Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn
Tình Người - Thích Nhất Hạnh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:34' 25-03-2024
Dung lượng: 633.8 KB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:34' 25-03-2024
Dung lượng: 633.8 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Những hạt cơm của Phật
Cứ đúng mười hai giờ trưa chú Tâm Mãn, trịnh trọng trong chiếc áo
năm thân màu lam, mang bình bát đựng cơm cúng Phật đặt lên bàn
giữa của Tổ đường và nhắc tôi một câu:
- Đến giờ cúng ngọ rồi, thưa chú.
Nói xong chú mỉm cười nhìn tôi rồi lui xuống nhà dưới để lo buổi ngọ
thực cho đại chúng. Tôi cũng mỉm cười hoan hỷ lại với chú và buông
bút lông, xếp chồng kinh sách lại chỗ cũ để sửa soạn đi cúng dường.
Ở chùa, phận sự của tôi trong buổi trưa là dâng cơm cúng Phật. Chú
Tâm Mãn thì lo phụ giúp dưới nhà trù và sau khi dọn trai phạn, chờ
cúng Phật xong thì đánh ba tiếng bản hiệu lệnh để báo giờ ngọ thực.
Hôm nay chú Tâm Mãn mang bình bát lên với một nét mặt trầm tư.
Nụ cười mọi hôm không còn nữa. Tôi đỡ lấy bình bát trên tay chú,
nói lời cảm ơn, và nhìn chú trở lui xuống nhà dưới. Chúng tôi trang
nghiêm và buồn bã hơn, vì một cái tang nhỏ đã xảy ra cho chúng tôi
từ ngày hôm qua.
Trước đây nửa tháng, một hôm sau khi cúng Phật xong, tôi đi tắt
những cây đèn nến trong chùa, Khi đến gần bàn Phật để tắt ngọn
bạch lạp cắm trên cặp chân đèn đồng cao, tôi thấy từ trong bình bát
nhảy ra một chú thằn lằn, miệng tha mấy hạt cơm. Đôi mắt sáng như
hai chấm thủy tinh, nhìn tôi như hoảng sợ. Tôi không xua đuổi,
nhưng chú thằn lằn cũng chạy mất về phía sau tượng Phật.
Ngỡ là chỉ một lần thôi, nhưng đến hôm sau, khi tắt đèn, tôi cũng lại
thấy chú thằn lằn từ trong bình bát phóc ra, Cũng hai con mắt sáng
hai châm thủy tinh nhìn tôi kinh hoàng, cũng cái miệng nhỏ tha theo
vài hạt cơm trắng muốt.
ế
ể
Đến hôm sau nữa, tôi để ý rình. Mang theo bình bát đặt lên bàn Phật,
tôi chưa mở nắp vội. Tôi thắp nến, thắp hương, kính cẩn lạy Phật
như thường lệ, thỉnh ba tiếng chuông rồi mới mở nắp bình bát. Chưa
thấy tăm dạng chú đâu cả. Tôi nhẹ nhàng khai chuông mõ, và xướng
bài cúng hương, rồi tụng chú Đại bi, nhưng kia, lấp ló phía sau đỉnh
trầm, xuất hiện hai chấm sáng như thủy tinh. Tôi bình tĩnh tụng tiếp
chú Đại bi và làm như không hay biết gì cà. Chú thằn lằn tiến tới, tiến
tới dần. Chiếc đầu nhỏ bé đã ngóc lên miệng bình bát. Phút chốc,
chú đã nhảy vào nằm gọn trong bình bát.
Hôm ấy tôi đọc bài Cúng dường không được nhất tâm chút nào.
Nghĩ đến cơm dâng cúng Phật đang bị một con thằn lằn vọc phá, tôi
tưởng như mình đã mang tội bất kính đối với Tam Bảo. Tôi thấy giận
cái chú thằn lằn quái nghịch kia, giận vì nó đã làm cho tôi rối loạn vì
một việc không đâu. Miệng đọc bài Cúng dường mà tâm cứ xao
động; có lúc tôi định đứng dậy đuổi quách con thằn lằn kia đi, nhưng
hình như có một thế lực nào bắt tôi quỳ tụng cho hết bài Cúng dường
và Hồi hướng.
Hôm sau tôi quyết không mở nắp bình bát nữa. Sau khi thắp đèn, đốt
hương, tôi quỳ xuống, khai chuông mõ và cúng dường như thường
lệ. Vẫn đôi chấm thủy tinh xuất hiện sau đỉnh trầm, vẫn chú thằn lằn
của mọi hôm bò dần đến bình bát, nhưng đôi mắt kia đã trông thấy
chiếc bình bát đậy nắp, ngơ ngác nhìn ngược xuôi. Cuối cùng chú
thằn lằn trở về lối cũ phía sau đỉnh trầm.
Trong sát na thứ nhất, tôi thấy sung sướng vì đã trả được cái thù
hôm qua, nhưng qua sát na thứ hai, tâm hồn tôi bỗng nhiên xao
xuyến bâng khuâng, hối hận. Có một cái gì hình như sự tàn nhẫn,
nhỏ nhen, thấp kém, đang làm cho lòng tôi vẩn đục. Tôi khổ tâm quá.
Tôi không dám nhìn đức Phật khi tôi mang bình bát đi ra.
Trưa hôm ấy, tôi cáo mệt, không xuống thọ trai. Độ một giờ trưa, chú
Tâm Mãn lên thăm:
- Chú mệt nhiều không? Em nấu cháo cho chú xơi nhé.
ồ
ố
Tôi kéo chú Tâm Mãn ngồi xuống bên đôn và nhìn chú, tôi hỏi:
- Này tôi đố chú nhé: hôm nào mình cũng dâng cơm cúng Phật, thế
Phật có thọ hưởng không?
- Đã gọi là “hưởng” thì không phải “ăn”.
- À thì ra thế, nhưng này chú Mãn ạ...
- Chú nói gì cứ nói, em xin nghe.
- Tôi tưởng Phật không “ăn” mà cũng không “hưởng”.
- Thì em cũng nghĩ như chú đấy. Bởi vì có một hôm đem bình bát để
xới cơm cúng Phật, em sực nghĩ rằng chúng ta cúng Phật chẳng
phải là cúng cơm cho Phật mà cúng tấm lòng thành của chúng ta cho
Phật mà thôi.
Tôi nắm chặt tay chú Mãn:
- Phải, chú nói đúng lắm. Mỗi ngày đều tưởng nhớ Phật, xem như
đức Phật còn tại thế nên chúng ta mới cúng dường. Sự cúng dường
cốt ở trong tâm mà thôi, vì trong kinh có dạy “cúng Phật thì công đức
vô lượng”.
- Thôi để bây giờ em đố lại chú nhé: tại sao trong kinh lại có câu
“cúng dường chúng sinh tức là cúng dường chư Phật”? Nhưng thôi
em đùa đấy, chỉ là một câu kinh em không hiểu đem ra hỏi chú đấy
chứ không dám đố chú đâu.
Tôi lặng yên, không dám trả lời. Câu hỏi của người em đồng sư làm
cho tôi choáng váng. Vấn đề giản dị như thế mà tôi đã không giải
quyết được một cách dễ dàng. Bản nguyện của Đức Phật là cứu khổ
ban vui cho mọi loài chúng sinh. Làm cho chúng sinh bớt đau khổ tức
là làm vui lòng chư Phật. Tại sao tôi lại đậy nắp bình bát không cho
con thằn lằn lấy bớt vài hạt cơm để nuôi thân?
ắ
- Kìa, sao chú không trả lời em? Chú Tâm Mãn nhắc. Tôi cười:
- Nghĩa là cứ mở nắp cho thằn lằn tự do vào chứ gì.
Thấy bộ tịch ngơ ngác không hiểu ất giáp gì của chú Mãn, tôi bật
cười và kể lại cả câu chuyện cho chú nghe. Tôi cũng không quên
cám ơn chú đã nhắc cho tôi một lối giải quyết hợp lý. Nét mặt chú
tươi lên; chú nói:
- Nếu thế tại sao mỗi khi cúng Phật, ta không đem theo ít hạt cơm để
dưới chân bình bát? Chú thằn lằn của sư huynh sẽ bằng lòng với
những hạt cơm đó mà không quấy phá đến cơm cúng Phật nữa.
Thật là thần diệu. Chúng tôi thích ý nắm tay nhau, nhưng không dám
cười vang, sợ gây nên tiếng ồn trong các phương trượng mà đại
chúng đang nghỉ ngơi.
Hôm qua, sau giờ ngọ, tôi nắm tay chú Mãn, báo tin cho chú biết con
thằn lằn của chúng tôi đã chết.
- Tôi đang đốt trầm thì nghe một tiếng “chạch” trên nền đá. Đến nơi
đã thấy nó chết rồi chú ạ.
- Nhưng chắc đâu đó là con thằn lằn của chúng ta độ nọ?
- Sao lại không chắc hả chú? Cho đến hôm qua, nghĩa là đã mươi
hôm nay, hôm nào nó cũng tha cơm cả. Thế mà hôm nay, mấy hạt
cơm tôi đặt dưới chân bình bát vẫn còn nguyên vẹn...
Chú tâm Mãn an ủi tôi:
- Thôi chú ạ, em chắc rằng một khi con thằn lằn đã biết ăn cơm, nó
sẽ không ăn kiến ăn mối. Nó đã không gây tội ác, nó được ăn cơm
Phật thì chắc nó cũng được vãng sinh... Chúng ta cầu nguyện cho
nó.
ế
ế
ố
ố
Tôi nghĩ đến một kiếp sống chúng sinh. Một chút sống nhỏ bé và bèo
bọt nổi lên trên biển hiện tượng, rồi chìm lặng trong quên lãng nghìn
đời.
Tâm trí chìm đắm trong những suy tưởng siêu hình, tôi chậm rãi đáp
lời chú Tâm Mãn:
- Phải, chúng ta nên cầu nguyện cho nó...
Chiếc áo
Có những chiếc áo không bao giờ xấu và cũ. Tôi có một chiếc áo nâu
đã sờn rách và bạc màu, nhưng tôi quý hơn tất cả những chiếc áo
khác của tôi. Tôi không thấy chiếc áo ấy xấu và cũ một tí nào, trong
khi các bạn đồng học đồng tu của tôi gọi nó là “chiếc áo ba mươi bảy
kiếp khổ hạnh”. Suốt thời gian theo học Phật ở chùa Báo Quốc tôi đã
dùng chiếc áo kia với một sự ưa thích mặn nồng. Chiếc áo ấy nay đã
rách quá, không còn mặc được nữa, nhưng tôi vẫn giữ kỹ bởi vì đó là
một kỷ niệm quý giá trong đời xuất gia thiếu niên của tôi.
Không thấy nó xấu và cũ, bởi vì tôi thường đem cả cái tinh thần chủ
quan của tôi mà nhìn ngắm nó, sử dụng nó. Cái áo đó hơi rộng bởi vì
chính là áo của thầy cho tôi, mà nhất là thầy tôi cho đúng vào lúc tôi
đang sửa soạn một tâm trạng chân thành để phát nguyện sống đời
giải thoát.
Hồi ấy tôi xin vào chùa để học làm điệu, nghĩa là xin tập sự xuất gia.
Lúc tôi xin vào, thì số lượng đại chúng đã là gần hai mươi vị, phần
nhiều là các vị đã tu học lâu năm. Học làm “điệu” như tôi chỉ có ba
người. Chú Tâm Mãn vào sau tôi một năm. Thế là bốn. Chúng tôi học
chung, làm việc chung. Công việc của chúng tôi nặng nề nhất, bởi vì
tuổi tu của chúng tôi ít hơn. Năm thứ nhất, chúng tôi học công phu,
luật Sa di. Năm thứ hai, chúng tôi hoặc Luật giải và những bộ kinh
phổ thông. Năm thứ ba, trong số bốn điệu tôi và chú Mãn được xem
luôn luôn học khác hơn cả. Chúng tôi hy vọng được làm lễ thế độ
trước. Làm lễ thế độ là được chính thức thọ giới xuất gia. Chúng tôi
chờ đợi giờ phút ấy như chờ đợi một sự thành công rực rỡ. Riêng
tôi, tôi mong mỏi giờ phút ấy còn hơn một thí sinh mong mỏi giờ phút
tuyên bố kết quả một cuộc thi sau bao năm học tập.
Giờ phút ấy, cuối cùng, đã đến... Một buổi chiều gánh củi về nhà, tôi
được chú Tâm Mãn báo tin mừng. Thầy tôi (vị Thượng Tọa) sẽ cho
tôi chính thức thọ giới xuất gia trước khi gởi tôi về Phật Học Đường
Báo Quốc. Một mình tôi thôi, bởi vì chỉ có tôi đủ điều kiện tuổi tác và
ổ
khả năng nhập học. Chú Tâm Mãn vì còn nhỏ, thua tôi hai tuổi, thành
thử dù có sức học nhưng cũng chưa được chính thức làm lễ thế độ.
Trong niềm vui mang ít nhiều bồng bột của tuổi thiến niên ấy, tôi cảm
thấy lớn hẳn lên, quan trọng hẳn lên. Chú Tâm Mãn chia với tôi niềm
vui ấy một cách sốt sắng chân thành. Ngày khai giảng Phật Học
Đường sắp đến. Chúng tôi bàn soạn với nhau về mọi công việc.
Riêng về lễ thọ giới, đã có các Thầy lo liệu cho, tôi chỉ việc ôn lại cho
thuộc lòng bốn quyển luật Sa di mà thôi. Chúng tôi bàn nhau gởi thư
về nhà xin một số tiền nhỏ để nhờ dì Tư đi chợ Bến Ngự mua một ít
hương trầm hoa quả để cúng Phật trong ngày lễ thọ giới của tôi. Nếp
và đậu chúng tôi nhờ dì Tư nấu xôi chè cúng dường đại chúng chư
tăng để kỷ niệm một ngày đáng ghi nhớ nhất trong đời xuất gia học
đạo. Nhưng nhà thì xa, gởi thư về không biết có kịp không. Chúng tôi
bày tỏ mối lo ngại với dì Tư, dì Tư đã già. Dì cười với hai hàm răng
sún rất là dễ thương: “Các chú cứ gởi thư đi, nếu tiền không đến kịp,
tôi sẽ lấy quỹ của nhà bếp mà mua cho các chú, rồi mình sẽ bù vào
sau”. Thế là chúng tôi mừng rỡ, lên sửa soạn rương kinh sách. Chú
Mãn ôm từng chồng giấy vàng bạc bỏ vào rương tôi. Những giấy
vàng vạc là do người thập phương đem đên cúng chùa. Thầy tôi dặn
đừng đốt, để dùng mà viết kinh. Suốt mấy năm nay chúng tôi đã tập
chữ và chép kinh trên giấy ấy mà học. Chú Tâm Mãn chừng sợ tôi ra
tường thiếu giấy viết, nên ôm bỏ đầy một góc rương của tôi.
Lễ thọ giới của tôi được định vào bốn giờ khuya mai. Tôi hôm nay,
khi cùng đại chúng đi công phu tịnh độ ra, tôi thấy thầy tôi ngồi trên
bồ đoàn, trang nghiêm khâu lại một đường rách của một chiếc áo
nâu cũ, bên ánh sáng lung linh của cây đèn bạch lạp. Thầy tôi ngồi
bán già, ung dung đưa những mũi kim qua lần áo vải. Tuy đã già,
nhưng mắt Thầy còn sáng và dáng ngồi của Thầy còn thẳng. Tôi và
chú Tâm Mãn dừng lại ở cửa phương trượng, ngắm cái cảnh tượng
đẹp đẽ trang nghiêm ấy một lúc lâu. Dưới ánh sáng trong trẻo của
ngọn bạch lạp, bên chiếc án thư đặt một chồng kinh Hán tự, thầy tôi
có dáng dấp tự tại và trang nghiêm của một vị đại Bồ Tát đương
sống những phút trầm tư.
Mãi một lúc sau, chúng tôi mới nhè nhẹ bước vào phương trượng.
Thấy động, thầy tôi ngửng lên. Thấy chúng tôi, người sẽ gật đầu cúi
xuống với đường kim nửa chừng. Chú Tâm Mãn thưa:
- Bạch Thầy xin Thầy đi nghỉ kẻo khuya ạ.
Thầy tôi không ngửng lên:
- Để Thầy khâu lại cái áo tràng nâu để sáng mai cho chú Quán mặc.
Bây giờ tôi mới hiểu tại sao hồi chiều thầy tôi đã mất cả một buổi
soạn lại những chiếc áo cũ. Thì ra thầy tôi tìm một chiếc áo lành lặn
nhất trong số đó, rồi khâu lại một vài đường rách để cho tôi. Ngày
mai tôi sẽ được mặc, lần đầu tiên, một chiếc áo tràng. Ba năm nay
chúng tôi chỉ mới được mặc áo năm thân màu lam. Thọ giới xuất gia,
tôi sẽ được phép mặc thứ áo quí giá ấy, thứ áo mà trong luật gọi là
áo giải thoát - giải thoát phục. Tôi run run bạch lại:
- Bạch Thầy, để chúng con nhờ dì Tư chúng con khâu cũng được.
- Không, thầy muốn tự tay thầy khâu lại cho con.
Im lặng, Chúng tôi vòng tay lễ phép đứng hầu một bên, không dám
nói thêm một lời nào nữa. Một lát sau, thầy tôi, mắt vẫn không rời mũi
kim, lên tiếng:
- Các chú có nghe trong Kinh dạy rằng ngày xưa có một vị đại đệ tử
chỉ nhờ khâu y mà chứng ngộ không? Để thầy nói cho nghe. Vị đại
đệ tử ấy thường tìm sự thích thú an lạc trong việc vá lại những chiếc
y đã rách, vá lại cho mình và những bạn đồng tu. Mỗi khi đâm qua
một mũi kim, ngài làm phát sinh một tâm niệm lành, một tâm niệm
giải thoát. Cho đến một ngày kia, khi mũi kim vừa thấu qua làn vải,
ngài liền thấu suốt được một pháp môn thâm diệu, và trong sáu mũi
liên tiếp, ngài chứng được lục thông.
Tôi ngước nhìn Thầy tôi với một niềm kính mến vô biên. Thầy tôi với
đạo phong uy nghi thế kia thì dù chưa chứng được lục thông đi nữa
ế
ế
cũng đã lên đến một trình độ giải thoát tự tại mà không biết bao nhiêu
lâu nữa, chúng tôi mới mong đạt đến được.
Nhưng chiếc áo đã khâu xong. Thầy tôi ra hiệu cho tôi lại gần. Người
bảo tôi mặc thử. Chiếc áo đối với tôi hơi rộng, nhưng không phải vì
thế mà tôi không cảm thấy hân hoan đến gần chảy nước mắt. Tôi
cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ
tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm
ngát hương vị lý tưởng đã từng nuôi dưỡng chí nguyện của tôi trong
suốt bao nhiêu năm trường xuất gia tu học.
Tôi tiếp nhận cái áo của thầy tôi trao cho mà như tiếp nhận được cả
niềm khuyến khích vô biên kèm theo một tình thương dịu dàng, kín
đáo. Giọng nói của thầy tôi lúc ấy có thể là giọng nói êm dịu nhất mà
tôi đã được nghe:
- Thầy tự khâu lấy cho xong để sáng mai con có áo mà mặc.
Thật là đơn sơ, nhưng tôi cảm động vô cùng khi tôi nghe câu ấy.
Thân tôi tuy lúc ấy không quỳ trước đức Phật, miệng tôi lúc ấy tuy
không đọc lời đại nguyện độ sinh, nhưng lòng tôi lúc ấy thật đã phát
lời thệ nguyện rộng sâu để sống cuộc đời phụng sự. Chú Tâm Mãn
đã nhìn tôi với một cái nhìn cảm mến. Vũ trụ của chúng tôi giờ phút
ấy thật là một vũ trụ của hương hoa.
Cho đến bây giờ. Tôi đã bao nhiêu lần may thêm áo mới. Những
chiếc áo nâu sau này, chiếc nào cũng có một thời gian được ưu đãi
rồi cũng có một thời gian bị lãng quên, nhưng chiếc áo nâu cũ rách
năm xưa bao giờ cũng giữ được địa vị thiêng liêng của nó. Ngày
xưa, mỗi lần tôi mặc áo là tôi nhớ đến Thầy tôi. Ngày nay, chiếc áo
rách quá không còn dùng được nữa, nhưng tôi còn giữ nó đấy để
nhiều lúc trầm tư nhớ lại một kỷ niệm êm đẹp của thời xưa.
Dì Tư
Không biết dì Tư xuất gia từ độ nào. Chỉ nghe nói rằng dì vào chùa
đã lâu lắm, hồi Hòa thượng chưa viên tịch. Năm nay dì đã già lắm,
có lẽ trên 60. Răng của dì chỉ còn lại năm ba cái, nhưng dì còn mạnh
khỏe lắm. Dì ở chung với dì Bang trong một cái liêu nhỏ, phía nhà
Trù. Hai dì lo việc bếp núc để giúp đỡ phần nấu nướng cho chư
Tăng. Dì Bang khó tánh hơn, nên chúng tôi ít gần, còn dì Tư thì luôn
luôn hoan hỷ. Dì thương chúng tôi lắm. Chú Tâm Mãn và tôi khi có
chuyện gì hay, thường đến thuật lại với dì. Bao giờ dì cũng đãi chúng
tôi một nụ cười dễ dãi, hiền hậu. Mỗi khi cười nhiều, đôi mắt dì nheo
lại gần như nhắm. Dì không biết quốc ngữ. Chứ Tâm Mãn dỗ ngon
dỗ ngọt bảo dì học, nhưng dì vẫn nhứt quyết không chịu:
- Thôi, các chú nghĩ bi chừ tui học tiếng Tây mần chi? Tui già rồi.
Các chú mới cần học cho hung để sau ni làm việc cho đạo. (Tôi xin
dịch: Thôi! Các chú nghĩ: bây giờ tôi học tiếng Tây làm gì? Tôi già rồi.
Các chú mới cần học cho nhiều, để sau này làm việc cho đạo).
Chú Mãn cười:
- Ấy, ai bảo dì học tiếng Tây dâu? Chúng tôi khuyên dì học chữ quốc
ngữ mà. Chữ quốc ngữ là chữ của nước mình.
Nhưng dì không nghe. Bởi vì dì không thể tin rằng cái thứ chữ viết
bằng bút sắt mà lại là cái chữ của mình được. Chữ của nước mình,
theo dì, là chữ “an nam”, chữ viết bằng bút lông kia.
Về chữ “an nam” thì dì cũng biết vò vẽ. Nghĩa là dì có thể đọc chập
chững được bài Thập phương hay bài Nhất tâm quy mạng. Dì rất
siêng năng. Không có thời tịnh độ nào là dì không đi. Mỗi khi gần đến
giờ tịnh là dì lo rửa mặt, rửa tay thật sạch sẽ. Dì mặc chiếc áo rộng
màu lam, cổ đeo một tràng hạt huyền đen nhánh, chân đi đôi guốc
lẹp kẹp. Dì kéo lê đôi guốc từ dưới bếp lên lầu chuông, rồi thì từ lầu
ể
chuông, dì đi chân không vào chùa đứng nép vào một góc để chờ đại
chúng thăng đường hành lễ.
Dì rất ham học. Dì đã thuộc lòng Di Đà, Hồng Danh Khể Thủ và Quy
Mạng. Dì muốn học Lăng Nghiêm. Chú Tâm Mãn và tôi sợ dì không
thể nào thuộc được Lăng Nghiêm, bởi vì chú Lăng Nghiêm dài bằng
năm sáu chú Đại bi. Làm sao mà dì học thuộc cho nổi, khi mà dì đã
già rồi, trí óc dì đã lẩm cẩm hay quyên rồi! Nhưng dì tha thiết quá,
thành khẩn quá. Chúng tôi đành phải chiều dì. Thế là chú Tâm Mãn
lấy một xấp giấy vàng bạc, đóng cho dì một cuốn tập. Tôi dán thêm
cho dì hai cái bìa cứng phết nước nâu. Mỗi ngày tôi viết trên sách ấy
mấy câu, bắt đầu từ Diệu trạm tổng trì bất động tôn... Chữ viết rất
lớn, một chữ to gần bằng hộp diêm. Tôi nói:
- Bắt đầu từ hôm nay, chú Mãn chỉ cho dì học, mỗi ngày một câu. Dì
siêng năng thì chừng ... năm tháng có thể học thuộc được kinh này.
Dì cười, mắt híp lại và hai hàm răng sún vẫn rất dễ thương:
- Năm tháng không xong thì bảy tháng. bảy tháng không xong thì
một năm. Chú đừng lo tôi không thuộc.
Rồi dì học rất siêng năng, Chú Mãn cứ tiếp tục chỉ cho dì học, ba bốn
hôm như thế. Cho đến hôm thứ năm, khi chú Mãn sắp sửa chỉ bài
mới, tôi liền đến “khảo hạch”, bắt dì đọc lại bài cũ. Bị thầy bắt trả bài
một cách bất ngờ, học trò luống cuống ngay. Thế là dì đọc không trôi
tám câu đã học. Tôi nói:
- Không được. Học như thế này thì không bao giờ thuộc được Lăng
Nghiêm, Rồi cứ học sau quên trước, học trước quên sau, đến bao
giờ thuộc được.
- Rứa thì thưa chú, chú có cách chi học cho mau thuộc, chú chỉ biểu
cho tui học với.
Tôi nói:
ế
ỗ
- Bây giờ thì thế này. Mỗi ngày học vài câu. Hôm nay chỉ bài, ngày
mai dò lại. Mà dò không thuộc thì bắt học lại bài cũ. Cứ ba bữa thì
học ôn một lần. Dì chịu không?
- Chịu.
- Vậy thì bữa nay bắt đầu học lại. Hôm nào không thuộc thì bị phạt.
- Phạt thì tôi cũng chịu phạt, bởi vì học mà không sợ phạt thì mần
răng cho mau giỏi, nhưng mấy chú tính phạt mần răng? Quỳ hương
thì tôi quỳ không nổi, bởi vì đầu gối yếu hung (yếu lắm) rồi.
Tôi cười:
- Ai bắt dì quỳ hương bao giờ. Để nghĩ ra cách khác.
Dì lại cười:
- Thưa các chú, các chú cứ nghĩ đi.
Tôi đang nghĩ đến các lối phạt ở trường học, nào “Cồng xin”
(consigne), nào chép bài, nào quét lớp... thì bỗng chú Mãn phá lên
cười. Tôi vội mắng:
Ấy chết, không được cười lớn, chú Mãn! Quý Thầy nghe, quý Thầy
rầy chết. Phải học hạnh trang nghiêm, chớ bao giờ cười lớn như thế.
Chú Mãn cố nín cười:
- Em đang nghĩ đến một lối phạt, mà đã nghĩ ra rồi nên bật cười
không thể ngăn cản được.
Tôi hỏi:
- Chú nghĩ ra cách nào, nói thử xem.
- Thế này nhé, mỗi khi dì không thuộc, thì dì phải cung cấp cho hai
anh em mình bốn khuôn đậu phụ chiên để ăn trong bữa cơm ngọ.
ầ
ấ
Dì Tư cười gần ngã sấp. nhưng tôi tán thành ngay:
- Phải đấy, tôi đồng ý với cái lối phạt đó.
Cái món ăn thích nhất của chúng tôi là đậu khuôn (đậu phụ) chiên.
Chùa nghèo, thành thử phần lớn các bữa ăn đều là đạm bạc. Một
bữa cơm có đậu phụ đối với chúng tôi, là một bữa cơm “lý tưởng” mà
dì Tư lại có thể là tác giả của những bữa cơm lý tưởng ấy! Bởi vì dì
giữ cái phần đi chợ, mua các thức ăn. Bốn khuôn đậu (hay hai thôi
cũng quý rồi) dành riêng cho chúng tôi! Thật là một điều hy hữu.
Chúng tôi thường chấp tác ngoài vườn chùa từ mười tới mười hai
giờ, và thường trở về chùa ăn cơm sau đại chúng. Một mâm cơm
nhỏ đợi hai chúng tôi ở trên ghế quá đường mỗi khi chúng tôi về
muộn. Nếu trên mâm cơm ấy mà thỉnh thoảng “ngự” một đĩa đậu
khuôn rán thì thú biết chừng nào!
Cái lối phạt mà chúng tôi mới phát minh ra, chúng tôi rất bằng lòng
nó. Dì Tư cũng bằng lòng. Ấy thế là thỉnh thoảng chúng tôi được
thưởng thức trong bữa cơm những miếng đậu phụ thơm tho và ngon
lành. Chú Tâm Mãn còn ít tuổi nên có lúc không nhịn được cười, cứ
vừa ăn vừa khúc khích. Tôi cũng muốn cười, nhưng thấy mình lớn
hơn, đành phải “lập nghiêm”:
- À ra cái chú Tâm Mãn này, ăn cơm không quán “ngũ quán” mà cứ
cười mãi nhé!
Có một độ, dì Tư thuộc bài luôn luôn. Chúng tôi không có dịp phạt và
vì thế, đậu khuôn cũng vắng trên mâm cơm, tôi nói với chú Tâm Mãn
trong một bữa cơm trưa:
- Lâu nay không có đậu khuôn chú Mãn nhỉ.
Chú Mãn ghé miệng vào tai tôi thầm thì. Tôi gật đầu và mỉm cười:
- Đồng ý với chú.
ế
ổ
ề
ế
ố
ắ
ế
Thế là buổi chiều hôm đó, dì Tư phải học đến bốn câu. Tôi chắc thế
nào ngày mai dì cũng “bị phạt”. Trưa ngày hôm sau, vào giờ “chỉ tịnh”
tôi xuống bếp tìm mượn cây dao nhíp lên rọc giấy đóng sách, thì thấy
dì đang dựa lưng vào thành cối ngủ gật, tay cầm quyển kinh. Nghe
tiếng động, dì ngồi ngay dậy. Tôi hỏi:
- Sao dì không vào nghỉ trưa một chút kẻo mệt? Dì đi nghỉ đi, để
chiều làm việc. Chiều nay còn đi kiếm thêm củi nữa nhé.
Dì nói nhỏ:
- Tui phải học cho thuộc không thì chiều ni bị chú Mãn phạt. Nguy
lắm.
Tôi cười:
- Nguy gì! Chỉ tốn công chiên đậu phụ mà thôi.
Nhưng dì gọi tôi đến gần, hạ giọng:
Chiên đậu thì không tốn công mô, nhưng mà lâu nay tiền chợ hằng
ngày thầy thủ khố (quản lý) phát chừng mực lắm. Năm nay lúa ruộng
của chùa thâu được không bao lăm. Tiền không đủ mua rau cho đại
chúng, thì lấy mô để mà mua đậu khuôn nộp phạt.
- Vì vậy mà dì cố học bài cho thuộc để khỏi bị phạt chớ gì?
Dì gật. Cái gật đầu có vẻ đăm chiêu, nhưng rồi dì lại cười. Nghe dì
nói, và nhìn cái cười của dì, tôi thấy hơi hối hận. Rồi cảm thấy
thương dì vô hạn. Tôi nói:
- Tôi và chú Mãn sẽ bỏ cái lối phạt ấy từ nay. Sẽ tìm cách phạt khác.
Từ nay dì đừng chịu phạt đậu khuôn nữa nhé. Thôi dì cất sách mà đi
nghỉ một lát kẻo mệt.
Dì Tư vui vẻ làm theo ngay. Tôi vào phòng chú Mãn, thầm thì với chú
câu chuyện vừa xảy ra. Rồi tôi dí một ngón tay lên trán chú:
ấ
- Chỉ tại chú đấy nhé.
Chú Mãn nhìn tôi hơi trách móc, và nói như làm nũng:
- Thế ai bảo chú đồng ý với em?
Tiếng chuông Giao Thừa
Chúng tôi đinh ninh rằng chúng tôi là những người hồi cư sớm nhất,
nhưng không phải. Về đến địa hạt Dương Xuân Thượng, chúng tôi
biết rằng đã có nhiều gia đình về trước chúng tôi đến cả nửa tháng.
Trên con đường núi đưa về chùa, cỏ mọc che cả lối đi. Chú Tâm Mãn
đẫn đầu đoàn người hồi cư, có vẻ nóng nảy hơn ai hết. Thật ra, trong
số sáu người hồi cư, không ai là không mong cho mau về đến chùa.
Xa chùa đã mấy tháng, chúng tôi không mong sao được. Những
người lớn tuổi điềm đạm và lặng lẽ nhất cũng tỏ vẻ sốt ruột. Chúng
tôi về chùa như một đoàn thám hiểm núi rừng: mọi người phải vạch
cỏ bẻ lau cho có lối đi Tất cả đều mặc áo ngắn, kể các thầy. Áo tràng
và áo nhật bình chúng tôi đều cuốn bỏ chung với những dụng cụ,
mang trên vai hoặc xách nơi tay. Tất cả đều mệt mỏi rã rời. Chúng tôi
đã trải qua năm sáu ngày đi bộ đường trường còn gì! Về gần đến
chùa bao nhiêu lo ngại hình như đã tiêu tan. Xóm làng rải rác trên
các nẻo núi đồi tuy còn mang nặng vẻ lặng lẽ khiếp sợ, nhưng cũng
đã phảng phất có sinh khí. Chúng tôi thấy nhẹ nhõm cả tâm hồn.
- Chùa kia rồi!
Chú Tâm Mãn buột kêu lên một tiếng vui mừng. Dưới bóng những
cây thông cao vút, mái tam quan của chùa hiện ra như một hình bóng
quen thuộc và thân yêu từ những tiền kiếp xa xưa nào. Không ai là
không cảm động. Tôi băn khoăn không biết dì Tư có an ổn không, có
còn mạnh khỏe trong cảnh đạn lửa tơi bời. Hồi chúng tôi được giấy
buộc phải tản cư, dì Tư đã nhất quyết xin ở lại chùa. Chúng tôi
khuyên can thế nào cũng không được.
- Xin các Thầy và các Chú cứ về quê để mà lánh nạn. Các Thầy và
các Chú cần sống để làm việc cho đạo. Tôi xin ở lại giữ chùa. Không
can gì đâu, tôi già cả rồi, Với lại dù có gì đi nữa, tôi cũng không tiếc.
Chúng tôi dùng đến cả uy lực nữa, nhưng cũng không lay chuyển
được dì. Cuối cùng, phải để cho dì ở lại. Tôi đã cẩn thận chỉ chỗ cho
ẩ
ỗ
ế
ổ
ấ
dì ẩn núp mỗi khi có tiếng súng nổ. Tôi cũng đã chỉ cách cho dì giấu
gạo và thức ăn ở một nơi kín đáo. Xong cả đâu đấy và sau khi cầu
Phật cho dì ở lại bình yên, tôi mới theo các Thầy và các Chú lên
đường.
Vì vậy nên khi trở về, tối cứ băn khoăn lo ngại mãi, không biết dì ở
nhà có bình an không. Nhưng nỗi lo ngại liền biến mất khi chúng tôi
bước vào tam quan chùa. Từ xa, tôi nhận ra bóng dì Tư với chiếc áo
nâu dài bạc màu, đang múc nước bên suối. Chú Mãn gọi tên dì thật
to. Dì bỏ thùng xuống nhìn lên. Khi thấy bóng các Thầy và chúng tôi,
dì lật đật chạy ra, và cảm động quá dì không nói năng được. Dì chỉ
khóc.
Mái chùa bị đạn hư hỏng mất nhiều chỗ. Tường chùa cũng lỗ đỗ
những vết đạn. Cảnh vật có vẻ tiêu điều hơn trước. Tuy nhiên ngoài
những vết đạn kia, chùa không bị thương tích nào quá nặng đến nổi
phải hư đổ như những nơi khác. Nổi vui mừng thứ nhất của chúng
tôi và của dì Tư là số người tản cư trở về không hao thiếu một người
nào.
Hôm chúng tôi trở về chùa là hôm hăm bảy tháng chạp. Cho đến
chiều hôm đó, chúng tôi mới được ăn một bữa cơm nóng sốt và
tươm tất, do dì Tư sửa soạn. Trong mấy tháng trời, chúng tôi ăn
uống thiếu hụt kham khổ; không có bữa nào có thể gọi được là bữa,
Một lít tương làm thức ăn cần thiết thì đã được pha loãng bao nhiêu
lần trong những lít nước muối. Những chén cơm trộn đến hai phần
ba khoai sắn bao giờ của được “tiêu thụ” một cách ít oi chừng mực.
Thêm vào đó cái khổ không giường không chiếu làm cho chúng tôi ai
cũng ốm và đen.
Sau khi dùng cơm, tất cả đều ngủ vùi một giấc mê mệt cho đến sáng.
Qua ngày hôm sau, chúng tôi mới bắt đầu chương trình “kiến thiết”.
Những đồ đạc trong chùa đều được lau chùi sửa soạn lại. Chúng tôi
quyết dọn phòng xá, sắp đặt những đồ vật ngổn ngang. Định sửa
soạn để ăn một cái Tết hồi cư.
ố
ấ
ấ
Và suốt ngày hôm ấy, chúng tôi vui vẻ như đã thấy nét mặt của hòa
bình. Nhưng tối đến, không khí chiến tranh và của chết chóc trở lại.
Tiếng súng nổ ran bốn phía. Đạn bay vèo vèo trên mái ngói. Mọi
người ngồi yên trong liêu phòng, cửa đóng kín mít. Thỉnh thoảng,
ánh sáng của một trái châu từ đồn canh bắn lên, chiếu qua những
kẹt cửa. Tiếp đến, những tràng liên thanh nổ ròn liên tiếp.
Tôi ngồi với chú Mãn trong nhà hậu, bên ánh đèn dầu lù mù. Chúng
tôi nghĩ đến cảnh tượng chết chóc đang diễn ra bên ngoài và cùng
lặng lẽ niệm Phật cho những người xấu số, nhưng rồi thời khắc qua.
Đêm hăm tám trở lại yên tĩnh, nhưng một sự an tĩnh luôn luôn bị đe
dọa.
Từ hôm trở về chùa đến nay, buổi tối và buổi khuya chú Mãn không
thỉnh đại hồng chung nữa. Bởi vì dì Tư không cho. Dì bảo rằng có
một buổi tối (hồi chúng tôi đi khỏi) vừa lên lầu thỉnh được năm sáu
tiếng chuông thì dì nghe có tiếng động bên dưới. Lật đật chạy xuống,
dì thấy năm sáu ông tây đang hung dữ đi vào. Họ chỉ súng vào dì đe
dọa và ra hiệu không cho dì thỉnh chuông nữa. Có lẽ họ sợ rằng tiếng
chuông là một ám hiệu của địch quân. Hay có lẽ vì họ ghét không
muốn nghe tiếng đại hồng chung cũng nên. Từ đó, mỗi buổi tối và
buổi khuya, dì không dám thỉnh chuông nữa. Tối hôm chúng tôi về, dì
đã căn dặn chú Mãn.
- Buổi tối và buổi khuya mà không có tiếng chuông thì thấy nhạt
nhẽo làm sao ấy. Dì chép miệng.
Mà thực thế. Không có gì nhạt nhẽo và lạnh lùng bằng những buổi tối
thiếu tiếng đại hồng chung. Không khí trong chùa trở nên buồn tẻ.
Núi rừng cũng tăng vẻ hoang dại. Tiếng dế trở nên dày dặc và thê
lương hơn. Ở chùa, thường thường mỗi buổi khuya chúng tôi thức
dậy lúc bốn giờ. Sau khi rửa mặt rửa tay xong, chúng tôi ngồi bán già
trên “đơn” của mình, lắng nghe tiếng đại hồng chung và thực hành
phép tĩnh tọa hay niệm Phật. Bây giờ, buổi khuya không có tiếng
chuông. Chúng tôi thấy thiếu một cái gì rất quan trọng. Tôi không
ngồi tĩnh tọa được nữa. Hai ba bữa nay, chúng tôi phải rời “đơn”, ra
ắ
ồ
ể
ấ
ể
bàn thắp đèn bạch lạp ngồi học bên nhau để tìm sự ấp áp và cũng để
quên rằng chùa không thỉnh chuông. Những buổi tụng niệm công
phu cũng trở nên thiếu thốn buồn tẻ. Tiếng chuông gia trì nhỏ quá,
yếu đuối quá, không đủ sức xua đuổi bầu không khí ảm đạm và lặng
lẽ của núi đồi, trong những buổi đêm tối đen và những buổi khuya mịt
mờ sương phủ.
Tuy nhiên chúng tôi không muốn để cho cái Tế trở về trong không khí
buồn tẻ âm u ấy. Vâng lời các Thầy, chúng tôi đem lư trầm, chân đèn
và các đồ thờ lau chùi cho thật bóng. Dì Tư đã nhân khi rảnh việc, đi
chặt về những lá chuối. Dì đã ngâm nếp và đỗ xanh.
- Thế nào tôi cũng nấu được một nồi bánh tét cho các chú xem. Ấy
thế là dì bắt tay vào việc. Chúng tôi vui lòng giúp đỡ dì. Nhưng đến
hôm hăm chín Tết, chú Mãn có một ý rất hay:
- Mình làm mứt ăn Tết, thưa chú.
Thoạt tiên tôi không biết nên làm mứt với cái gì. Nhưng chú Mãn giải
thích ngay:
- Mình chỉ làm mứt “bình dân” thôi, bằng khoai lang và bằng củ sắn
mì.
Chúng tôi liền hăng hái thực hành ngay. Khoai và sắn thì thiếu gì
ngoài vừa chùa.
Dì Tư sợ người ta vào đào trộm sắn, đã chặt sát gốc tất cả vườn sắn
từ mười lăm hôm nay. Những đọt sắn non vừa lên chừng một tấc
tây; đứng ngoài nhìn vào, người ta tưởng đó là một vườn sắn trồng
chừng một tháng. Sắn một tháng làm gì đã có củ! Nhờ thế vườn sắn
đang còn nguyên vẹn, chưa bị đào trộm như vườn khoai.
Đường thì chúng tôi nhờ dì Tư mua thứ đường đen, ở cái chợp xép
họp tạm dưới đồi Dương Xuân. Dì Tư đã khéo léo mua thêm một ít
vừng. Thứ mứt của chúng tôi chẳng qua là một thứ khoai ngào, có
ế
ế
ố
trộn vừng rang. Thế thôi! Nhưng như thế cũng đã là sang chán đối
với một cái Tết hồi cư nghèo khổ.
Điều an tâm nhất là chúng tôi đang còn lúa để xay ăn dần cho đến
mùa gặt sang năm. Trước hồi tản cư, sáu bảy thầy trò đã hì hục đem
chôn lúa sau vườn, trong những cái chum sành rất lớn. Chúng tôi
đào dần lên từng chum, xong lấp đất như cũ. Sang năm, ruộng chùa
thế nào cũng cung cấp kịp cho chúng tôi.
Đêm ba mươi. Nồi bánh chưng sôi sùng sục ở giữa nhà. Tất cả đều
bắt ghế ngồi quanh đống lửa, từ các Thầy các Chú cho đến dì Tư.
Trời hơi lạnh. Một vài tiếng súng lẻ tẻ. Chúng tôi ngồi thức và nói
chuyện, đợi giờ đón giao thừa và lạy vía Đức Di Lặc. Ngoài kia, trời
tối như hũ nút, chỉ có một vài vì sao lộ ra yếu ớt trên nền trời đen kịt.
Tết năm nay, chúng tôi chỉ có bảy người. Bởi vì trên đường trở về, vị
Thượng tọa thầy tôi và bốn thầy khác đã thuận bước ghé thăm một
ngôi chùa cổ bị tàn phá. Chúng tôi ba thầy và ba trò đã trở về trước.
Mãi cho tới hôm nay, Thượng tọa chưa thấy về.
Ngồi bên đống lửa, tôi nghĩ nhiều đến vị trưởng lão đáng kính ấy.
Hôm tản cư, thầy khuyên chúng tôi lên đường, nhưng chính thầy tôi
lại không đi. Thật ra, trong đại chúng không ai muốn đi tản cư cả.
Nhưng lệnh đã đưa ra, bắt toàn xóm tản cư, chùa cũng không thể
không đi. Đại chúng đã bạch rằng Thượng tọa không thể ở lại một
mình, và nếu Thượng tọa ở lại, tất cả cũng đều nhất tâm ở lại, mặc
dù trái với lệnh chính quyền. Cuối cùng, Thượng tọa phải miễn
cưỡng theo các thầy để đi lánh nạn. Ngài nói:
- Nếu quả đại chúng đã gây nhân tai nạn thì dù ta có lánh đi đâu
cũng không...
Cứ đúng mười hai giờ trưa chú Tâm Mãn, trịnh trọng trong chiếc áo
năm thân màu lam, mang bình bát đựng cơm cúng Phật đặt lên bàn
giữa của Tổ đường và nhắc tôi một câu:
- Đến giờ cúng ngọ rồi, thưa chú.
Nói xong chú mỉm cười nhìn tôi rồi lui xuống nhà dưới để lo buổi ngọ
thực cho đại chúng. Tôi cũng mỉm cười hoan hỷ lại với chú và buông
bút lông, xếp chồng kinh sách lại chỗ cũ để sửa soạn đi cúng dường.
Ở chùa, phận sự của tôi trong buổi trưa là dâng cơm cúng Phật. Chú
Tâm Mãn thì lo phụ giúp dưới nhà trù và sau khi dọn trai phạn, chờ
cúng Phật xong thì đánh ba tiếng bản hiệu lệnh để báo giờ ngọ thực.
Hôm nay chú Tâm Mãn mang bình bát lên với một nét mặt trầm tư.
Nụ cười mọi hôm không còn nữa. Tôi đỡ lấy bình bát trên tay chú,
nói lời cảm ơn, và nhìn chú trở lui xuống nhà dưới. Chúng tôi trang
nghiêm và buồn bã hơn, vì một cái tang nhỏ đã xảy ra cho chúng tôi
từ ngày hôm qua.
Trước đây nửa tháng, một hôm sau khi cúng Phật xong, tôi đi tắt
những cây đèn nến trong chùa, Khi đến gần bàn Phật để tắt ngọn
bạch lạp cắm trên cặp chân đèn đồng cao, tôi thấy từ trong bình bát
nhảy ra một chú thằn lằn, miệng tha mấy hạt cơm. Đôi mắt sáng như
hai chấm thủy tinh, nhìn tôi như hoảng sợ. Tôi không xua đuổi,
nhưng chú thằn lằn cũng chạy mất về phía sau tượng Phật.
Ngỡ là chỉ một lần thôi, nhưng đến hôm sau, khi tắt đèn, tôi cũng lại
thấy chú thằn lằn từ trong bình bát phóc ra, Cũng hai con mắt sáng
hai châm thủy tinh nhìn tôi kinh hoàng, cũng cái miệng nhỏ tha theo
vài hạt cơm trắng muốt.
ế
ể
Đến hôm sau nữa, tôi để ý rình. Mang theo bình bát đặt lên bàn Phật,
tôi chưa mở nắp vội. Tôi thắp nến, thắp hương, kính cẩn lạy Phật
như thường lệ, thỉnh ba tiếng chuông rồi mới mở nắp bình bát. Chưa
thấy tăm dạng chú đâu cả. Tôi nhẹ nhàng khai chuông mõ, và xướng
bài cúng hương, rồi tụng chú Đại bi, nhưng kia, lấp ló phía sau đỉnh
trầm, xuất hiện hai chấm sáng như thủy tinh. Tôi bình tĩnh tụng tiếp
chú Đại bi và làm như không hay biết gì cà. Chú thằn lằn tiến tới, tiến
tới dần. Chiếc đầu nhỏ bé đã ngóc lên miệng bình bát. Phút chốc,
chú đã nhảy vào nằm gọn trong bình bát.
Hôm ấy tôi đọc bài Cúng dường không được nhất tâm chút nào.
Nghĩ đến cơm dâng cúng Phật đang bị một con thằn lằn vọc phá, tôi
tưởng như mình đã mang tội bất kính đối với Tam Bảo. Tôi thấy giận
cái chú thằn lằn quái nghịch kia, giận vì nó đã làm cho tôi rối loạn vì
một việc không đâu. Miệng đọc bài Cúng dường mà tâm cứ xao
động; có lúc tôi định đứng dậy đuổi quách con thằn lằn kia đi, nhưng
hình như có một thế lực nào bắt tôi quỳ tụng cho hết bài Cúng dường
và Hồi hướng.
Hôm sau tôi quyết không mở nắp bình bát nữa. Sau khi thắp đèn, đốt
hương, tôi quỳ xuống, khai chuông mõ và cúng dường như thường
lệ. Vẫn đôi chấm thủy tinh xuất hiện sau đỉnh trầm, vẫn chú thằn lằn
của mọi hôm bò dần đến bình bát, nhưng đôi mắt kia đã trông thấy
chiếc bình bát đậy nắp, ngơ ngác nhìn ngược xuôi. Cuối cùng chú
thằn lằn trở về lối cũ phía sau đỉnh trầm.
Trong sát na thứ nhất, tôi thấy sung sướng vì đã trả được cái thù
hôm qua, nhưng qua sát na thứ hai, tâm hồn tôi bỗng nhiên xao
xuyến bâng khuâng, hối hận. Có một cái gì hình như sự tàn nhẫn,
nhỏ nhen, thấp kém, đang làm cho lòng tôi vẩn đục. Tôi khổ tâm quá.
Tôi không dám nhìn đức Phật khi tôi mang bình bát đi ra.
Trưa hôm ấy, tôi cáo mệt, không xuống thọ trai. Độ một giờ trưa, chú
Tâm Mãn lên thăm:
- Chú mệt nhiều không? Em nấu cháo cho chú xơi nhé.
ồ
ố
Tôi kéo chú Tâm Mãn ngồi xuống bên đôn và nhìn chú, tôi hỏi:
- Này tôi đố chú nhé: hôm nào mình cũng dâng cơm cúng Phật, thế
Phật có thọ hưởng không?
- Đã gọi là “hưởng” thì không phải “ăn”.
- À thì ra thế, nhưng này chú Mãn ạ...
- Chú nói gì cứ nói, em xin nghe.
- Tôi tưởng Phật không “ăn” mà cũng không “hưởng”.
- Thì em cũng nghĩ như chú đấy. Bởi vì có một hôm đem bình bát để
xới cơm cúng Phật, em sực nghĩ rằng chúng ta cúng Phật chẳng
phải là cúng cơm cho Phật mà cúng tấm lòng thành của chúng ta cho
Phật mà thôi.
Tôi nắm chặt tay chú Mãn:
- Phải, chú nói đúng lắm. Mỗi ngày đều tưởng nhớ Phật, xem như
đức Phật còn tại thế nên chúng ta mới cúng dường. Sự cúng dường
cốt ở trong tâm mà thôi, vì trong kinh có dạy “cúng Phật thì công đức
vô lượng”.
- Thôi để bây giờ em đố lại chú nhé: tại sao trong kinh lại có câu
“cúng dường chúng sinh tức là cúng dường chư Phật”? Nhưng thôi
em đùa đấy, chỉ là một câu kinh em không hiểu đem ra hỏi chú đấy
chứ không dám đố chú đâu.
Tôi lặng yên, không dám trả lời. Câu hỏi của người em đồng sư làm
cho tôi choáng váng. Vấn đề giản dị như thế mà tôi đã không giải
quyết được một cách dễ dàng. Bản nguyện của Đức Phật là cứu khổ
ban vui cho mọi loài chúng sinh. Làm cho chúng sinh bớt đau khổ tức
là làm vui lòng chư Phật. Tại sao tôi lại đậy nắp bình bát không cho
con thằn lằn lấy bớt vài hạt cơm để nuôi thân?
ắ
- Kìa, sao chú không trả lời em? Chú Tâm Mãn nhắc. Tôi cười:
- Nghĩa là cứ mở nắp cho thằn lằn tự do vào chứ gì.
Thấy bộ tịch ngơ ngác không hiểu ất giáp gì của chú Mãn, tôi bật
cười và kể lại cả câu chuyện cho chú nghe. Tôi cũng không quên
cám ơn chú đã nhắc cho tôi một lối giải quyết hợp lý. Nét mặt chú
tươi lên; chú nói:
- Nếu thế tại sao mỗi khi cúng Phật, ta không đem theo ít hạt cơm để
dưới chân bình bát? Chú thằn lằn của sư huynh sẽ bằng lòng với
những hạt cơm đó mà không quấy phá đến cơm cúng Phật nữa.
Thật là thần diệu. Chúng tôi thích ý nắm tay nhau, nhưng không dám
cười vang, sợ gây nên tiếng ồn trong các phương trượng mà đại
chúng đang nghỉ ngơi.
Hôm qua, sau giờ ngọ, tôi nắm tay chú Mãn, báo tin cho chú biết con
thằn lằn của chúng tôi đã chết.
- Tôi đang đốt trầm thì nghe một tiếng “chạch” trên nền đá. Đến nơi
đã thấy nó chết rồi chú ạ.
- Nhưng chắc đâu đó là con thằn lằn của chúng ta độ nọ?
- Sao lại không chắc hả chú? Cho đến hôm qua, nghĩa là đã mươi
hôm nay, hôm nào nó cũng tha cơm cả. Thế mà hôm nay, mấy hạt
cơm tôi đặt dưới chân bình bát vẫn còn nguyên vẹn...
Chú tâm Mãn an ủi tôi:
- Thôi chú ạ, em chắc rằng một khi con thằn lằn đã biết ăn cơm, nó
sẽ không ăn kiến ăn mối. Nó đã không gây tội ác, nó được ăn cơm
Phật thì chắc nó cũng được vãng sinh... Chúng ta cầu nguyện cho
nó.
ế
ế
ố
ố
Tôi nghĩ đến một kiếp sống chúng sinh. Một chút sống nhỏ bé và bèo
bọt nổi lên trên biển hiện tượng, rồi chìm lặng trong quên lãng nghìn
đời.
Tâm trí chìm đắm trong những suy tưởng siêu hình, tôi chậm rãi đáp
lời chú Tâm Mãn:
- Phải, chúng ta nên cầu nguyện cho nó...
Chiếc áo
Có những chiếc áo không bao giờ xấu và cũ. Tôi có một chiếc áo nâu
đã sờn rách và bạc màu, nhưng tôi quý hơn tất cả những chiếc áo
khác của tôi. Tôi không thấy chiếc áo ấy xấu và cũ một tí nào, trong
khi các bạn đồng học đồng tu của tôi gọi nó là “chiếc áo ba mươi bảy
kiếp khổ hạnh”. Suốt thời gian theo học Phật ở chùa Báo Quốc tôi đã
dùng chiếc áo kia với một sự ưa thích mặn nồng. Chiếc áo ấy nay đã
rách quá, không còn mặc được nữa, nhưng tôi vẫn giữ kỹ bởi vì đó là
một kỷ niệm quý giá trong đời xuất gia thiếu niên của tôi.
Không thấy nó xấu và cũ, bởi vì tôi thường đem cả cái tinh thần chủ
quan của tôi mà nhìn ngắm nó, sử dụng nó. Cái áo đó hơi rộng bởi vì
chính là áo của thầy cho tôi, mà nhất là thầy tôi cho đúng vào lúc tôi
đang sửa soạn một tâm trạng chân thành để phát nguyện sống đời
giải thoát.
Hồi ấy tôi xin vào chùa để học làm điệu, nghĩa là xin tập sự xuất gia.
Lúc tôi xin vào, thì số lượng đại chúng đã là gần hai mươi vị, phần
nhiều là các vị đã tu học lâu năm. Học làm “điệu” như tôi chỉ có ba
người. Chú Tâm Mãn vào sau tôi một năm. Thế là bốn. Chúng tôi học
chung, làm việc chung. Công việc của chúng tôi nặng nề nhất, bởi vì
tuổi tu của chúng tôi ít hơn. Năm thứ nhất, chúng tôi học công phu,
luật Sa di. Năm thứ hai, chúng tôi hoặc Luật giải và những bộ kinh
phổ thông. Năm thứ ba, trong số bốn điệu tôi và chú Mãn được xem
luôn luôn học khác hơn cả. Chúng tôi hy vọng được làm lễ thế độ
trước. Làm lễ thế độ là được chính thức thọ giới xuất gia. Chúng tôi
chờ đợi giờ phút ấy như chờ đợi một sự thành công rực rỡ. Riêng
tôi, tôi mong mỏi giờ phút ấy còn hơn một thí sinh mong mỏi giờ phút
tuyên bố kết quả một cuộc thi sau bao năm học tập.
Giờ phút ấy, cuối cùng, đã đến... Một buổi chiều gánh củi về nhà, tôi
được chú Tâm Mãn báo tin mừng. Thầy tôi (vị Thượng Tọa) sẽ cho
tôi chính thức thọ giới xuất gia trước khi gởi tôi về Phật Học Đường
Báo Quốc. Một mình tôi thôi, bởi vì chỉ có tôi đủ điều kiện tuổi tác và
ổ
khả năng nhập học. Chú Tâm Mãn vì còn nhỏ, thua tôi hai tuổi, thành
thử dù có sức học nhưng cũng chưa được chính thức làm lễ thế độ.
Trong niềm vui mang ít nhiều bồng bột của tuổi thiến niên ấy, tôi cảm
thấy lớn hẳn lên, quan trọng hẳn lên. Chú Tâm Mãn chia với tôi niềm
vui ấy một cách sốt sắng chân thành. Ngày khai giảng Phật Học
Đường sắp đến. Chúng tôi bàn soạn với nhau về mọi công việc.
Riêng về lễ thọ giới, đã có các Thầy lo liệu cho, tôi chỉ việc ôn lại cho
thuộc lòng bốn quyển luật Sa di mà thôi. Chúng tôi bàn nhau gởi thư
về nhà xin một số tiền nhỏ để nhờ dì Tư đi chợ Bến Ngự mua một ít
hương trầm hoa quả để cúng Phật trong ngày lễ thọ giới của tôi. Nếp
và đậu chúng tôi nhờ dì Tư nấu xôi chè cúng dường đại chúng chư
tăng để kỷ niệm một ngày đáng ghi nhớ nhất trong đời xuất gia học
đạo. Nhưng nhà thì xa, gởi thư về không biết có kịp không. Chúng tôi
bày tỏ mối lo ngại với dì Tư, dì Tư đã già. Dì cười với hai hàm răng
sún rất là dễ thương: “Các chú cứ gởi thư đi, nếu tiền không đến kịp,
tôi sẽ lấy quỹ của nhà bếp mà mua cho các chú, rồi mình sẽ bù vào
sau”. Thế là chúng tôi mừng rỡ, lên sửa soạn rương kinh sách. Chú
Mãn ôm từng chồng giấy vàng bạc bỏ vào rương tôi. Những giấy
vàng vạc là do người thập phương đem đên cúng chùa. Thầy tôi dặn
đừng đốt, để dùng mà viết kinh. Suốt mấy năm nay chúng tôi đã tập
chữ và chép kinh trên giấy ấy mà học. Chú Tâm Mãn chừng sợ tôi ra
tường thiếu giấy viết, nên ôm bỏ đầy một góc rương của tôi.
Lễ thọ giới của tôi được định vào bốn giờ khuya mai. Tôi hôm nay,
khi cùng đại chúng đi công phu tịnh độ ra, tôi thấy thầy tôi ngồi trên
bồ đoàn, trang nghiêm khâu lại một đường rách của một chiếc áo
nâu cũ, bên ánh sáng lung linh của cây đèn bạch lạp. Thầy tôi ngồi
bán già, ung dung đưa những mũi kim qua lần áo vải. Tuy đã già,
nhưng mắt Thầy còn sáng và dáng ngồi của Thầy còn thẳng. Tôi và
chú Tâm Mãn dừng lại ở cửa phương trượng, ngắm cái cảnh tượng
đẹp đẽ trang nghiêm ấy một lúc lâu. Dưới ánh sáng trong trẻo của
ngọn bạch lạp, bên chiếc án thư đặt một chồng kinh Hán tự, thầy tôi
có dáng dấp tự tại và trang nghiêm của một vị đại Bồ Tát đương
sống những phút trầm tư.
Mãi một lúc sau, chúng tôi mới nhè nhẹ bước vào phương trượng.
Thấy động, thầy tôi ngửng lên. Thấy chúng tôi, người sẽ gật đầu cúi
xuống với đường kim nửa chừng. Chú Tâm Mãn thưa:
- Bạch Thầy xin Thầy đi nghỉ kẻo khuya ạ.
Thầy tôi không ngửng lên:
- Để Thầy khâu lại cái áo tràng nâu để sáng mai cho chú Quán mặc.
Bây giờ tôi mới hiểu tại sao hồi chiều thầy tôi đã mất cả một buổi
soạn lại những chiếc áo cũ. Thì ra thầy tôi tìm một chiếc áo lành lặn
nhất trong số đó, rồi khâu lại một vài đường rách để cho tôi. Ngày
mai tôi sẽ được mặc, lần đầu tiên, một chiếc áo tràng. Ba năm nay
chúng tôi chỉ mới được mặc áo năm thân màu lam. Thọ giới xuất gia,
tôi sẽ được phép mặc thứ áo quí giá ấy, thứ áo mà trong luật gọi là
áo giải thoát - giải thoát phục. Tôi run run bạch lại:
- Bạch Thầy, để chúng con nhờ dì Tư chúng con khâu cũng được.
- Không, thầy muốn tự tay thầy khâu lại cho con.
Im lặng, Chúng tôi vòng tay lễ phép đứng hầu một bên, không dám
nói thêm một lời nào nữa. Một lát sau, thầy tôi, mắt vẫn không rời mũi
kim, lên tiếng:
- Các chú có nghe trong Kinh dạy rằng ngày xưa có một vị đại đệ tử
chỉ nhờ khâu y mà chứng ngộ không? Để thầy nói cho nghe. Vị đại
đệ tử ấy thường tìm sự thích thú an lạc trong việc vá lại những chiếc
y đã rách, vá lại cho mình và những bạn đồng tu. Mỗi khi đâm qua
một mũi kim, ngài làm phát sinh một tâm niệm lành, một tâm niệm
giải thoát. Cho đến một ngày kia, khi mũi kim vừa thấu qua làn vải,
ngài liền thấu suốt được một pháp môn thâm diệu, và trong sáu mũi
liên tiếp, ngài chứng được lục thông.
Tôi ngước nhìn Thầy tôi với một niềm kính mến vô biên. Thầy tôi với
đạo phong uy nghi thế kia thì dù chưa chứng được lục thông đi nữa
ế
ế
cũng đã lên đến một trình độ giải thoát tự tại mà không biết bao nhiêu
lâu nữa, chúng tôi mới mong đạt đến được.
Nhưng chiếc áo đã khâu xong. Thầy tôi ra hiệu cho tôi lại gần. Người
bảo tôi mặc thử. Chiếc áo đối với tôi hơi rộng, nhưng không phải vì
thế mà tôi không cảm thấy hân hoan đến gần chảy nước mắt. Tôi
cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ
tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm
ngát hương vị lý tưởng đã từng nuôi dưỡng chí nguyện của tôi trong
suốt bao nhiêu năm trường xuất gia tu học.
Tôi tiếp nhận cái áo của thầy tôi trao cho mà như tiếp nhận được cả
niềm khuyến khích vô biên kèm theo một tình thương dịu dàng, kín
đáo. Giọng nói của thầy tôi lúc ấy có thể là giọng nói êm dịu nhất mà
tôi đã được nghe:
- Thầy tự khâu lấy cho xong để sáng mai con có áo mà mặc.
Thật là đơn sơ, nhưng tôi cảm động vô cùng khi tôi nghe câu ấy.
Thân tôi tuy lúc ấy không quỳ trước đức Phật, miệng tôi lúc ấy tuy
không đọc lời đại nguyện độ sinh, nhưng lòng tôi lúc ấy thật đã phát
lời thệ nguyện rộng sâu để sống cuộc đời phụng sự. Chú Tâm Mãn
đã nhìn tôi với một cái nhìn cảm mến. Vũ trụ của chúng tôi giờ phút
ấy thật là một vũ trụ của hương hoa.
Cho đến bây giờ. Tôi đã bao nhiêu lần may thêm áo mới. Những
chiếc áo nâu sau này, chiếc nào cũng có một thời gian được ưu đãi
rồi cũng có một thời gian bị lãng quên, nhưng chiếc áo nâu cũ rách
năm xưa bao giờ cũng giữ được địa vị thiêng liêng của nó. Ngày
xưa, mỗi lần tôi mặc áo là tôi nhớ đến Thầy tôi. Ngày nay, chiếc áo
rách quá không còn dùng được nữa, nhưng tôi còn giữ nó đấy để
nhiều lúc trầm tư nhớ lại một kỷ niệm êm đẹp của thời xưa.
Dì Tư
Không biết dì Tư xuất gia từ độ nào. Chỉ nghe nói rằng dì vào chùa
đã lâu lắm, hồi Hòa thượng chưa viên tịch. Năm nay dì đã già lắm,
có lẽ trên 60. Răng của dì chỉ còn lại năm ba cái, nhưng dì còn mạnh
khỏe lắm. Dì ở chung với dì Bang trong một cái liêu nhỏ, phía nhà
Trù. Hai dì lo việc bếp núc để giúp đỡ phần nấu nướng cho chư
Tăng. Dì Bang khó tánh hơn, nên chúng tôi ít gần, còn dì Tư thì luôn
luôn hoan hỷ. Dì thương chúng tôi lắm. Chú Tâm Mãn và tôi khi có
chuyện gì hay, thường đến thuật lại với dì. Bao giờ dì cũng đãi chúng
tôi một nụ cười dễ dãi, hiền hậu. Mỗi khi cười nhiều, đôi mắt dì nheo
lại gần như nhắm. Dì không biết quốc ngữ. Chứ Tâm Mãn dỗ ngon
dỗ ngọt bảo dì học, nhưng dì vẫn nhứt quyết không chịu:
- Thôi, các chú nghĩ bi chừ tui học tiếng Tây mần chi? Tui già rồi.
Các chú mới cần học cho hung để sau ni làm việc cho đạo. (Tôi xin
dịch: Thôi! Các chú nghĩ: bây giờ tôi học tiếng Tây làm gì? Tôi già rồi.
Các chú mới cần học cho nhiều, để sau này làm việc cho đạo).
Chú Mãn cười:
- Ấy, ai bảo dì học tiếng Tây dâu? Chúng tôi khuyên dì học chữ quốc
ngữ mà. Chữ quốc ngữ là chữ của nước mình.
Nhưng dì không nghe. Bởi vì dì không thể tin rằng cái thứ chữ viết
bằng bút sắt mà lại là cái chữ của mình được. Chữ của nước mình,
theo dì, là chữ “an nam”, chữ viết bằng bút lông kia.
Về chữ “an nam” thì dì cũng biết vò vẽ. Nghĩa là dì có thể đọc chập
chững được bài Thập phương hay bài Nhất tâm quy mạng. Dì rất
siêng năng. Không có thời tịnh độ nào là dì không đi. Mỗi khi gần đến
giờ tịnh là dì lo rửa mặt, rửa tay thật sạch sẽ. Dì mặc chiếc áo rộng
màu lam, cổ đeo một tràng hạt huyền đen nhánh, chân đi đôi guốc
lẹp kẹp. Dì kéo lê đôi guốc từ dưới bếp lên lầu chuông, rồi thì từ lầu
ể
chuông, dì đi chân không vào chùa đứng nép vào một góc để chờ đại
chúng thăng đường hành lễ.
Dì rất ham học. Dì đã thuộc lòng Di Đà, Hồng Danh Khể Thủ và Quy
Mạng. Dì muốn học Lăng Nghiêm. Chú Tâm Mãn và tôi sợ dì không
thể nào thuộc được Lăng Nghiêm, bởi vì chú Lăng Nghiêm dài bằng
năm sáu chú Đại bi. Làm sao mà dì học thuộc cho nổi, khi mà dì đã
già rồi, trí óc dì đã lẩm cẩm hay quyên rồi! Nhưng dì tha thiết quá,
thành khẩn quá. Chúng tôi đành phải chiều dì. Thế là chú Tâm Mãn
lấy một xấp giấy vàng bạc, đóng cho dì một cuốn tập. Tôi dán thêm
cho dì hai cái bìa cứng phết nước nâu. Mỗi ngày tôi viết trên sách ấy
mấy câu, bắt đầu từ Diệu trạm tổng trì bất động tôn... Chữ viết rất
lớn, một chữ to gần bằng hộp diêm. Tôi nói:
- Bắt đầu từ hôm nay, chú Mãn chỉ cho dì học, mỗi ngày một câu. Dì
siêng năng thì chừng ... năm tháng có thể học thuộc được kinh này.
Dì cười, mắt híp lại và hai hàm răng sún vẫn rất dễ thương:
- Năm tháng không xong thì bảy tháng. bảy tháng không xong thì
một năm. Chú đừng lo tôi không thuộc.
Rồi dì học rất siêng năng, Chú Mãn cứ tiếp tục chỉ cho dì học, ba bốn
hôm như thế. Cho đến hôm thứ năm, khi chú Mãn sắp sửa chỉ bài
mới, tôi liền đến “khảo hạch”, bắt dì đọc lại bài cũ. Bị thầy bắt trả bài
một cách bất ngờ, học trò luống cuống ngay. Thế là dì đọc không trôi
tám câu đã học. Tôi nói:
- Không được. Học như thế này thì không bao giờ thuộc được Lăng
Nghiêm, Rồi cứ học sau quên trước, học trước quên sau, đến bao
giờ thuộc được.
- Rứa thì thưa chú, chú có cách chi học cho mau thuộc, chú chỉ biểu
cho tui học với.
Tôi nói:
ế
ỗ
- Bây giờ thì thế này. Mỗi ngày học vài câu. Hôm nay chỉ bài, ngày
mai dò lại. Mà dò không thuộc thì bắt học lại bài cũ. Cứ ba bữa thì
học ôn một lần. Dì chịu không?
- Chịu.
- Vậy thì bữa nay bắt đầu học lại. Hôm nào không thuộc thì bị phạt.
- Phạt thì tôi cũng chịu phạt, bởi vì học mà không sợ phạt thì mần
răng cho mau giỏi, nhưng mấy chú tính phạt mần răng? Quỳ hương
thì tôi quỳ không nổi, bởi vì đầu gối yếu hung (yếu lắm) rồi.
Tôi cười:
- Ai bắt dì quỳ hương bao giờ. Để nghĩ ra cách khác.
Dì lại cười:
- Thưa các chú, các chú cứ nghĩ đi.
Tôi đang nghĩ đến các lối phạt ở trường học, nào “Cồng xin”
(consigne), nào chép bài, nào quét lớp... thì bỗng chú Mãn phá lên
cười. Tôi vội mắng:
Ấy chết, không được cười lớn, chú Mãn! Quý Thầy nghe, quý Thầy
rầy chết. Phải học hạnh trang nghiêm, chớ bao giờ cười lớn như thế.
Chú Mãn cố nín cười:
- Em đang nghĩ đến một lối phạt, mà đã nghĩ ra rồi nên bật cười
không thể ngăn cản được.
Tôi hỏi:
- Chú nghĩ ra cách nào, nói thử xem.
- Thế này nhé, mỗi khi dì không thuộc, thì dì phải cung cấp cho hai
anh em mình bốn khuôn đậu phụ chiên để ăn trong bữa cơm ngọ.
ầ
ấ
Dì Tư cười gần ngã sấp. nhưng tôi tán thành ngay:
- Phải đấy, tôi đồng ý với cái lối phạt đó.
Cái món ăn thích nhất của chúng tôi là đậu khuôn (đậu phụ) chiên.
Chùa nghèo, thành thử phần lớn các bữa ăn đều là đạm bạc. Một
bữa cơm có đậu phụ đối với chúng tôi, là một bữa cơm “lý tưởng” mà
dì Tư lại có thể là tác giả của những bữa cơm lý tưởng ấy! Bởi vì dì
giữ cái phần đi chợ, mua các thức ăn. Bốn khuôn đậu (hay hai thôi
cũng quý rồi) dành riêng cho chúng tôi! Thật là một điều hy hữu.
Chúng tôi thường chấp tác ngoài vườn chùa từ mười tới mười hai
giờ, và thường trở về chùa ăn cơm sau đại chúng. Một mâm cơm
nhỏ đợi hai chúng tôi ở trên ghế quá đường mỗi khi chúng tôi về
muộn. Nếu trên mâm cơm ấy mà thỉnh thoảng “ngự” một đĩa đậu
khuôn rán thì thú biết chừng nào!
Cái lối phạt mà chúng tôi mới phát minh ra, chúng tôi rất bằng lòng
nó. Dì Tư cũng bằng lòng. Ấy thế là thỉnh thoảng chúng tôi được
thưởng thức trong bữa cơm những miếng đậu phụ thơm tho và ngon
lành. Chú Tâm Mãn còn ít tuổi nên có lúc không nhịn được cười, cứ
vừa ăn vừa khúc khích. Tôi cũng muốn cười, nhưng thấy mình lớn
hơn, đành phải “lập nghiêm”:
- À ra cái chú Tâm Mãn này, ăn cơm không quán “ngũ quán” mà cứ
cười mãi nhé!
Có một độ, dì Tư thuộc bài luôn luôn. Chúng tôi không có dịp phạt và
vì thế, đậu khuôn cũng vắng trên mâm cơm, tôi nói với chú Tâm Mãn
trong một bữa cơm trưa:
- Lâu nay không có đậu khuôn chú Mãn nhỉ.
Chú Mãn ghé miệng vào tai tôi thầm thì. Tôi gật đầu và mỉm cười:
- Đồng ý với chú.
ế
ổ
ề
ế
ố
ắ
ế
Thế là buổi chiều hôm đó, dì Tư phải học đến bốn câu. Tôi chắc thế
nào ngày mai dì cũng “bị phạt”. Trưa ngày hôm sau, vào giờ “chỉ tịnh”
tôi xuống bếp tìm mượn cây dao nhíp lên rọc giấy đóng sách, thì thấy
dì đang dựa lưng vào thành cối ngủ gật, tay cầm quyển kinh. Nghe
tiếng động, dì ngồi ngay dậy. Tôi hỏi:
- Sao dì không vào nghỉ trưa một chút kẻo mệt? Dì đi nghỉ đi, để
chiều làm việc. Chiều nay còn đi kiếm thêm củi nữa nhé.
Dì nói nhỏ:
- Tui phải học cho thuộc không thì chiều ni bị chú Mãn phạt. Nguy
lắm.
Tôi cười:
- Nguy gì! Chỉ tốn công chiên đậu phụ mà thôi.
Nhưng dì gọi tôi đến gần, hạ giọng:
Chiên đậu thì không tốn công mô, nhưng mà lâu nay tiền chợ hằng
ngày thầy thủ khố (quản lý) phát chừng mực lắm. Năm nay lúa ruộng
của chùa thâu được không bao lăm. Tiền không đủ mua rau cho đại
chúng, thì lấy mô để mà mua đậu khuôn nộp phạt.
- Vì vậy mà dì cố học bài cho thuộc để khỏi bị phạt chớ gì?
Dì gật. Cái gật đầu có vẻ đăm chiêu, nhưng rồi dì lại cười. Nghe dì
nói, và nhìn cái cười của dì, tôi thấy hơi hối hận. Rồi cảm thấy
thương dì vô hạn. Tôi nói:
- Tôi và chú Mãn sẽ bỏ cái lối phạt ấy từ nay. Sẽ tìm cách phạt khác.
Từ nay dì đừng chịu phạt đậu khuôn nữa nhé. Thôi dì cất sách mà đi
nghỉ một lát kẻo mệt.
Dì Tư vui vẻ làm theo ngay. Tôi vào phòng chú Mãn, thầm thì với chú
câu chuyện vừa xảy ra. Rồi tôi dí một ngón tay lên trán chú:
ấ
- Chỉ tại chú đấy nhé.
Chú Mãn nhìn tôi hơi trách móc, và nói như làm nũng:
- Thế ai bảo chú đồng ý với em?
Tiếng chuông Giao Thừa
Chúng tôi đinh ninh rằng chúng tôi là những người hồi cư sớm nhất,
nhưng không phải. Về đến địa hạt Dương Xuân Thượng, chúng tôi
biết rằng đã có nhiều gia đình về trước chúng tôi đến cả nửa tháng.
Trên con đường núi đưa về chùa, cỏ mọc che cả lối đi. Chú Tâm Mãn
đẫn đầu đoàn người hồi cư, có vẻ nóng nảy hơn ai hết. Thật ra, trong
số sáu người hồi cư, không ai là không mong cho mau về đến chùa.
Xa chùa đã mấy tháng, chúng tôi không mong sao được. Những
người lớn tuổi điềm đạm và lặng lẽ nhất cũng tỏ vẻ sốt ruột. Chúng
tôi về chùa như một đoàn thám hiểm núi rừng: mọi người phải vạch
cỏ bẻ lau cho có lối đi Tất cả đều mặc áo ngắn, kể các thầy. Áo tràng
và áo nhật bình chúng tôi đều cuốn bỏ chung với những dụng cụ,
mang trên vai hoặc xách nơi tay. Tất cả đều mệt mỏi rã rời. Chúng tôi
đã trải qua năm sáu ngày đi bộ đường trường còn gì! Về gần đến
chùa bao nhiêu lo ngại hình như đã tiêu tan. Xóm làng rải rác trên
các nẻo núi đồi tuy còn mang nặng vẻ lặng lẽ khiếp sợ, nhưng cũng
đã phảng phất có sinh khí. Chúng tôi thấy nhẹ nhõm cả tâm hồn.
- Chùa kia rồi!
Chú Tâm Mãn buột kêu lên một tiếng vui mừng. Dưới bóng những
cây thông cao vút, mái tam quan của chùa hiện ra như một hình bóng
quen thuộc và thân yêu từ những tiền kiếp xa xưa nào. Không ai là
không cảm động. Tôi băn khoăn không biết dì Tư có an ổn không, có
còn mạnh khỏe trong cảnh đạn lửa tơi bời. Hồi chúng tôi được giấy
buộc phải tản cư, dì Tư đã nhất quyết xin ở lại chùa. Chúng tôi
khuyên can thế nào cũng không được.
- Xin các Thầy và các Chú cứ về quê để mà lánh nạn. Các Thầy và
các Chú cần sống để làm việc cho đạo. Tôi xin ở lại giữ chùa. Không
can gì đâu, tôi già cả rồi, Với lại dù có gì đi nữa, tôi cũng không tiếc.
Chúng tôi dùng đến cả uy lực nữa, nhưng cũng không lay chuyển
được dì. Cuối cùng, phải để cho dì ở lại. Tôi đã cẩn thận chỉ chỗ cho
ẩ
ỗ
ế
ổ
ấ
dì ẩn núp mỗi khi có tiếng súng nổ. Tôi cũng đã chỉ cách cho dì giấu
gạo và thức ăn ở một nơi kín đáo. Xong cả đâu đấy và sau khi cầu
Phật cho dì ở lại bình yên, tôi mới theo các Thầy và các Chú lên
đường.
Vì vậy nên khi trở về, tối cứ băn khoăn lo ngại mãi, không biết dì ở
nhà có bình an không. Nhưng nỗi lo ngại liền biến mất khi chúng tôi
bước vào tam quan chùa. Từ xa, tôi nhận ra bóng dì Tư với chiếc áo
nâu dài bạc màu, đang múc nước bên suối. Chú Mãn gọi tên dì thật
to. Dì bỏ thùng xuống nhìn lên. Khi thấy bóng các Thầy và chúng tôi,
dì lật đật chạy ra, và cảm động quá dì không nói năng được. Dì chỉ
khóc.
Mái chùa bị đạn hư hỏng mất nhiều chỗ. Tường chùa cũng lỗ đỗ
những vết đạn. Cảnh vật có vẻ tiêu điều hơn trước. Tuy nhiên ngoài
những vết đạn kia, chùa không bị thương tích nào quá nặng đến nổi
phải hư đổ như những nơi khác. Nổi vui mừng thứ nhất của chúng
tôi và của dì Tư là số người tản cư trở về không hao thiếu một người
nào.
Hôm chúng tôi trở về chùa là hôm hăm bảy tháng chạp. Cho đến
chiều hôm đó, chúng tôi mới được ăn một bữa cơm nóng sốt và
tươm tất, do dì Tư sửa soạn. Trong mấy tháng trời, chúng tôi ăn
uống thiếu hụt kham khổ; không có bữa nào có thể gọi được là bữa,
Một lít tương làm thức ăn cần thiết thì đã được pha loãng bao nhiêu
lần trong những lít nước muối. Những chén cơm trộn đến hai phần
ba khoai sắn bao giờ của được “tiêu thụ” một cách ít oi chừng mực.
Thêm vào đó cái khổ không giường không chiếu làm cho chúng tôi ai
cũng ốm và đen.
Sau khi dùng cơm, tất cả đều ngủ vùi một giấc mê mệt cho đến sáng.
Qua ngày hôm sau, chúng tôi mới bắt đầu chương trình “kiến thiết”.
Những đồ đạc trong chùa đều được lau chùi sửa soạn lại. Chúng tôi
quyết dọn phòng xá, sắp đặt những đồ vật ngổn ngang. Định sửa
soạn để ăn một cái Tết hồi cư.
ố
ấ
ấ
Và suốt ngày hôm ấy, chúng tôi vui vẻ như đã thấy nét mặt của hòa
bình. Nhưng tối đến, không khí chiến tranh và của chết chóc trở lại.
Tiếng súng nổ ran bốn phía. Đạn bay vèo vèo trên mái ngói. Mọi
người ngồi yên trong liêu phòng, cửa đóng kín mít. Thỉnh thoảng,
ánh sáng của một trái châu từ đồn canh bắn lên, chiếu qua những
kẹt cửa. Tiếp đến, những tràng liên thanh nổ ròn liên tiếp.
Tôi ngồi với chú Mãn trong nhà hậu, bên ánh đèn dầu lù mù. Chúng
tôi nghĩ đến cảnh tượng chết chóc đang diễn ra bên ngoài và cùng
lặng lẽ niệm Phật cho những người xấu số, nhưng rồi thời khắc qua.
Đêm hăm tám trở lại yên tĩnh, nhưng một sự an tĩnh luôn luôn bị đe
dọa.
Từ hôm trở về chùa đến nay, buổi tối và buổi khuya chú Mãn không
thỉnh đại hồng chung nữa. Bởi vì dì Tư không cho. Dì bảo rằng có
một buổi tối (hồi chúng tôi đi khỏi) vừa lên lầu thỉnh được năm sáu
tiếng chuông thì dì nghe có tiếng động bên dưới. Lật đật chạy xuống,
dì thấy năm sáu ông tây đang hung dữ đi vào. Họ chỉ súng vào dì đe
dọa và ra hiệu không cho dì thỉnh chuông nữa. Có lẽ họ sợ rằng tiếng
chuông là một ám hiệu của địch quân. Hay có lẽ vì họ ghét không
muốn nghe tiếng đại hồng chung cũng nên. Từ đó, mỗi buổi tối và
buổi khuya, dì không dám thỉnh chuông nữa. Tối hôm chúng tôi về, dì
đã căn dặn chú Mãn.
- Buổi tối và buổi khuya mà không có tiếng chuông thì thấy nhạt
nhẽo làm sao ấy. Dì chép miệng.
Mà thực thế. Không có gì nhạt nhẽo và lạnh lùng bằng những buổi tối
thiếu tiếng đại hồng chung. Không khí trong chùa trở nên buồn tẻ.
Núi rừng cũng tăng vẻ hoang dại. Tiếng dế trở nên dày dặc và thê
lương hơn. Ở chùa, thường thường mỗi buổi khuya chúng tôi thức
dậy lúc bốn giờ. Sau khi rửa mặt rửa tay xong, chúng tôi ngồi bán già
trên “đơn” của mình, lắng nghe tiếng đại hồng chung và thực hành
phép tĩnh tọa hay niệm Phật. Bây giờ, buổi khuya không có tiếng
chuông. Chúng tôi thấy thiếu một cái gì rất quan trọng. Tôi không
ngồi tĩnh tọa được nữa. Hai ba bữa nay, chúng tôi phải rời “đơn”, ra
ắ
ồ
ể
ấ
ể
bàn thắp đèn bạch lạp ngồi học bên nhau để tìm sự ấp áp và cũng để
quên rằng chùa không thỉnh chuông. Những buổi tụng niệm công
phu cũng trở nên thiếu thốn buồn tẻ. Tiếng chuông gia trì nhỏ quá,
yếu đuối quá, không đủ sức xua đuổi bầu không khí ảm đạm và lặng
lẽ của núi đồi, trong những buổi đêm tối đen và những buổi khuya mịt
mờ sương phủ.
Tuy nhiên chúng tôi không muốn để cho cái Tế trở về trong không khí
buồn tẻ âm u ấy. Vâng lời các Thầy, chúng tôi đem lư trầm, chân đèn
và các đồ thờ lau chùi cho thật bóng. Dì Tư đã nhân khi rảnh việc, đi
chặt về những lá chuối. Dì đã ngâm nếp và đỗ xanh.
- Thế nào tôi cũng nấu được một nồi bánh tét cho các chú xem. Ấy
thế là dì bắt tay vào việc. Chúng tôi vui lòng giúp đỡ dì. Nhưng đến
hôm hăm chín Tết, chú Mãn có một ý rất hay:
- Mình làm mứt ăn Tết, thưa chú.
Thoạt tiên tôi không biết nên làm mứt với cái gì. Nhưng chú Mãn giải
thích ngay:
- Mình chỉ làm mứt “bình dân” thôi, bằng khoai lang và bằng củ sắn
mì.
Chúng tôi liền hăng hái thực hành ngay. Khoai và sắn thì thiếu gì
ngoài vừa chùa.
Dì Tư sợ người ta vào đào trộm sắn, đã chặt sát gốc tất cả vườn sắn
từ mười lăm hôm nay. Những đọt sắn non vừa lên chừng một tấc
tây; đứng ngoài nhìn vào, người ta tưởng đó là một vườn sắn trồng
chừng một tháng. Sắn một tháng làm gì đã có củ! Nhờ thế vườn sắn
đang còn nguyên vẹn, chưa bị đào trộm như vườn khoai.
Đường thì chúng tôi nhờ dì Tư mua thứ đường đen, ở cái chợp xép
họp tạm dưới đồi Dương Xuân. Dì Tư đã khéo léo mua thêm một ít
vừng. Thứ mứt của chúng tôi chẳng qua là một thứ khoai ngào, có
ế
ế
ố
trộn vừng rang. Thế thôi! Nhưng như thế cũng đã là sang chán đối
với một cái Tết hồi cư nghèo khổ.
Điều an tâm nhất là chúng tôi đang còn lúa để xay ăn dần cho đến
mùa gặt sang năm. Trước hồi tản cư, sáu bảy thầy trò đã hì hục đem
chôn lúa sau vườn, trong những cái chum sành rất lớn. Chúng tôi
đào dần lên từng chum, xong lấp đất như cũ. Sang năm, ruộng chùa
thế nào cũng cung cấp kịp cho chúng tôi.
Đêm ba mươi. Nồi bánh chưng sôi sùng sục ở giữa nhà. Tất cả đều
bắt ghế ngồi quanh đống lửa, từ các Thầy các Chú cho đến dì Tư.
Trời hơi lạnh. Một vài tiếng súng lẻ tẻ. Chúng tôi ngồi thức và nói
chuyện, đợi giờ đón giao thừa và lạy vía Đức Di Lặc. Ngoài kia, trời
tối như hũ nút, chỉ có một vài vì sao lộ ra yếu ớt trên nền trời đen kịt.
Tết năm nay, chúng tôi chỉ có bảy người. Bởi vì trên đường trở về, vị
Thượng tọa thầy tôi và bốn thầy khác đã thuận bước ghé thăm một
ngôi chùa cổ bị tàn phá. Chúng tôi ba thầy và ba trò đã trở về trước.
Mãi cho tới hôm nay, Thượng tọa chưa thấy về.
Ngồi bên đống lửa, tôi nghĩ nhiều đến vị trưởng lão đáng kính ấy.
Hôm tản cư, thầy khuyên chúng tôi lên đường, nhưng chính thầy tôi
lại không đi. Thật ra, trong đại chúng không ai muốn đi tản cư cả.
Nhưng lệnh đã đưa ra, bắt toàn xóm tản cư, chùa cũng không thể
không đi. Đại chúng đã bạch rằng Thượng tọa không thể ở lại một
mình, và nếu Thượng tọa ở lại, tất cả cũng đều nhất tâm ở lại, mặc
dù trái với lệnh chính quyền. Cuối cùng, Thượng tọa phải miễn
cưỡng theo các thầy để đi lánh nạn. Ngài nói:
- Nếu quả đại chúng đã gây nhân tai nạn thì dù ta có lánh đi đâu
cũng không...
 





