các tộc trưởng và những thương nhân giàu có.
Chúng tiến hành những cuộc săn lùng có vũ trang vào sâu trong lục địa
Phi châu, cướp đi ngà voi và bắt sống hàng nghìn người, cả đàn ông, đàn bà,
trẻ con. Chúng triệt phá các làng mạ c và trại ấp, phá hoại đồng ruộng, khiến
máu chảy thành sông và giết hại không thương tiếc tất cả những ai muốn
chống cự lại. Nhiều vùng ở miền nam Xuđan, Đácphua và Coócđôphan cũng
như vùng thượng nguồn sông Nin cho tới tận hồ lớn, không còn một bóng
người. Song bọn cướp Ả Rập này mỗi ngày tiến thêm một xa, đến nỗi cả
vùng Trung Phi trở thành vùng đất của máu và nước mắt.
Anh quốc, như cháu biết, vốn săn đuổi bọn thương nhân buôn bán nô lệ
trên toàn thế giới, bèn đồng ý để chính phủ Ai Cập chiếm Coócđôphan,
Đácphua và Xuđan, đó là cách duy nhất buộc lũ cướp phải từ bỏ cuộc buôn
bán bẩn thỉu ấy đi, là cách duy nhất để giữ chúng trong vòng kiềm toả.
Những người da đen bất hạnh thở phào nhẹ nhõm, những cuộc tấn công ăn
cướp lắng dần, và người ta bắt đầu được sống có luật lệ. Dĩ nhiên tình hình
ấy khiến bọn lái buôn không thoả mãn. Vậy nên, khi mà trong số chúng nó
có tên Môhamét Áchmét, bây giờ được gọi là Mahơđi, tên này bắt đầu kêu
gào phát động một cuộc chiến tranh tôn giáo về hình thức, lấy cớ rằng tại Ai
Cập lòng tin vào đức Môhamét đang bị suy giảm, thì tất cả bọn chúng đều
cầm lấy vũ khí. Và thế là bùng nổ cuộc chiến tranh khủng khiếp này, cuộc
chiến tranh mà cho tới nay rất bất lợi cho người Ai Cập. Trong tất cả các trận
chiến đấu, Mahơđi đều đánh bại quân chính phủ, chiếm Coócđôphan,
Đácphua, Xuđan; hiện nay, các bộ tộc của hắn đang vây hãm Kháctum và
tiến về phía Bắc tới tận biên giới Nubia.
- Nhưng liệu hắn có tiến được tới Ai Cập không ạ? - Xtas hỏi.
- Không, - ông Rôlixơn trả lời, - Mahơđi quả có nói rằng, hắn sẽ đánh
chiếm toàn thế giới, song đó chỉ là một con người mông muội, không hiểu gì
cả. Hắn sẽ không bao giờ chiếm được Ai Cập vì Anh quốc không khi nào
cho phép chuyện đó xảy ra.
- Thế nếu như quân đội Ai Cập hoàn toàn tan rã thì sao?
- Khi đó quân đội Anh sẽ thay, mà quân đội Anhthì chưa từng có ai
thắng nổi bao giờ.
- Thế tại sao người Anh lại cho phép Mahơđichiếm ngần ấy nước?
- Sao cháu biết là Anh quốc cho phép? - ÔngRôlixơn nói. - Anh quốc
chẳng bao giờ phải vội vã cả, bởi Anh quốc là quốc gia vĩnh cửu.
Câu chuyện bị gián đoạn bởi một người đầy tớ da đen vào báo rằng mụ
Phátma Xmainơ tới và cầu xin được vào gặp.
Phụ nữ phương Đông thường chỉ chăm lo việc nội trợ và rất ít khi rời
khỏi “buồng the”. Chỉ những người nghèo mới ra chợ hoặc đi làm đồng, thí
dụ như vợ của các fellach, tức là những nông dân Ai Cập, nhưng cả những
người này cũng che mặt khi ra đường.
Mặc dù mụ Phátma gốc người Xuđan, tại đó người ta không theo phong
tục này, hơn nữa, trước đây cũng đã từng có lần mụ tới văn phòng ông
Rôlixơn rồi, xong việc mụ đến đây, nhất là vào lúc đêm hôm thế này và lại
tới nhà riêng, cũng gây nên một sự ngạc nhiên.
- Chúng ta sẽ được biết điều mới về gã Xmainơđây, - ông Tarcôpxki nói.
- Phải, - ông Rôlixơn đáp lại, đồng thời đưa tay ra hiệu cho người hầu
dẫn mụ Phátma vào.
Lát sau một phụ nữ Xuđan còn trẻ, người cao dong dỏng, mặt hoàn toàn
không che mạ ng, với nước da rất sẫm màu, cặp mắt tuyệt đẹp, tuy hơi man
dại và dữ tợn, bước vào. Vừa vào, mụ đã sụp mặt xuống đất, và khi ông
Rôlixơn bảo mụ đứng dậy thì mụ chỉ ngẩng mặt lên nhưng vẫn tiếp tục quỳ.
- Thưa ngài, - mụ nói, - cầu đức Ala ban phúc cho ngài, cho con cháu
của ngài, ngôi nhà của ngài và súc vật của ngài.
- Chị muốn gì? - Người kĩ sư hỏi.
- Thưa ngài, con ...
 





