TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU VỀ WEBSITE HỌC LIỆU

    Kính gửi quý thầy cô và các em học sinh thân mến,Trang học liệu điện tử của Thư viện Tiểu học Tân Đông Hiệp là một nền tảng số tích hợp chất lượng, chuyên nghiệp, được thiết kế để phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu của thầy cô cùng các em học sinh. Giao diện trang web hiện đại, dễ điều hướng, tận dụng các yếu tố công nghệ như trích dẫn khoa học, phân loại theo lĩnh vực (Văn học, Toán học, Khoa học tự nhiên, Lịch sử…), và cho phép truy cập tài liệu nhanh chóng theo từ khóa, thể loại hoặc độ tuổi phù hợp. Hệ thống hỗ trợ tải về các file PDF, bài giảng minh họa, video minh họa dạng đồ họa, giúp người sử dụng dễ dàng tiếp cận tri thức, học liệu hỗ trợ giảng dạy – học tập mọi lúc, mọi nơi. Dưới sự phối hợp của các thầy cô giáo giàu nhiệt huyết, giàu kinh nghiệm sư phạm và luôn cập nhật phương pháp giảng dạy tiên tiến, học sinh toàn trường được khuyến khích phát triển toàn diện từ nhận thức khoa học đến kỹ năng tự học, sáng tạo. Nhờ nền tảng học liệu số này, việc tiếp cận thông tin trở nên minh bạch, hiệu quả và có hệ thống, khuyến khích việc phát triển tư duy logic, phân tích phản biện và khám phá tri thức một cách bài bản, sâu sắc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Screenshot_1309.png 35_Phieu_Bai_tap_cuoi_tuan_Mon_Toan_Lop_2_Bo_sach_Canh_dieu.jpg GiaoantrinhchieuMonToan2Hocki1Bosachcanhdieu.jpg KehoachbaidayDaoducLop3BosachKetnoitrithuc2022tieuhocvn.jpg TiengViet4KetnoiTuan5Bai9Tiet3LuyentuvacauDongtuTrang41.jpg ClipartKey_135275.png TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet3Trang31.jpg ClipartKey_191402.png TiengViet4KetnoiTuan7Bai16Tiet1va2TruocngayxaqueTrang66.jpg TiengViet3KetnoiTuan5Bai9DocDihocvuisaotrang43.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai6Tiet12DocNghesitrongTrang26.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai5Tiet1DocthanlanxanhvatackeTrang23.jpg TiengViet3KetnoiTuan3Bai6Tiet1Doc_NhatkitapboiTrang26.jpg Motvaibienphaptochuctrochoihoctaptrongmondaoduclop2.jpg Thumbnail_Ca_chua.png

    TẠP CHÍ THƯ VIỆN

    LIÊN KẾT LIÊN THƯ VIỆN

    💕💕Thư viện chính là kho báu, nơi mỗi cuốn sách là một viên ngọc quý." – Anonymous💕Đọc sách làm cho tâm hồn ta tinh tế, trí tuệ ta sáng suốt và nhân cách ta vững vàng." – Anonymous💕

    Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn

    Nguoi Dan Ba Doi Mua - Do Tien Thuy

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 09h:51' 22-03-2024
    Dung lượng: 879.7 KB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    Mục lục
    Chênh Vênh
    Chuyện Không Muốn Kể
    Có Cha
    Đêm Roong Chiêng
    Đồng Đất Quê Cha
    Dưới Mái Nhà Rông
    Huyền Thoại Yàng
    Ngẩng Đầu Lên Đi Em!
    Người Đàn Bà Đợi Mưa
    Những Nốt Nhạc Xa Xanh
    Nóc Xưa
    Tiếng T'Rưng Làng Rấp
    Trong Núi Lạc Đà

    NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐỢI MƯA
    Đỗ Tiến Thụy
    www.dtv-ebook.com
    Chênh Vênh
    Anh lồng xe trên phố như một con chuột cố nhờ sức gió dập tắt ngọn lửa
    bén vào mình. 23h, phố núi vắng tênh. Man man trong gió một điệu tăng-gô
    buồn từ quán cà phê vườn nào đó vọng ra: "Đường về đêm nay vắng tênh...
    Hàng cây lướt nhanh...". Anh đã cảm thấy lạnh và muốn về nhà. Nhưng
    không được. Hương! Hương tóc, hương tình vẫn còn lẩn quất trên áo anh...
    Mặc dù Giang đã cam đoan nàng không hề trang điểm, và cũng không hề
    dùng một chút nước hoa nào, nhưng anh vẫn ngửi thấy mùi thơm, mùi thơm
    không rõ ràng nhưng dai dẳng bám riết lấy tâm trí anh. Những đường phố
    khuất nẻo mọi đêm thơm lừng thiên lý vậy mà hôm nay anh không thấy gì
    ngoài cái mùi ám ảnh suốt từ lúc chia tay Giang.
    Anh đột ngột vặn mạnh tay ga, chiếc xe già nua giật mình ằng ặc mãi mới
    chiều ý anh tăng tốc. Gió u ú thổi qua tai anh với tốc độ kinh người, vậy mà
    anh vẫn còn ngửi thấy mùi thơm bám trên áo. Anh bất lực muốn trào nước
    mắt, đành lủi thủi dong xe chầm chậm ra cầu. Cầu treo Kon-Klor đây. Cây
    cầu nối phố với rừng đây. Mỗi khi có nỗi niềm không biết chia sẻ cùng ai anh
    lại ra đứng nơi này để tận hưởng cảm giác tận cùng của nỗi cô đơn.
    Hồi chiều Giang điện cho anh kèm theo lời đề nghị, không, yêu cầu mới
    đúng: "Em đã đọc xong cái truyện anh đưa. Em cần gặp anh ngay!". "Không,
    không nên Giang à". "Tại sao?". "Vì... vì không tốt cho em". "Nói dối! Anh
    cũng muốn gặp em, nhưng anh sợ, đúng không?". Anh im lặng thú nhận.
    Anh làm nghề viết, một nghề viết không được ai công nhận bởi anh chẳng

    có trong biên chế một báo nào, vì thế cuộc sống của anh luôn trong tình trạng
    vất vưởng. Cái bằng đại học ngữ văn không giúp được anh xin việc, đành mài
    nó ra thành những bài viết nhỏ cộng tác với vài tờ báo. Đã thế anh lại không
    năng động như người khác luôn đón đầu sự kiện để viết, anh chỉ viết những
    gì anh thích, đôi lúc máu hâm nổi lên anh cắm đầu cả tháng vào viết văn, vì
    thế túi anh lúc nào cũng ráo như tổ chim mùa thu, nợ tiền cơm bụi tháng này
    qua tháng khác.
    Ấy thế mà có tới bốn cô gái lần lượt yêu anh, chỉ có điều khi anh ngỏ lời
    cầu hôn thì họ đều im lặng, lắc đầu. Cô gái thứ năm anh không cần yêu và
    tìm hiểu gì nhiều bởi ngày nào cũng gặp, ngày nào cũng được người ấy hai
    lần bưng suất cơm đặt trước mặt cùng câu nói: "Anh cứ ăn đi khi nào có trả
    cũng được". Nghe nói nàng bị bệnh tim. Đã có vài chàng trai mê cái dáng
    thon gầy dân dã cùng với cơ ngơi cơm bụi, nhưng khi biết sự thật họ lặng lẽ
    chuồn. Khi anh ngỏ lời cầu hôn nàng cũng nói thật: "Anh biết em bị bệnh tim
    rồi chứ? Bác sĩ khuyên không nên có chồng. Có chồng thì không nên có
    con...". Mặc, một quả tim yếu nhưng vẫn biết thương một gã nghèo như anh,
    quả tim ấy chưa đến nỗi hỏng. "Mày sẽ phải trả giá cho cái triết lý cùn này!" Thụy, thằng bạn đồng niên đã cảnh cáo trước khi anh quyết định cưới nàng.
    Trớ trêu cho anh là lúc này Giang xuất hiện, một phóng viên mới tinh của tờ
    báo anh thường cộng tác, mới gặp lần đầu cả hai người đã cảm thấy nửa kia
    của đời mình vừa tìm thấy.
    Giang khóc trên vai anh: "Sao em không gặp anh sớm hơn được chứ!".
    Anh cắn chặt môi: "Ừ... anh mới ký vào giấy đăng ký kết hôn hôm qua".
    "Không thể nào khác ư anh?". "Không, em hiểu cho, Trân sẽ chết nếu anh
    phụ cô ấy!". Giang không tin, bắt anh dẫn đi ăn cơm bụi. Chỉ khi giáp mặt,
    tận mắt chứng kiến Trân mặt trắng bệch, ôm ngực thở dốc khi vừa thấy anh
    cặp kè với Giang, khay cơm bụi rớt xuống sàn tung tóe, Giang mới tin. "Đây
    là bạn của anh. Còn đây là vợ sắp cưới của anh". Nghe lời giới thiệu công
    khai, Trân mới tạm thời qua cơn sốc. Nhưng trước vẻ đẹp thanh tao của

    Giang, Trân tỏ ra lúng túng vụng về tội nghiệp, đánh động lòng trắc ẩn của
    Giang. Nhưng nhìn vào mắt Giang, anh hiểu Giang vẫn hy vọng vào một biến
    động nào đó trong cuộc sống vợ chồng sắp tới của anh.
    Đêm tân hôn, hàng xóm chung quanh anh nhốn nháo bởi một ca cấp cứu
    lạ. Lạ là bởi những ca cấp cứu kiểu này chỉ xảy ra ở thời "Nam nữ thụ thụ bất
    thân". Cũng may quả tim của Trân cũng dần quen với hạnh phúc quá đỗi ngọt
    ngào. Ban đầu cuộc sống vợ chồng anh khá dễ chịu. Trân vẫn quán xuyến
    quán cơm nhưng cũng dành thời gian chăm chút anh bằng tất cả sự hàm ơn
    và tình yêu cộng lại. Nàng không đòi hỏi gì anh nhiều. Nhưng anh thì có. Mỗi
    khi viết được cái gì, anh reo toáng lên: "Trân! Em xem này!". Nàng đón bản
    thảo và đi xuống bếp. Anh nằm lim dim trên giường tận hưởng niềm vui của
    vận động viên leo núi vừa chinh phục xong một đỉnh dốc. "Em đọc xong
    chưa? Thế nào?" - Anh hồi hộp hỏi trước khi ngồi vào mâm cơm tương đối
    nhiều ca-lo, mà cái dạ dày nhỏ như trái quýt chỉ quen với cơm bụi và rượu đế
    của anh đâu cần như thế. Trân thành thật: "Em chưa đọc. Mà có đọc em cũng
    chẳng hiểu gì dâu". Nàng len lén xuống bếp mang lên tập bản thảo đã lem
    nhem mỡ trộn lẫn nhọ nồi: "Hồi đi học em hay bị ngất, cứ đọc một lúc là mắt
    hoa lên". Anh thở dài sười sượi, vừa thương vợ, vừa xót xa cho đứa con tinh
    thần của mình không được đoái hoài.
    Nhưng Giang thì khác. Giang hồ hởi đón nhận tất cả những gì anh viết ra.
    Anh hồi hộp ngắm nhìn Giang đọc bản thảo của anh, khấp khởi mừng khi
    thấy khuôn mặt Giang dãn nở, lòng cuống lên khi thấy cặp mày cong mảnh
    nhướng lên, cặp môi mọng hồng mím lại. Sau mỗi lần như thế Giang lại
    buông bản thảo nhìn anh đăm đắm: "Văn anh như có móng vuốt, mà em thích
    lối văn như thế. Lương tâm con người đang chai đi vì tham vọng, tiền tài.
    Phải cào bật nó ra cho rướm máu, đau một chút nhưng em tin con người sẽ
    sống nhân hậu với nhau hơn". Chao ôi! Đối với người cầm bút, còn hạnh
    phúc nào hơn khi có người hiểu mình đến thế. Không kìm được lòng nữa, anh
    và Giang đã hẹn gặp nhau tại một quán cà phê.

    Cái quán khuất nẻo, mỗi bàn được cách ly nhau bằng những mảnh lồ ô
    ghép cùng những chậu cây kiểng tạp. Lần ấy, trước lúc ra về, anh đã lập cập
    cài lại cúc áo cho Giang, còn Giang cẩn thận dùng tay lau đi vết son mờ trên
    môi anh, tỉ mẩn nhặt những cọng tóc vương trên cúc áo len sờn anh thường
    mặc. Vậy mà về đến nhà anh đã sững người bởi câu hỏi của Trân: "Sao anh
    thơm thế". Anh giật mình ngó vào mắt vợ ánh mắt vô tư biểu lộ sự quan tâm
    chân thành chứ không có nét gì soi mói đã khiến anh buột miệng nói dối:
    "Anh bị đau đầu, thằng Thụy đưa anh lọ dầu Trường Sơn...". "Anh bị gió
    rồi!". Vợ anh hốt hoảng dìu anh vô giường, lấy nước ấm rửa mặt cho anh, bàn
    tay mảnh mai của Trân cuống quýt xoa bóp khiến cho nỗi ân hận trong lòng
    anh trào ra bằng hai giọt nước to, bỏng xót. Từ đó anh không dám gặp Giang
    nữa. Anh quan tâm đến vợ nhiều hơn bằng một thứ tình cảm gì đó, nhưng
    nhất quyết không phải tình yêu.
    "Anh, em muốn có con!". Anh giật mình trước lời đề nghị của vợ:
    "Không! Bệnh của em...". "Không, em muốn đẻ cho anh một đứa con". Anh
    ôm ghì vợ vào lòng dỗ dành: "Anh hiểu! Anh hiểu! Nhưng sức khỏe của em
    không cho phép. Rồi chúng mình sẽ xin một đứa con nuôi". Vợ anh im lặng
    cắn môi như đồng ý. Đùng một cái vợ anh mang bầu. Anh bàng hoàng trước
    sự thật ngoài ý muốn đó. Một cái chết được báo trước cứ rút ngắn dần thời
    gian chờ đợi khiến anh có cảm giác ngồi trên đống lửa. Ngày đưa vợ đi sinh,
    anh chuẩn bị cho mình một tinh thần sẵn sàng đón nhận điều khủng khiếp.
    Thời gian đứng ngoài phòng sinh dài hơn tất cả thời gian cuộc đời anh cộng
    lại. Tiếng dao kéo loảng xoảng cứa thót vào tim anh từng chặp. Khi tiếng
    "Oe" đầu tiên cất lên anh đã tông cửa lao bổ vào phòng. Trên bàn sinh, Trân
    nằm bất động, toàn thân trắng rợn như nặn bằng thạch cao. Một vệt máu đỏ
    rùng rùng đập vào mắt, khiến anh chỉ kêu lên được hai tiếng "Trân ơi!" rồi đổ
    gục vào những bóng áo blu trắng, tai vẫn chập chờn tiếng gọi: Ô xy! Trợ
    tim!...
    "Ô, anh tỉnh rồi!" - cô y tá mắt sáng rỡ reo lên khi anh vừa mở mắt: "Quả

    tim của anh coi bộ rởm hơn của bà xã nhiều!". Anh ngơ ngác như vừa tỉnh
    ngủ. Giường bên Trân nhìn anh bằng đôi mắt chứa chan và nụ cười mãn
    nguyện. Đây là thực hay mơ? Ôi, con trai anh! Thằng bé đỏ hỏn, mắt nhắm
    nghiền nhưng miệng lại nhích lên nụ cười mụ dạy.
    Suốt bảy tháng trời anh nghỉ viết để chăm sóc vợ con. Đến khi Trân hoàn
    toàn bình phục anh lại thấy ngứa ngáy chân tay và lại cầm bút viết. Suốt ba
    ngày cơm nước thất thường, không tắm gội, không ra ngoài, cái ý tưởng vụt
    lóe hôm trước đã thành hình hài. Anh hăm hở cầm cái truyện ngắn nóng hổi
    ấy đi tìm Giang. Nàng hờ hững đón bản thảo: "Không cần đọc tôi cũng biết
    văn anh bây giờ là thứ văn bằng lòng, mãn nguyện". Anh không nói gì, thờ
    thẫn ra về.
    Thế mà chiều nay Giang lại điện hẹn gặp anh. Chỗ cũ. Hai người vừa
    ngồi, anh gọi chanh rum cho anh và cam vắt cho Giang. "Em không ngờ văn
    anh vẫn như xưa". Anh ngây dại nhìn Giang... "Kìa! Từ từ đã anh!...".
    Cô tiếp viên tần ngần mãi trước ngăn tình yêu đang nổi bão, đành mang
    hai ly nước lại quầy. Bà chủ quán nhướng cặp mày chì vẽ lên xeo xéo: "Sao
    không mang cho khách?". "Họ không cần giải khát bằng thứ nước này!".
    Cơn thủy triều vừa lắng xuống, anh lấy giọng chân thành pha tiếc nuối hỏi
    Giang: "Sao em không lấy chồng đi?". "Anh muốn thế à?". "Không. Mà... em
    đã hai bảy tuổi còn gì. Con gái có thì. Em như thế này chả lẽ không có ai theo
    đuổi hay sao?". Giang nhếch mép, khẩy mũi: "Đầy! Một giám đốc sở kiêm
    nhạc sĩ mù, chuyên nhờ người ký âm hộ mong mua chút hư danh, một cộng
    tác viên có tên trong hội nhà báo nhưng lại chuyên "xào" bài người khác
    kiếm tiền nhuận bút, một trạm trưởng kiểm lâm nhưng chuyên nghề buôn gỗ
    lậu... Sao cái lũ bặng nhặng ấy nó vo ve quanh em nhiều thế không biết!
    Được rồi, nếu anh không yêu em nữa, em sẽ nhón tay lấy một thằng làm
    chồng, giải quyết khâu xác thịt, còn tâm hồn, nếu cần em sẽ ngoại tình!". Anh
    choáng váng trước lời tuyên bố đanh thép ấy nên lắp bắp: "Đừng... Đừng".

    "Sao đừng?". "Em làm thế tội nghiệp những người đàn ông". "Xí! Thế còn
    đàn bà thì sao? Anh xem lại anh kìa!".
    Rốt cục, có lẽ lo sợ cho quyết định của Giang, và cũng có lẽ do cả một cái
    gì đó không biết nữa, nên anh đành chấp nhận duy trì cuộc tình đã đẩy anh
    vào thế chơi vơi như chiếc cầu treo này. Con sông Đăk Bla vốn dĩ vô tư chảy
    tự đầu nguồn, đến đoạn cầu treo thì gặp cù lao Đăk Son, nó chia làm hai
    dòng. Theo tháng năm cù lao cứ lớn dần lên, hai dòng chảy cũng dần dần
    thay đổi. Một bên cồn cào xoáy xiết, một bên phẳng lặng lững lờ. Bờ bồi bây
    giờ hoa mía tím ngắt trong gió đông. Bờ lở vách dựng đứng, thăm thẳm sâu,
    đang cháy rực một màu hoa trinh nữ.
    Trời khuya vắng lặng, cầu treo nhờ nhợ ánh trăng u ám. Rồi mưa. Mưa
    lay phay cùng với gió sắt se khiến anh đứng so ro như chú cò trong đồng
    vắng. Mặc dù vẫn ngửi thấy mùi tóc, mùi da thịt Giang ám trên người, nhưng
    lạnh quá, anh phải ra về.
    "Đường về đêm nay vắng tênh... Hàng cây lướt nhanh. Mưa ơi có thấu
    cho ta đường về chốn lạnh lùng. Đời nghèo nào đâu dám mơ tình chung...".
    Lời ca ướt sượt nước mưa mọi ngày anh vẫn cho là sến, vậy mà hôm nay nó
    hợp tâm trạng anh, nó đuổi theo anh về đến tận nhà. Trong đầu anh đã phác
    sẵn một kế hoạch đối phó với Trân: "Anh chơi chỗ thằng Thụy. Anh em lâu
    ngày gặp nhau có uống nhiều. Em thông cảm. Anh bị đau đầu. Thằng Thụy
    có đưa anh lọ dầu Trường Sơn...".
    Trân ôm con ngồi như tượng trước cửa dưới ánh đèn huỳnh quang xám
    lạnh. Vừa thấy anh. Trân đã bật dậy như chiếc lò xo bị nén. Anh luống cuống
    lách qua người Trân dắt xe vào nhà, tai vẫn dỏng lại đằng sau nghe ngóng.
    Lạy giời! Trân có ngửi thấy mùi gì không mà đứng trân trân như cọc gỗ thế
    kia? Dựng xe xong anh toan ra đóng cửa. Cánh cửa sắt cũ hoen gỉ luôn quá
    sức Trân nhưng thấy Trân vẫn ôm con đứng đó nên anh sợ không dám quay
    ra. Anh lao vào nhà tắm trút hết áo quần rồi xối nước ào ạt lên người, hòng

    nhờ nước phi tang điều gian dối. Xong, anh chui ngay lên giường trùm chăn
    nằm run như cầy sấy.
    "Anh bế con để em đóng cửa". Bất đắc dĩ anh phải ngồi dậy thò tay qua
    màn đón con. Cơ thể do chạm lạnh, cũng có thể do linh khứu trẻ con thằng bé
    đã ngửi thấy mùi gì đó nên nó choàng mở mắt nhìn anh đăm đăm, cánh mũi
    dỉnh lên nhấp nha nhấp nhỉnh. Qua nhãn cầu của con, anh biết mình là một kẻ
    xa lạ đối với nó. Điều đó càng được khẳng định khi bất ngờ thằng bé ré lên,
    duôi người khỏi tay anh. Anh cuống cuồng ôm chặt lấy con, muốn cất giọng
    dỗ dành nhưng không được, miệng chỉ "Ầy ầy" lạ lẫm. Thằng bé càng khóc
    tợn, người xoắn vặn như sợi chão trong tay anh. Trân cuống quýt chạy vào:
    "Ô-ô-ơ-ơ. Con hư quá! Bố mà con không nhận ra ư? Ôi xôi mẹ xương". Vừa
    qua tay mẹ thằng bé lại ngủ ngon lành như không có chuyện gì xảy ra. Trân
    đặt con xuống giường rồi khẽ khàng hỏi anh: "Anh đi đâu mà mẹ con em chờ
    mãi?". Anh lấm lét nhìn vợ. Kẻ ăn vụng bị truy hỏi ngọn ngành đang lúng
    búng tìm lời biến báo. Và ánh mắt, ánh mắt lo lắng xót xa nhìn kẻ tội đồ đang
    run rẩy trên giường khiến anh muốn co mình lại như con giun đất sợ ánh sáng
    ngày. Một chút xíu nữa thôi là anh đã phun hết ra sự thật. Rất may bản chất
    ngoan cố của thằng đàn ông đã trỗi dậy kịp thời giúp anh bật mồm nói dối. Ôi
    giá như Trân hiểu chuyện mà bóng gió, mà chì chiết có lẽ anh đã có cớ để mà
    nạt nộ, rằng anh có quyền như thế, có quyền đi tìm người đồng cảm sẻ chia
    những tâm sự mà anh không thể tìm thấy ở Trân. Đằng này...
    Anh nằm thẳng tung nhu thân chuối, mặt úp vào gối, mặc cho Trân nuớc
    mắt lã chã rớt xuống lung anh nóng hổi, bàn tay hối hả xoa dầu cạo gió. Anh
    bình thản nhu một kẻ trúng gió thật sự, nhung trong lòng ðang tả toi nhu vừa
    trải qua một con lũ xiết. Con lũ xiết gặp phải cù lao chia làm hai dòng, một
    dòng cuồn cuộn bão giông, một dòng hững hờ phẳng lặng. Một lần nữa anh
    cay ðắng nhận ra rằng, mỗi con lũ ði qua, dẫu chẳng vô tình nhung những hạt
    phù sa không bao giờ ðọng vào bên lở.

    NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐỢI MƯA
    Đỗ Tiến Thụy
    www.dtv-ebook.com
    Chuyện Không Muốn Kể
    Rét đồng chiêm mạ tía hơ tía hất,
    Mẹ ăn trầu nuốt cái lạnh vào trong,
    Thân mạ cắm xuống vạt bùn buốt cóng,
    Ngậm phèn chua bén rễ trổ đòng...
    Mẹ bệnh. Một bên ngực mẹ, nơi tám chị em con bấu vào, hút kiệt và lớn
    lên đã được bác sĩ khoét bỏ. Khuôn ngực sáu mươi lép kẹp giờ lại thêm hõm
    xuống. Mẹ nằm đó, bàn chân sần sùi nứt nẻ, kẽ móng còn vương bùn đất
    đồng chiêm quá tương phản với giường ga trắng. Ngồi bên mẹ bây giờ chỉ có
    con, đứa con mà mẹ đặt nhiều hi vọng và thương yêu nhất, mặc dù con chưa
    làm được gì cho mẹ ngoài "những câu thơ vô bổ" như lời các em con. Lúc
    này đây, dưới ánh đèn xám lạnh, mẹ đang trong trạng thái mê, nhưng mẹ ơi,
    mẹ hãy nghe những lời trần tình của con.
    Bà ngoại kể... Trong một chầu tổ tôm, ông lí trưởng và ông phó lí đã gật
    gù thỏa thuận. Mẹ về làm dâu lúc tuổi mười lăm. Đêm tân hôn mẹ đóng chặt
    cửa không cho cậu ấm mười tám tuổi vào động phòng hoa chúc. Ông lí
    trưởng đập tan tành chiếc điếu bát nõ vàng se bạc, sai người đi gọi ông phó lí.
    Bà ngoại tất tả mang trầu rượu xuống nhà thắp hương quỳ lạy mẹ. Mẹ cuống
    cuồng chạy ra nâng bà ngoại dậy. Cửa buồng được mở. Chúng con lần lượt ra
    đời.
    Có lần con xem một bộ phim hài: Một ông nhốt gà chờ vợ đẻ, và khi nghe

    tin vợ sinh con gái thì thả gà ra... Mọi người cười rần rần, còn con thì bật
    khóc. Con thấy bộ phim ấy như nói chuyện nhà mình. Nhưng chuyện nhà
    mình không được như phim. Lý, Sự, Sinh, Mong, Mỏi - năm chị con ra đời
    trong sự hằm hè. Chỉ có con, con sinh ra trong tiếng bom rền, trong chớp đạn
    phòng không và sự hân hoan tột cùng của bố. Con sống trong sự nâng niu
    chăm bẵm của cả nhà cho đến ngày con vào lớp một. Một chiều con mang bộ
    mặt mực lem tím ngoét nhưng vô cùng hớn hở, nhảy chân sáo về nhà để khoe
    điểm mười đầu tiên. Nhưng chân con khựng lại. Nhà cửa tanh bành nồi niêu
    vỡ. Năm chị con ôm nhau rúm ró góc nhà. Lọ mực xách dây trên tay con rơi
    xuống sân tím tóe. Bố đang đập bàn hầm hố: " Họ nhà này chưa bao giờ chịu
    độc đinh!".
    Mẹ ơi, đêm đó sáu chị em con đã gào khản giọng tìm mẹ khắp nơi. Mãi
    sau có người đi cấy về chỉ cho chúng con chạy lên đồng Mả. Mẹ nằm vật vã,
    rũ rượi trên mộ ông ngoại, mười đầu ngón tay bứt cỏ máu bầm. Mặt mẹ sưng
    húp, khóc không thành tiếng: "Ới cha ơi, sao cha lại gả con như thế hở
    cha?!". Các dì các mợ và sáu chị em con ôm nhau khóc theo trong nghĩa địa
    đêm gió lùa hun hút. Mãi sau dì Thêm đứng phắt lên gạt nước mắt, gắt: "Chị
    cứ về tháo vòng ra mà đẻ, xem nó có nuôi được không". "Hời... ơi... Suốt
    ngày chỉ rượu với tổ tôm... Đẻ nữa thì lấy gì cho chúng nó ăn?...". "Nó đã
    tuyên bố thế, không đẻ mà yên được với nó à?".
    Và mẹ cắn răng mang bầu lần thứ bảy. Phú, Quý - hai em con chào đời
    trên bờ ruộng mạ chiêm gió đông bắc lùa tím tái. Tiêu chuẩn ăn bồi dưỡng
    của mẹ là một ổ trứng gà mười quả và một tuần cơm không độn sắn. Mẹ ơi,
    đến bây giờ con vẫn không thể nào quên, sau những buổi học về, con trai lớn
    của mẹ vẫn được mẹ phần cho một bát cơm và nửa quả trứng. Trong căn
    buồng ấm sực khói gộc tre khai nồng nước giải trẻ con, con đã ăn những
    miếng cơm ngon nhất trần đời, trong ánh mắt chứa chan của mẹ và nụ cười
    mụ dạy củahai em.

    Bỗng: "Đàn ông chui vào buồng gái đẻ để cái đầu nó ngu như lợn à!
    M...a...ạt! Họ nhà này mạt đến nơi rồi!", bố đang ngồi nhắm rượu với ngô
    rang đập bàn quát khiến con giật nảy, nhè miếng cơm đang nuốt dở. Bà nội
    lom khom chui vào mò mẫm dắt tay con ra ngoài sịt soạt: "Đừng vào trong ấy
    cháu ơi, nó mà đánh thì bà cũng chịu chẳngdám can.".
    Mười lăm ngày mẹ đã phải ra đồng theo vụ cấy. Hai em Phú Quý khóc
    ngằn ngặt trên tay chị Mỏi chị Mong. Bà nội mắt toét nhèm mang đĩa bột nấu
    muối đen màu tro bếp ra dử dê. Hai em nhóp nhép được vài miếng lại ré lên
    oe óe. Buổi trưa mẹ quần xắn tận bẹn bổ sấp bổ ngửa chạy về. Mẹ ngồi dựa
    lưng vào cột đỡ cho hai em bú cùng một lúc. Khi hai bầu vú lép xẹp, nổi gân
    xanh chằng chịt cũng là lúc mặt mẹ tái dại như dây khoai kiệt nước. Mẹ nói
    không ra hơi: "Mừng...vào lấy...sắn cho mẹ. Mẹ...đói quá!". Bát sắn lát đen sì
    mang ra mẹ chửa kịp ăn thì bà Mão láng giềng bế thằng cháu bụ tròn như hạt
    mít sang, trên tay là bát cơm trắng muốt: "Thím ăn rồi cho cháu ti nhờ một tí.
    Cái con mẹ nó ăn thủng nồi trôi rế, béo ị như con trâu trương mà vẫn không
    có sữa.". Mẹ bải hoải, đôi môi tái nhợt, lắp bắp: "Đợi...cháu nghỉ... một tí...".
    Bà Mão dài môi ghé tai mẹ thẽ thọt: "Thím Mừng này, mai sang nhà tôi lấy
    lúa về mà ăn. Người khác tôi lấy lãi dững bảy phân. Nhưng thím thì tôi lấy
    năm thôi...". Mẹ nhắm mắt gật đầu, vén áo. Thằng bé háu đói ngoạm vú rít
    choàm choạp.
    Bà Mão bế đứa cháu cười toe toét ra về, cố ý bỏ lại bát cơm. Bà vừa khuất
    cổng, mẹ vồ lấy bát cơm bốc vội bốc vàng, nuốt lấy nuốt để. Bất ngờ bà Mão
    quay lại: "Úi da, suýt nữa thì tôi quên cái bát!...". Mẹ sững lại. Miếng cơm
    nghẹn tắc nơi cuống họng phồng to như quả ổi. Mắt mẹ giàn giụa nước.
    Sau vụ cấy mẹ bị một trận kiết lị đè cho ngã quỵ. Lá mơ lông và trứng gà
    vừa đỡ mẹ gượng dậy, mẹ đã phải vào rừng Găng đốn củi. Mỗi ngày mẹ gánh
    hai bó củi gồi to hơn người để đổi lấy một khăn vuông gạo nấu cháo cho bà
    và các em ăn. Một hôm tối mịt mà mẹ vẫn chưa về. Mọi người bổ đi tìm, mãi

    mới ra. Một người Mường thấy mẹ nằm gục bên bờ suối, cạnh mo cơm sắn rã
    rời. Thuốc thang mãi mẹ mới qua đận ấy. Nhưng cũng từ đó mẹ mang trong
    người một căn bệnh kinh niên.
    Nhà thiếu đói triền miên, hai em còi cọc, cóm róm như cặp mèo đi kiết.
    Các dì các mợ góp tiền mua sữa bột cho, thứ sữa bột đóng bao năm mươi cân
    thời đó thường vón cục do quá hạn. Các em uống thứ sữa đó đi ngoài như
    tháo cống. Thương con, mẹ cương quyết chỉ cho các em bú mẹ, bú đến ba
    tuổi chưa thôi. Kể từ khi biết ngồi, hai em Phú Quý bú quen mỗi đứa một
    bên, đổi vú chúng nhất quyết không chịu bú. Mỗi khi trái gió trở trời, hai em
    cùng đau một lúc. Một li thuốc chia đôi, mẹ cầm thìa khuấy leng keng rồi cho
    Phú uống trước. Đến lượt Quý, nó giãy nảy không chịu uống. Dỗ dành mãi
    nó mới ngọng nghịu: "Con uống cái leng keng cơ!". Mẹ bật cười, lại khuấy.
    Leng keng leng keng. "Nào, u ti tráng miệng nào!", mẹ gọi. Hai đứa ngồi
    chồm hỗm hai bên như hai con chó con kéo dài vú mẹ...
    "Nhà này bảy đời đa đinh!", bố gật gù mỗi khi giỗ tết. Những ngày ấy,
    bốn bố con ngồi xếp bằng trên ghế phong thư với cỗ mâm đồng. Mâm chõng
    tre dưới đất là mâm đàn bà, cả bà nội bảy mươi tuổi cũng phải ngồi mâm đó.
    Và con, con là người đầu tiên phản đối chuyện ấy bằng việc lẳng lặng mang
    bát xuống ngồi mâm dưới. "Đồ mất dạy! Mày phá gia phong nề nếp nhà
    tao!", bố gầm lên chỉ mặt con. Xung đột giữa bố và con bắt đầu từ đó.
    Con học giỏi nhờ những buổi trên lưng trâu đọc sách. Dưới tán phi lao
    chờ mãn buổi cày luôn có những hình vẽ toán học của con. Bố so bì : "Mày
    chẳng được cái tang trạng gì sất. Nhìn thằng Khoan nhà Tụ kìa, mỗi buổi
    chăn trâu về nó còn bắt được mấy xóc cua.". Mẹ kêu lên : "Có ai như ông
    không, ai đời đi khen đứa ham bắt cua hơn ham học. Bố hằn học: Mày có học
    nát xương lòi tỉ chế độ này nó cũng không dùng mày!". Mẹ tự tin: "Chế độ
    nào chẳng cần người tài? Con cứ học đi, không được bắt chước mấy thằng
    lêu lổng!". Mẹ chỉ nói thế thôi, vậy mà bố gầm lên lao vào mẹ mà đấm đá.

    Con nhào vào bênh mẹ và nhận lấy cái bạt tai nổ đom đóm mắt cùng với bao
    nhiêu Dế mèn phiêu lưu kí, Sông Đông êm đềm, Chiến tranh và hòa
    bình...bay vào hố xí. Lạ một điều là mẹ không hề khóc. Mẹ gom góp gạo tiền
    cho con thi đậu cấp ba. "Con cứ học đi. Ông nội ông ngoại con mang tiếng
    địa chủ nhưng chỉ tối ngày tổ tôm, không có nợ máu với cách mạng. Bố mày
    hận vì bị tịch thu tài sản. Đang sung sướng quen rồi mà.". Bà nội thêm vào:
    "Bố mày dong dóng ăn chơi từ bé, có phải đụng tay vào việc gì đâu, muốn gì
    được nấy. Có lần bố mày đòi ăn trứng Trời, bà phải bắc thang lén bỏ trứng gà
    lên nóc nhà...".
    Những tháng năm đói kém ấy con đã bấm tuột mười đầu ngón chân trên
    đường lầy để lên trường huyện học. Trời chưa sáng con đã phải dậy đón từ
    tay bà hai củ khoai nóng hổi hoải bỏ vội vào túi quần, vừa chạy vừa ăn cho
    kịp giờ vào lớp. Vào lớp rồi lại ngồi run. Hai củ khoai hết veo trên chặng
    đường năm cây số. Trong bụng thấy réo sôi lên, còn đầu thì loáng thoáng
    những phương trình tag cost... Con tưởng đã phải bỏ học nửa chừng nếu như
    mẹ không vay lãi mua cho con một chiếc xe đạp tòng tọc không chắn bùn
    chắn xích. Lũ bạn phố huyện con nhà phe phẩy, lượn lờ trên những chiếc xe
    Viha, Diaman, Favorit...trề môi giễu con. Con có độc một bộ đồ xanh chéo,
    vừa đi học về là phải cởi ngay ra, treo lên, chủ nhật mới dám đem đi giặt. Có
    đứa ngồi sau bàn con hỏi kháy: "Bố mẹ đằng ấy là công nhân nhà máy dệt
    hay sao mà mặc mỗi một bộ vải xanh Nam Định thế?!". Con đỏ mặt chống
    chế: "Tớ có hai bộ thay đổi đấy.". Nó không tin lén lấy bút bi đánh dấu rồi
    đem ra làm trò cho chúng bạn cười. Cũng may con học giỏi hơn nên bọn
    chúng chửa dám khinh.
    Nhưng ghét thì có. Ấy là từ buổi đi lao động cộng sản trên Tiên Phương.
    Sợ con xấu hổ với bạn bè, mẹ cắt lá dong gói bánh chưng cho con mang đi ăn
    trưa. Trưa đó khi chúng bạn túm tụm bày cơm trắng với giò, tôm khô, ruốc
    thịt...ra ăn thì con một mình lủi thủi mang "bánh chưng" ra sau gốc thông già.
    Có đứa trông thấy, con vội vàng gói lại rồi bỏ đi. Bọn bạn con cười hô hố bảo

    con là đồ ăn tham, có bánh chưng mà ăn hẫm một mình. Con không một lời
    thanh minh, không dám thanh minh, bởi bên trong khuôn bánh chưng lá dong
    xanh mỡ ấy là những lát sắn đen sì. Nhìn nét mặt con chiều hôm ấy, mẹ đoán
    ra ngay.
    Khi hai em con đi học, mẹ thường đem chuyện này ra kể để làn gương. Bố
    chửi hất đi bằng điệp khúc cũ: "Có học nát xương lòi tỉ chế độ này nó cũng
    không dùng chúng mày. Học biết đọc biết viết là được.". Nghe lời bố, sau
    mỗi buổi học, hai em con vác gàu ra đìa tát cá về cho bố nhắm rượu. Lớn
    thêm chút nữa, bố sắm cho mỗi đứa một chiếc cần câu quăng. Sau mỗi buổi
    câu về ba bố con quây quanh đĩa thịt ếch nấu chuối xanh. Hai em Phú Quý
    cũng tì tè uống rượu. "Tập cho chúng bay biết uống thì về sau tao già, tao
    mới uống ké được chúng mày.". "Giời ơi là giời! Ông làm hỏng con tôi
    mất!". Bố gầm gừ: "Mày làm hỏng con ông thì có. Rồi xem hai thằng này sẽ
    khá hơn thằng nửa đời nửa đoạn kia!", bố ném ánh mắt hằn học về phía con.
    Mẹ thở dài kéo con ra ngoài: "Tuổi hai bố con mày xung khắc.".
    Khi bà và mẹ bàn cho con nhập ngũ, con đồng ý tức thì. Trong đầu con
    lúc đó chỉ xoáy cồn một ý nghĩ duy nhất: Thoát khỏi ngôi nhà ngột ngạt này
    càng nhanh càng tốt. Bố mỉa mai: "Lấy máu mà viết đơn! Hai thằng chú mày
    bỏ xác ngoài chiến trường chưa đủ à?". Bà nội mắt đã mờ lòa vịn cột đứng
    dậy quơ quào: "Trời cao đất dày ơi! Hai thằng nó chết mày mới có tiền đổ
    vào họng mỗi ngày đấy!".
    Ngày con lên đường, bà lần bao tượng dúi vào tay con: "Bà cho, tiền tuất
    tháng này của hai chú mày đấy. Vào bộ đội thì cố gắng mà học nữa. Ở nhà có
    đậu đại học thì mẹ mày cũng không có tiền cho mày ăn học đâu.".
    Ở đơn vị, khi nghe tin bà mất con đã khóc mấy ngày liền. Sực nhớ lời bà
    dặn hôm nào, con lao vào ôn. Con về phép với tin đỗ trường Lục quân. Bố
    khinh khỉnh: "Hữu danh vô thực. Sĩ quan đói như ngan ấp, đang xin ra quân
    cả lũ kia kìa. ". Còn mẹ thì mừng. Hai mắt mẹ ăm ắp nước.

    Hai em con học đì đẹt, hai năm một lớp. Hết lớp ba đã bỏ. Bố sắm cho
    mỗi đứa một chiếc xe đạp và một thùng xốp. Hai đứa nhận những que kem
    nước lã pha đường hóa học vào tận bản Mường để đổi ngô đổi nếp. Tận bây
    giờ con vẫn còn nghe văng vẳng tiếng còi "kem...mút" và tiếng rao dẻo quẹo
    của hai đứa: "Ai ăn kem nào. Kem dừa kem sữa, ngọt lử ngọt lừ, dừa quấn
    dừa quýt, dừa vít cong que, già ăn trẻ lại, gái ăn đắt chồng. Ai ăn kem rẻ chạy
    khỏe ra mua. Kem mậu dịch đơ...ây!...". Mỗi buổi chiều về, từ thùng xốp bọc
    cót, hai đứa lôi ra đủ nấm hương, mộc nhĩ, có khi là cả một cặp sừng hươu
    nguều ngoào. Mắt bố sáng rỡ lên, miệng cười tấm tắc. Lúc đó thì con còn
    đang đắm chìm trong những phạm trù triết học. Vật chất và ý thức, cái nào
    chi phối cái nào?
    Khi con ra trường, khoác trên mình bộ quân phục sĩ quan thì hai em con
    đã biết chui vào mấy bãi xe do máy bay Mĩ bắn cháy ở Miếu Môn, móc
    ngoặc mua xăm lốp, phụ tùng bán kiếm lời. Chúng khụng khiệng áo bay quần
    bò mũ cối trong sự thèm thuồng xoa xuýt của trai làng. Làng bên có tin đồn:
    "Cô Hoa bán quán đầu cầu đẻ, đứa con trai giống Phú Quý y tạc. Mẹ áo khăn
    te tái "đi đón cháu về". Thằng Quý lừ mắt: "Bà già hâm tỉ độ. Nó ngửa cho cả
    trăm thằng, biết con ai?". Bố tợp một ngụm rượu, đế vào: "Ừ, sang mà đón
    về. Ông thì băm cho ngan nó ăn!". Mẹ bất lực thở dài, chỉ dám thỉnh thoảng
    lén sang thăm và dúi cho cháu chút quà bánh nhỏ.
    Giỗ bà năm đó, hai em Phú Quý mặt rượu đỏ cay đỏ cợi tuyên bố: "Mẹ
    kiếp! Cái đất này giờ khó làm ăn rồi. Hai thằng con tính vào Tây Nguyên
    xem sao.". Bố rung đùi gật gù: "Có chí làm ăn lớn thế là tốt!". Mẹ can: "Thôi,
    ở nhà no đói có mẹ có con. Chẳng đâu bằng quê mình con ạ!". Thằng Phú
    gằn giọng: "Ở để cho mấy thằng xã nó hạnh họe à? Mẹ kiếp! Cán bộ gì mà
    ngu như chó, mở miệng là đường lối chủ trương. Lí thuyết hão. Dân đ. khálên
    được!".
    Hai em đi, con năng về với bố mẹ hơn. Bố không còn hằn học với con

    nhưng cũng chẳng tỏ vẻ thân tình. Số phận đưa đẩy thế nào con lại chuyển
    sang làm báo. Mẹ tự hào về con lắm, đi khoe khắp làng. Bố xì một tiếng rõ
    dài: "Tưởng mày theo nghiệp võ tao còn mong được nhờ mơ. Vẻ vang đếch
    gì cái nghề ấy, như thằng mõ làng ngày xưa!".
    Mừng thọ mẹ sáu mươi, con cháu kéo về cả đàn cả lũ. Mẹ ngượng ngùng
    trong áo gấm dài thêu. Hai em Phú QuÝ mang về biếu mẹ nhung hươu, cao
    hổ. Mẹ thờ ơ nhận: "Mẹ bệnh đại tràng mãn tính, đâu có ăn được những thứ
    này.". Con chẳng có gì biếu mẹ, chỉ có bài thơ đọc trước cả nhà. Thế mà mẹ
    mừng, nước mắt rưng rưng.
    Bữa cơm, con hỏi chuyện làm ăn, hai em hãnh diện khoe: Ban đầu vào
    buôn bán nhì nhằng, mua được miếng đất rộng vung vinh trên đường 14.
    Đùng một cái, tách tỉnh. Miếng đất ấy nghiễm nhiên thành trung tâm thị xã.
    Tấc đất tấc vàng, cứ việc cắt khoanh ra mà bán. Giờ giàu. Một đứa là chủ
    tiệm kinh doanh xe Hon-da, một là chủ cửa hàng kim khí điện máy. Hai đứa
    ăn uống nhồm nhoàm. Thằng Phú dốc li rượu một cách lục lâm, kẻ cả với
    con: "Ra quân, vào bọn tôi nhượng cho miếng đất mà làm ăn. Ham hố đếch gì
    ba đồng lương chết đói!". Con tự ái: "Chúng mày mới giàu mà đã lên mặt dạy
    đời.". Thằng Quý xí: "Ông chỉ được cái sĩ bọ! Ông đóng góp được đếch gì
    cho đất nước ngoài mấy bài báo hô hào cổ động suông? Bọn tôi đây này, thuế
    mỗi tháng hai triệu, ấy là chưa kể mấy thằng chó Công an, mấy thằng Thanh
    niên, mấy mụ Phụ nữ...tháng nào cũng cho người đến xin xỏ tổ chức phong
    trào này nọ. Ông tưởng nhà báo các ông là to hử? Trong tôi ngày nào chả có
    mấy thằng nhà báo đến kì kèo xin làm quảng cáo. Thí cho mấy đồng thì bảo
    viết gì chả viết. Đây này...", nó móc ra một loạt bài báo cắt ép plastic đàng
    hoàng. Đủ những cái tít kêu như chuông: Doanh nghiệp tư nhân Hưng Phú đơn vị đi đầu trong phong trào đền ơn đáp nghĩa; Nguyễn Hưng Quý - ông
    giám đốc hào hiệp với trẻ thơ; Nguyễn Hưng Phú - nhà doanh nghiệp giàu
    lòng nhân ái... "Đấy, nhà báo đấy!", thằng Phú ném toẹt những bài báo ấy ra
    mặt bàn khinh bỉ. Mẹ gắt: "Hỗn nào! Anh con nhờ làm nhà báo nên mới có

    tên trong Ban soạn thảo hương ước của làng đấy.". Thằng Quý bĩu môi:
    "Tưởng gì! Nếu mẹ thích, tên hai thằng con sẽ được khắc vào bia đá!".
    Chúng nói và làm được thật. Ngay ngày hôm sau, tấm bia đá đã có tên hai
    đứa với mức đóng góp tu bổ đình làng cao nhất: mười triệu. Mẹ hỏi: "Mừng,
    sao con cũng đóng góp mà không được khắc?". Thằng Phú cướp lời con: "Ôi
    dào! Ba đồng tẹp nhẹp ai thèm khắc. Làng quy định rồi, dưới triệu chỉ ghi sổ
    vàng, trên triệu mới khắc vào bia đá.". Mẹ kêu lên: "Giời ơi là giời! Làm thế
    thì bia đá toàn tên những đứa lắm tiền vô học à?". Thằng Phú vằn mắt quát:
    "Bà câm mồm đi! Bà muốn thì ôm lấy thằng con lắm chữ mà húp cháo!". Mẹ
    điếng người ôm ngực ho rũ rượi trước câu chửi giả bất ngờ. Mẹ tuyên bố từ
    cả hai thằng.
    Suốt những tháng ngày sau đó, mẹ sống vật vờ như cái bóng. Con đã linh
    cảm sẽ có chuyện không lành. Và đúng. Bao nhiêu mưa nắng gió sương tích
    tụ dần trong người mẹ đã trở thành ung nhọt. Khi đưa mẹ từ phòng mổ ra, bác
    sĩ nói với bố: "Bà ấy tạm thời qua khỏi.". Bố thủng thẳng: "Bà ấy sống được
    là nhờ tiền hai thằng con tôi trong kia gửi ra. Chứ như cái ngữ kia ấy à, bà ấy
    có mà chôn sớm!". Con nuốt nỗi mặc cảm yếm thế vào lòng mà không dám
    ngước lên, bởi những điều bố nói đều là sự thật. Đưa mẹ đi bệnh viện, trong
    túi con vẻn vẹn một tháng lương ứng trước. Tất cả chi phí cho ca mổ và cả
    giọt giọt những sự sống đang truyền vào cơ thể mẹ kia đề...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách là cách đối thoại thầm lặng với những bộ óc vĩ đại nhất trong lịch sử." – René Descartes

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG HIỆP - TP. HỒ CHÍ MINH !