Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn
Muốn Là Được - Frederick Forsyth

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:31' 25-03-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:31' 25-03-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Thông tin sách
Tên sách: MUỐN LÀ ĐƯỢC
Tác giả: Frederick Forsyth
Người dịch: Thái Thịnh
Nhà phát hành: NXB Trẻ
Nhà xuất bản: NXB Trẻ
Khối lượng: 100g
Kích thước: 13 x 19 cm
Ngày phát hành: 01/2002
Số trang: 73
Thể loại: Truyện ngắn Hình sự
Thông tin ebook
Nguồn: http://tve-4u.org
Type+Làm ebook: thanhbt
Ngày hoàn thành: 20/11/2016
Dự án ebook #271 thuộc Tủ sách BOOKBT
Giới thiệu
Mark Anderson, một tay người Anh giàu có, thích hưởng thụ và có khẩu
hiệu sống là: “Mark đã muốn thì sẽ có được!” Oái oăm thay, gã đã lại đi
phải lòng quý cô Summers đã có chồng và sống tận Tây Ban Nha. Quý cô
đã cự tuyệt gã. Ôm nỗi uất ức trong lòng, gã thuê sát thủ bắn chết lão chồng
của cô ta. Muốn là được, thì anh chồng xấu số nọ cũng chầu trời, nhưng gã
Mark được còn nhiều hơn cái hắn muốn...
Tên Murphy bày cách ăn cướp một xe chở rượu. Sau bao khó nhọc nó cũng
đã bắt được chiếc xe tải, chỉ ngặt nỗi thằng tài xế cứ một mực bảo xe nó chỉ
chở phân thôi, chả có rượu riếc chi cả. Rồi thì cảnh sát ập vào xét xe tải,
mới phát hiện ra trong các bao tải chính là .... Gã Murphy ngầm cảm ơn bọn
cớm.
Quý ông Hanson qua đời để lại gia tài kếch xù cho ba người họ hàng còn lại
mà ông ghét cay ghét đắng. Ông muốn hành hạ họ một phen mà không cho
họ một xu. Và ông cũng chẳng muốn chi 65% thuế thừa kế cho chính
quyền. Ông muốn làm một điều gì ý nghĩa cho những đứa trẻ mồ côi. Ông
muốn có một tang ma thiệt độc đáo. Và ông nghĩ ra một cách...
Thẩm phán Comyn tình cờ bị cuốn vào một ván bài của một tay nhỏ thó và
một đức Cha. Đức Cha thì nào chơi bài được, thế là họ bày ra trò đánh bài
ăn que diêm. Riết cũng chán, họ quy diêm ra tiền và thẩm phán Comyn bảo
nếu Cha thắng thì cứ lấy tiền làm từ thiện còn nếu Cha thua thì không đòi
Cha trả tiền là được. Đức Cha thắng to. Comyn thấy chẳng có gì lăn tăn. Ấy
là cho đến một ngày tên nhỏ thó ấy bị người ta kiện bạc bịp...
Muốn là được gồm bốn truyện ngắn, tiết tấu nhanh, thắt mở nút bất ngờ và
đầy chất châm biếm mỉa mai của Frederick Forsyth sẽ dẫn bạn từ bất ngờ
này đến bất ngờ khác.
Lời giới thiệu
Bối cảnh của các câu chuyện trong cuốn sách này được xây dựng ở các
thành phố và các quốc gia khác nhau. Muốn Là Được là một câu chuyện
xảy ra tại thành phố Luân Đôn và cả thành phố Alicante, một vùng duyên
hải thuộc đất nước Tây Ban Nha. Trong khi đó, Xôi Hỏng Bỏng Không...
và Phán Xử Công Bằng lại có bối cảnh ở miền nam Ireland.
Hòn đảo Ireland nằm về phía tây vương quốc Anh và được chia thành hai
phần. Ở phía nam hòn đảo là nước cộng hòa Ireland, còn gọi là Eire. Trong
lịch sử, đã có lúc Eire chỉ là một bộ phận nằm trong vương quốc Anh. Giờ
đây Eire là một quốc gia độc lập có thủ đô là thành phố Dublin. Ở phía bắc
hòn đảo là đất nước Bắc Ailen (Northern Ireland), thường được gọi là
Ulster. Ulster là một bộ phận nằm trong vương quốc Anh, thủ đô của Ulster
là thành phố Belfast. Cuộc chiến ở Bắc Ailen từng kéo dài trong nhiều năm
trời nhằm thực hiện bằng được nguyện vọng tách rời Bắc Ailen ra khỏi
vương quốc Anh.
Ngày ngày đều có phà qua lại trên vùng biển nằm giữa đất nước Ireland,
Anh và châu Âu. Ngoài việc vận chuyển khách, những chiếc phà này còn
chuyên chở cả các xe tải mang hàng hóa ra vào đất nước Ireland.
Một Sắp Xếp Hoàn Hảo là câu chuyện về một nhà triệu phú tên là Timothy
Hanson. Nhà triệu phú này sở hữu một căn hộ riêng ở West End of London
(khu Tây Luân Đôn) và một cao ốc văn phòng rộng lớn ở ngay City of
London (Trung tâm tài chính và thương mại của thành phố Luân Đôn, là
phần cổ kính nhất thuộc thành phố Luân Đôn). Ông Timothy Hanson dành
phần lớn thời gian của mình để sống tại một trang viên rộng lớn ở hạt Kent,
thuộc vùng đông nam nước Anh. Ông ta thường ngồi xe hơi đi về trang viên
ở hạt Kent này và cứ mỗi lần đi về như vậy ông lại đi qua khu Đông Luân
Đôn (East End of London), chính là vùng dân cư nghèo khổ của thành phố
Luân Đôn.
Hy vọng rằng tập truyện ngắn này của tác giả Frederick Forsyth sẽ mang
lại cho bạn đọc những giây phút thú vị với những kết cục truyện đầy bất
ngờ và éo le đến hài hước.
MUỐN LÀ ĐƯỢC[1]
Mark Sanderson là người biết tận hưởng những thú vui của cuộc đời. Anh
thích được phụ nữ vây quanh, ăn món ngon vật lạ và uống rượu sâm banh.
Điều quan trọng là anh luôn có tiền trong tay để mua ngay những gì mình
thích, bởi anh chính là một nhà triệu phú.
Mark Sanderson đã phất lên nhanh chóng nhờ vào công việc kinh doanh bất
động sản ở Luân Đôn. Giờ đây anh đang ở vào tuổi ba mươi chín, tiền
muôn bạc khối, tiếng tăm lẫy lừng nhưng lại cảm thấy buồn tẻ!
Hình chụp của anh thường xuất hiện trên báo chí, bên cạnh các minh tinh
màn bạc và các nữ diễn viên nổi tiếng. Anh yêu thích phụ nữ nhưng chưa hề
đem lòng yêu thương thực sự một người nào. Thực ra, anh cho rằng sẽ
không bao giờ gặp được người phụ nữ mà mình muốn cưới làm vợ.
Khi đã phất lên, anh bèn tậu cho mình một trang viên bề thế ở miền quê,
một ngôi nhà ở Pháp, một xe hơi thể thao, một chiếc Rolls Royce và một du
thuyền. Nói chung là anh có thể mua được bất cứ thứ gì mình muốn và đã
từng cao giọng tuyên bố: “Mark đã muốn thì sẽ được!”
Anh đã tiếp xúc với nhiều phụ nữ, nhưng chưa bao giờ anh gặp được người
phụ nữ mà mình hằng mong mỏi.
Rồi bất ngờ một đêm kia, anh đã gặp nàng.
Hôm ấy, anh đến dự một bữa tiệc chiêu đãi tề tựu nhiều nhân vật hoặc giàu
có, hoặc tiếng tăm, hoặc nhan sắc xinh tươi mà Mark Sanderson vốn không
xa lạ gì. Nhưng bên cạnh những gương mặt quen thuộc đến nhàm chán ấy,
xuất hiện một phụ nữ mà anh chưa từng gặp. Nàng chừng ba mươi tuổi,
người cao dong dỏng và đầy vẻ thu hút; nàng mặc một chiếc đầm trắng kiểu
đơn giản, mái tóc màu nâu được cột gọn lại ở sau gáy, không đeo nữ trang
và cũng không trang điểm. Ngay khi Mark Sanderson trông thấy nàng, anh
đã nảy sinh ngay ước muốn có được nàng, một ước muốn mãnh liệt hơn bất
kỳ điều gì khác trên đời!
Anh tiến về phía nàng và cất tiếng hỏi chuyện: “Cô thấy bữa tiệc có vui
không?”
Nàng mỉm một nụ cười với anh rồi đáp: “Tôi không thích lắm. Chỉ đến dự
tiệc theo lời mời từ một người bạn học nên tôi không quen biết ai cả.”
Mark Sanderson vừa mỉm cười tỏ ra thông cảm, vừa nhìn sâu vào đôi mắt
đen láy của nàng. Anh hiểu ngay rằng nàng chính là người phụ nữ anh hằng
mong đợi, một tuýp phụ nữ mà anh cứ ngỡ là suốt đời này mình không bao
giờ gặp được. Nhưng rồi cũng ngay lúc ấy, đập vào mắt anh là chiếc nhẫn
cưới đang lấp lánh trên ngón tay nàng.
“Tại sao trước đây tôi chưa bao giờ gặp cô nhỉ?”, anh hỏi.
Nàng cởi mở kể cho anh biết là nàng vốn sinh sống ở Tây Ban Nha, chỉ đến
chơi Anh quốc có một tuần, chồng làm nghề viết sách, bản thân là giáo viên
tiếng Anh, tên gọi là Angela Summers.
Khi tiệc tàn, Mark Sanderson ngỏ ý mời nàng hôm sau cùng đi ăn tối.
Nàng trả lời sau khi suy nghĩ một lúc: “Vâng, tôi nghĩ là được đấy.”
Tối hôm sau anh lái xe đến đón nàng. Nàng nhanh nhẹn bước đến chiếc xe
trong một chiếc đầm dài kiểu cũ. Sau khi đã yên vị, họ lái xe tới một nhà
hàng và dùng bữa ở đó. Trong suốt bữa ăn hôm ấy, nàng đã bộc lộ phong
cách trò chuyện thông minh và quan tâm lắng nghe Mark.
Thế là Mark ngày càng say sưa nói nhiều hơn về bản thân. Càng lúc, Mark
càng yêu thích nàng hơn và càng muốn kể cho nàng nghe cả về những điều
mà ngày thường Mark không hay nói đến.
Khi nhà hàng đã đến giờ đóng cửa, hai người vẫn còn mải mê thầm thì trò
chuyện. Mark đánh bạo mời nàng cùng về căn hộ riêng của anh, nhưng
nàng đã từ chối một cách lịch sự mà cương quyết.
Mark Sanderson biết mình đang yêu. Anh không bận tâm đến chuyện gì và
bất kỳ người nào ngoài nàng Angela Summers. Anh bắt đầu gửi quà tặng và
gọi điện thoại cho nàng. Anh muốn được liên tục gặp gỡ nàng trước khi
nàng lên đường trở về Tây Ban Nha. Anh muốn dẫn nàng đến thăm ngôi
nhà nghỉ mát của mình ở thôn quê, anh muốn mời nàng dạo chơi trên chiếc
du thuyền và đi đó đây trên những chiếc xe hơi sang trọng của mình. Và
hơn thế nữa, anh muốn làm tất cả để giữ nàng ở lại bên anh, vì “Mark đã
muốn là phải được!”.
Vào buổi tối hôm cuối cùng họ đi chơi với nhau, Mark thổ lộ với Angela là
anh muốn nàng ở lại Anh quốc với mình. “Em hãy ly dị chồng rồi kết hôn
với anh,” Mark yêu cầu.
Nàng nhìn anh dò xét và nhận ra ngay là anh đang nói chuyện nghiêm túc.
Nàng bèn lắc đầu rồi đáp: “Em không thể ly dị chồng được đâu.”
“Anh yêu em,” Mark tha thiết bộc lộ tình cảm, “và anh sẽ làm bất cứ điều gì
vì em.”
“Đây là lỗi tại em,” nàng phân bua. “Đúng ra em nên ngưng không gặp gỡ
anh sớm hơn nữa. Nhưng anh phải hiểu là em không bao giờ có thể rời bỏ
chồng mình. Anh ấy cần có em.”
“Nhưng chẳng lẽ em không hề yêu anh một tí nào sao?”
“Em cũng không biết nữa,” nàng từ tốn đáp.
“Anh muốn có em!”, Mark thốt lên với vẻ mãnh liệt.
“Đúng là anh muốn có em,” nàng kiên quyết, “nhưng anh không cần em.
Anh không cần em như chồng em cần em.”
“Như vậy là các người, em và chồng em sẽ sống bên nhau?”, Mark gằn
giọng vẻ tức giận.
“Vâng, trong suốt phần đời còn lại,” nàng nhỏ nhẹ đáp. Thế rồi, nàng dứt
khoát đứng lên, vụt hôn Mark một cái thật nhanh và bỏ đi.
Mark Sanderson chỉ còn lại có một mình, lòng ngổn ngang với một tình yêu
say đắm, giờ đã trở thành một nỗi ám ảnh cuồng si. Anh lẩm bẩm: “Mark
đã muốn là phải được. Mãi mãi là như vậy.”
***
Mark Sanderson đã tâm niệm là anh muốn và sẽ phải lấy bằng được nàng
Angela Summers, người phụ nữ khác biệt hẳn với những phụ nữ khác.
Trong khi các cô các bà khác chỉ chăm chăm dòm ngó tiền bạc của chàng
triệu phú Mark Sanderson, thì nàng Angela Summers lại không màng đến
nó. Đã vậy thì Mark quyết định phải dùng tiền theo một cách khác để chiếm
được nàng.
Anh thông báo cho các nhân viên quản lý kinh doanh làm việc dưới quyền
là anh sẽ nghỉ ngơi một thời gian ở nhà và hứa hàng ngày sẽ chủ động gọi
điện thoại. Rồi anh đi thuê một căn hộ nhỏ nằm giữa thành phố Luân Đôn,
trả trước tiền thuê hai tháng và đăng ký dưới cái tên 'Michael Johnson'.
Chính ở căn hộ nhỏ này, anh đã lần lượt thực hiện từng bước kế hoạch
chiếm hữu nàng Angela Summers. Anh đã có cái tên mới là Michael
Johnson. Bây giờ anh cần có một gương mặt mới vì gương mặt cũ đã nổi
danh, cần phải được biến đổi đi một chút. Anh bèn tìm đến một tiệm làm
tóc nhỏ, bảo thợ cắt tóc mình cho ngắn lên rồi nhuộm thành màu vàng.
Cái anh cần tiếp theo là toàn bộ thông tin về nàng Angela Summers và
người chồng yêu quý của nàng. Anh bèn thuê thám tử tìm nơi cư ngụ của
đôi vợ chồng ở Tây Ban Nha. Cũng trong thời gian này, anh tìm được tên
tuổi một lính đánh thuê đã tung hoành nhiều năm ở châu Phi và Trung
Đông. Anh khám phá ra là gã lính đánh thuê này hiện đang lẩn quất đâu đó
trong thành phố Luân Đôn.
Tay thám tử đã thu thập đầy đủ thông tin về nàng Angela Summers và
chồng nàng, kể cả hình ảnh về họ nữa. Đôi vợ chồng này đang sống trong
một biệt thự ở Costa Blanca, nằm gần thị trấn Ondara, giữa thành phố
Alicante và thành phố Valencia. Vào buổi sáng, nàng Angela Summers đi
dạy tiếng Anh. Mỗi buổi chiều, trong khoảng từ ba giờ đến bốn giờ, nàng ra
bãi biển còn người chồng thì ở lại biệt thự, bận rộn với công việc viết sách
về các giống chim ở miền nam Tây Ban Nha.
Mark Sanderson làm chủ nhiều công ty, trong số đó có một công ty xuất bản
đã phát hành một quyển sách về lính đánh thuê ở châu Phi. Mark đến gặp
tác giả quyển sách này, mang theo tên của người lính đánh thuê ở Luân Đôn
mà anh đang muốn tìm.
Tay tác giả sống trong một căn hộ rẻ tiền và thường xuyên say xỉn. Mark
Sanderson tự giới thiệu: “Tên tôi là Michael Johnson, làm việc cho nhà xuất
bản đã từng in sách của ông. Tôi thích sách của ông lắm.”
“Quyển sách đó bán đâu có chạy lắm,” tay tác giả đáp.
“Đúng là vậy...”, Sanderson đồng ý, “nhưng chúng tôi đang nghĩ đến việc
xuất bản câu chuyện về một nhân vật khác mà ông cũng biết. Chúng tôi sẽ
trả ông 100 đồng bảng Anh nếu ông cho chúng tôi biết chỗ tìm ra người
đó.”
Gương mặt tay tác giả sáng bừng lên khi nghe đến tiền bạc. “Các ông muốn
tìm ai?”
“Một người mang họ Hughes.”
“Tên cặn bã đó ư! Hắn ta mà viết sách ư?”, tay tác giả thốt lên.
“Tôi có thể tìm hắn ta ở đâu?”, Sanderson vừa hỏi vừa móc túi lấy ra mười
tờ mười bảng Anh.
Tay tác giả nhận tiền rồi viết một cái tên lên một mảnh giấy. “Hắn ta thường
uống rượu ở đó,” ông ta nói gọn lỏn.
Sanderson ra về. Trên mảnh giấy là tên của một quán bar nằm trong hạt
Earls.
Tổi hôm đó, Sanderson đến ngồi trong quán ba hạt Earls suốt nàm tiếng
đồng hô liền. Trong tay anh không có hình ảnh gì về gã đàn ông mà anh
đang tìm kiếm, chỉ dựa vào lời mô tả rằng đó là một gã cao, khỏe, vai rộng,
mắt sáng và có một vết sẹo hằn sâu trên cằm. Vậy mà Sanderson đã nhận ra
gã đàn ông ngay khi gã vừa bước vào.
Gã đàn ông tiến lại quầy bar và đứng đó chậm rãi nhấp hết một ly bia. Khi
gã bỏ đi, Sanderson liền bám theo gã. Thì ra, gã đi bộ đến khu hộ chung cư
lân cận, lấy chìa khóa ra tra vào cánh cửa số 2, rồi biến vào bên trong; liền
sau đó có một ngọn đèn sáng lên trong căn hộ.
Mười phút sau Sanderson mới đến gõ cửa. Ánh sáng trong căn hộ vụt tắt
trước khi cánh cửa được chầm chậm hé ra khiến Sanderson không thể trông
thấy được gì bên trong.
“Anh là Hughes phải không?” Sanderson hỏi.
“Ai cần gặp ông ấy?”, một giọng nói phát ra từ trong bóng tối.
“Tên tôi là Johnson, Michael Johnson,” Sanderson đáp.
“Ai chỉ ông đến đây?”
Khi Sanderson nói ra tên của tay tác giả thì cánh cửa mới được mở rộng.
“Mời vào.”
Sanderson bước vào trong căn phòng tối. Hughes đóng cửa rồi bật sáng
ngọn đèn. Trong căn hộ không có nhiều vật dụng. Hughes chỉ tay vào một
chiếc ghế nhỏ và Sanderson ngồi xuống đó.
“Tôi có một việc cần làm,” Sanderson vào đề ngay. “Tôi muốn một người
đàn ông phải chết.”
Hughes nhìn Sanderson trừng trừng rồi bước đến bên một máy phát thanh
đang chơi nhạc dìu dặt. Gã vặn cho volume cực lớn, rồi mở một ngăn kéo
lần lượt lôi ra giấy, bút chì và một khẩu súng.
Sanderson muốn xỉu khi thấy mũi súng chĩa về phía mình. Hughes viết một
vài chữ lên trên tờ giấy rồi đẩy tờ giấy trượt trên mặt bàn “CỞI ĐỒ RA”.
Thật từ tốn, Sanderson đứng lên cởi cái áo khoác ngoài. Hughes đón lấy và
cho một tay vào lục nhanh các túi áo, tay kia vẫn cầm súng chĩa về phía
Sanderson. Sau đó, Sanderson tiếp tục cởi bỏ phần áo quần còn lại dưới sự
theo dõi của Hughes.
“Được rồi, mặc vào đi,” Hughes ra lệnh. Rồi hắn ta vặn cho volume máy
phát thanh nhỏ lại và cất khẩu súng đi.
“Anh nghi là tôi mang theo súng hả?” Sanderson hỏi.
“Không,” Hughes đáp. “Tôi muốn biết ông có đem theo micro hay máy ghi
âm không. Ngay từ đầu tôi đã biết là ông không mang súng.”
“Nào, quay trở lại vụ này,” Sanderson tiếp tục câu chuyện. “Tôi sẵn sàng
thanh toán hậu hĩ.”
“Giá nào của ông cũng không thể gọi là hậu hĩ với tôi đâu,” Hughes nói.
“Tôi không cần anh làm việc này,” Sanderson trả lời. “Tôi muốn tìm một
tay đánh thuê ngoại quốc để thực hiện vụ này ở một xứ khác. Hãy giới thiệu
cho tôi tên của một người như vậy.”
Sanderson lấy ra năm mươi tờ giấy bạc hai mươi bảng Anh mới cáu và đặt
chúng lên bàn. “Tôi sẽ tiếp tục đưa thêm chừng này tiền nữa khi anh cho tôi
một cái tên để liên hệ.”
Hughes cầm lấy tiền. “Tôi cần một tuần,” gã hẹn. “Đúng vào tối này của
tuần sau, ông hãy chờ tôi ở quán bar đêm nay. Hãy tới đó lúc mười giờ tối.
Tôi sẽ điện thoại cho ông và cung cấp một cái tên. Ông hãy gửi số tiền còn
lại đến phòng thư lưu Hargreaves ở bưu điện hạt Earls.”
Một tuần sau, Sanderson lại đến quán bar ở hạt Earls. Điện thoại reng lên
vào lúc mười giờ đúng. Đó là cú điện thoại dành cho 'Ngài Johnson' do
Hughes gọi đến.
Hughes nói nhanh: “Có một quán cà phê trên đường Miollin ở Paris. Ông
hãy đến đó vào giữa trưa ngày thứ hai tuần tới. Hãy đọc tờ Le Figaro và nhớ
đem theo năm nghìn bảng Anh bằng tiền mặt.”
Vào ngày thứ hai của tuần kế tiếp, Sanderson đến ngồi đọc tờ Le Figaro
trong quán cà phê nằm trên đường Miollin. Vào lúc mười hai giờ năm phút,
một gã đàn ông từ quầy bar đứng lên, đến ngồi cùng bàn với anh ở phía đối
diện. Gã này là một dân đảo Corsica da sậm. Gã xưng tên là Calvi và
Sanderson giới thiệu tên mình là Johnson.
Họ trò chuyện trong vòng hai mươi phút. Rồi Sanderson đặt một tấm hình
lên trên tờ báo. “Đây là hình của người đó,” anh giải thích. “Địa chỉ ghi ở
sau lưng tấm hình. Đó là một biệt thự yên tĩnh bên bờ biển. Và việc này
phải được thực hiện trong khoảng thời gian từ ba đến bốn giờ chiều của
ngày thường, vì vào quãng thời gian đó người này luôn ở một mình còn
những người khác thì đang nghỉ ngơi. Hiểu không?”
“Hiểu,” gã người đảo Cortisca đáp. Gã cấm lấy tấm ảnh và lật lên xem. Ở
đằng sau tấm ảnh có ghi: Đại tá Archie Summers, Biệt thự San Crispin,
Playa Caldera, Ondara, thành phố Alicante.
Sanderson đẩy năm khối tiền giấy qua bàn, mỗi khối là năm trăm bảng Anh
bằng tiền giấy năm mươi bảng. Calvi nhanh chóng gói tiền lại bằng tờ Le
Figaro. “Tôi sẽ thanh toán thêm bằng số này khi anh thực hiện xong nhiệm
vụ,” Sanderson hứa hẹn thêm. Anh viết một con số lên một mẩu giấy. “Đây
là một số phôn tại Paris. Hãy gọi tôi ngay khi anh thực hiện xong nhiệm vụ.
Phải mất bao lâu?”
“Cho tôi hai tuần lễ,” Calvi nói.
“Rất tốt,” Sanderson nói. “Và tất nhiên là không được để xảy ra sai sót,
càng không được để xảy ra hậu quả gì liên quan đến tôi.”
“Tất nhiên rồi,” Calvi hứa, “sẽ không có lời phàn nàn nào cả.”
Bước chân ra khỏi quán cà phê, Calvi ngoái nhìn đằng sau để kiểm tra xem
có bị bám đuôi không. Rồi gã bắt đầu suy tính về nhiệm vụ. Gã có nên đến
Tây Ban Nha rồi mới mua súng không? Hay là gã nên mang theo sẵn một
khẩu bên mình? Khi đã tính toán xong, gã tìm đến hãng hàng không Iberia
và văn phòng hãng du lịch Tây Ban Nha. Trên đường về nhà, gã ghé mua
một quyển sách và vài vật dụng văn phòng phẩm.
Tối hôm đó, gã gọi điện cho khách sạn Metropol ở thành phố Valencia và
đặt một đêm cho hai phòng đơn. Gã dùng tên 'Calvi' và một tên khác dựa
theo một hộ chiếu giả. Gã cũng báo sẽ gửi một lá thư đến khách sạn để xác
nhận yêu cầu đặt phòng của mình.
Trong lá thư xác nhận do gã viết bằng tay trái, còn có thêm một ghi chú
khác nữa: “... Tôi cũng đã đặt mua một quyển sách lịch sử Tây Ban Nha.
Vui lòng giữ quyển sách ấy giùm tôi cho tới khi tôi đến nơi. Ngài Calvi.”
Đó chính là quyển sách mà Calvi vừa mua chiều hôm nọ, dày cộp và nặng
chịch, bên trong toàn là hình màu.
Gã mở quyển sách ra đặt trên chiếc bàn ăn và bắt đầu làm việc với một con
dao bén và một cây thước kẻ. Gã khoét bỏ phần giữa của mỗi trang sách,
chỉ để lại phần lề xung quanh mỗi bề rộng ba centimét. Sau một giờ đồng
hồ, bên trong quyển sách trở nên giống như một cái hộp chu vi 20 x 15 x 7
centimét. Gã cẩn thận đặt vào trong hộp này một khẩu súng lục tự động
hiệu Browning và một bộ phận giảm thanh.
Gã đóng quyển sách lại và đặt nó vào một phong bì nhựa trong. Tiếp theo,
gã đặt tất cả vào bên trong một phong bì lớn màu nâu có đệm lót. Rồi gã
viết địa chỉ ở đằng trước phong bì:
Ngài Calvi,
Thông qua khách sạn Metropol,
Thành phố Valencia,
Tây Ban Nha
Mười ngày sau, gã bay đến thành phố Valencia. Khi đến khách sạn
Metropol, gã lấy hộ chiếu giả ra sử dụng.
“Rất tiếc là ngài Calvi không thể thực hiện chuyến đi cùng với tôi,” gã nói
với nhân viên tiếp tân khách sạn, “nhưng tôi sẽ thanh toán tiền phòng của
ông ta và sẽ nhận sách giùm ông ta.”
“Vâng, thưa ngài,” nhân viên tiếp tân vừa nói vừa lấy ra gói bưu phẩm được
gửi đến cho người nhận là Ngài Calvi.
Trong phòng riêng, Calvi ngắm nghía khẩu súng. Thế là mọi thứ đã sẵn
sàng.
Sáng hôm sau, Calvi dọn khỏi khách sạn. Gã ra sân bay và tái xác nhận
chuyến bay sẽ khởi hành đến Paris vào tối hôm đó. Rồi gã đi tới bãi đậu xe
và chờ đợi.
Gã để ý tìm kiếm các thương nhân hay tự lái xe đến đây để đáp chuyến bay
đi Madrid. Có một số người đã lái xe vào bãi, trên mình là bộ đồ vest chỉnh
chệ. Họ đậu xe ở bãi và đi bộ vào sân bay tay xách cặp táp. Calvi theo chân
một trong những người này đi vào sân bay.
Chờ cho ông ta làm xong thủ tục tại bàn khởi hành của chuyến bay đi
Madrid, Calvi mới quay lại bãi đậu xe. Gã là một tên trộm xe chuyên
nghiệp nên chẳng bao lâu đã yên vị trong xe của thương nhân nọ và lái xe ra
phố thẳng tiến về thành phố Alicante.
Calvi bắt đầu lái xe hướng về thị trấn Ondara cách sân bay hai giờ đông hổ
và đến nơi vào giữa trưa. Gã hỏi thăm đường đến Playa Caldera thì được
biết là phải lái ra khỏi thị trấn khoảng ba cây số nữa. Rồi gã lái xe ra bãi
biển và tìm thấy biệt thự San Crispin.
Bãi biển vắng vẻ. Gã nhìn thấy có một lối vào đằng sau ngôi biệt thự khuất
dưới những tàng cây cam. Qua vườn cam, gã nhìn thấy một người đàn ông
đang tưới cây trong vườn. Đúng là người gã cần phải kết liễu. Duy có điều
là Calvi đã đến sớm.
Thế là Calvi lái xe quay trở về thị trấn Ondara để ăn trưa. Thời tiết đang rất
oi bức. Gã mừng rỡ khi thấy một đám mây đen bắt đầu che phủ mặt trời.
Ngay sau khi đồng hồ chỉ ba giờ, gã quay trở lại bãi biển. Vụ này dễ dàng
hơn là hắn tưởng. Ngay cả thời tiết cũng giúp hắn. Những đám mây đen đã
che phủ khắp bầu trời và đâu đó vang lên những tiếng sấm rền. Rồi mưa bắt
đầu rơi nặng hạt khi gã đang dò dẫm bước xuyên qua những cây cam để
tiến dần tới đằng sau ngôi biệt thự. Trong tình hình thời tiết thế này, sẽ
không một ai nghe thấy gì ngoài tiếng mưa và tiếng sấm.
Âm thanh lọc sọc của một máy đánh chữ đang phát ra từ một khung cửa sổ
để mở. Vừa trông thấy người đàn ông trong tấm hình, Calvi liền rút súng ra.
Khi ông ta ngước lên nhìn thì cũng là lúc Calvi chỉ còn cách ông ta có một
thước. Calvi nổ súng, hai phát vào ngực và một phát vào đầu người đàn ông
ấy. Công việc đã được thực hiện hoàn hảo. Gã kiểm tra cái xác để chắc chán
là người đàn ông đã chết. Chợt Calvi nghe thấy có tiếng động, hắn bèn liếc
thật nhanh nhìn vào cửa phòng khách.
***
Trong quán cà phê nằm trên đường Miollin ở Paris, Sanderson đang thanh
toán thêm hai nghìn năm trăm bảng Anh cho Calvi. “Ổn chứ?” anh hỏi tay
bắn súng đảo Corsica. “Không ai trông thấy anh chứ?”
“Không,” Calvi nói, “không có nhân chứng. Đúng ra thì cũng có người
bước vào khi tôi đang kiểm tra cái xác.”
“Ai thế?”, Sanderson mở to mắt hỏi trong sự kinh hãi.
“Một phụ nữ.”
“Đúng là có một phụ nữ bước vào, trông cũng dễ coi lắm,” Calvi tiếp tục
nói, trong lúc nét kinh hãi đang hiện rõ trên gương mặt Sanderson. “Nhưng
xin ông đừng lo lắng. Sẽ không có lôi thôi gì đâu vì tôi đã bắn người đàn bà
đó chết tươi.”
XÔI HỎNG BỎNG KHÔNG[2]
Chiếc phà đến từ cảng Havre nước Pháp đang tiến vào cảng Rosslare của
nước Cộng hòa Ireland. Trên phà đầy ắp người và xe hơi, có cả những xe tải
chất đầy hàng hóa.
Liam Clarke là một tài xế xe tải. Anh đã lên hàng ở Bỉ và bây giờ đang trên
đường về nhà ở thành phố Dublin với hy vọng sẽ về đến nơi trước khi trời
tối.
Khi chiếc phà đã cập bến thì các khoang chứa hàng được mở ra. Liam trèo
vào chiếc xe tải Volvo sơn màu xanh lá cây pha sọc trắng của mình, nổ máy
xe rồi lái lên cầu phà. Có nhiều tiếng ồn nên anh không nghe thấy tiếng gãy
sắc gọn phát ra từ bên dưới xe tải.
Anh lái dọc theo cầu phà tới trạm hải quan thì tắt máy chờ. Một nhân viên
hải quan đến kiểm tra giấy tờ nhập khẩu của anh. Nhân viên hải quan này
chỉ vào phía dưới chiếc xe tải và hỏi: “Cái gì kia?”
Liam trèo xuống xe tải và cúi nhìn bên dưới xe. Anh ta phát hiện dầu đen
đặc quánh đang từ trong máy nhễu ra ròng ròng. Đã có đến nửa lít dầu
loang trên đất và dầu vẫn còn tiếp tục nhễu.
“Chiếc xe tải của anh sẽ không đi xa được đâu,” nhân viên hải quan khuyên.
“Anh phải để nó ở đây và kêu thợ máy đến sửa thôi.”
Nhân viên sĩ quan quay sang kiểm soát những chiếc xe tải khác. Liam tới
trạm điện thoại gần nhất và gọi về cho chủ ở thành phố Dublin. Anh báo
cho chủ biết là chiếc xe tải đã bị hỏng máy.
“Mày phải ở lại Rosslare tối nay thôi,” người chủ quyết định. “Chờ đến
sáng mai, tao sẽ gửi thợ máy và đồ phụ tùng tới.”
Vậy là Liam Clarke đành phải gửi lại chiếc Volvo màu xanh trắng của mình
ở trạm hải quan rồi tìm một nhà trọ loại vừa có giường ngủ vừa có bữa sáng
để qua đêm. Sáng hôm sau, anh ta quay trở lại cảng ngồi đợi. Mãi tới giữa
trưa thợ máy mới đến nơi.
“Mất bao lâu thì mới sửa xong?”, Liam hỏi.
“Hai ba tiếng là xong,” tay thợ máy trả lời. “Anh sẽ về đến nhà trước khi
trời tối.”
Người thợ máy bắt đầu làm việc. Khi chuyến phà chiểu từ Pháp tiến vào hải
cảng Rosslare thì người thợ máy cũng đang hoàn tất công việc sửa chữa.
***
Cao cao trên ngọn đồi nằm bên trên cảng Rosslare, có hai người đàn ông
đang theo dõi chuyến phà chiều từ từ tiến vào cảng.
“Chiếc phà đã đến rồi, đúng giờ lắm,” Murphy thông báo với Brendan.
“Hãy tìm chiếc xe tải sơn màu xanh lá cây pha sọc trắng đang từ dưới phà
lên bờ ấy.”
Brendan chăm chú nhìn xuyên qua một cái ống nhòm. Chiếc xe tải đầu tiên
tách khỏi phà có màu nâu và mang biển số của Pháp. Chiếc tải thứ hai sơn
màu xanh lá cây pha sọc trắng mang chữ TARA trên thân chiếc rờ moọc.
“Nó kìa! Đúng chiếc đó rồi!”, Brendan reo lên, “Tụi mình có đi liền
không?”
“Không có gì phải vội,” Murphy cản lại. “Trước tiên, hãy đợi cho chiếc xe
đó qua khỏi hải quan đã. Tụi mình cần tụi hải quan kiểm tra đúng là trên đó
có chín nghìn chai rượu mạnh brandy Pháp thượng hạng không, phải không
nào?”
“Nhiều rượu mạnh thiệt ha,” Brendan nói.
“Nhiều tiền thì có,” Murphy đính chính. “Tụi mình sẽ bán đi để lấy tiền chứ
uống iếc cái nỗi gì!”
Chiếc xe tải sơn xanh lá cây pha sọc trắng chạy vào trạm hải quan và dừng
lại bên cạnh chiếc xe tải của Liam. Cả hai chiếc đều cùng màu và đều mang
tên công ty TARA trên chiếc rờ moọc.
Tài xế chiếc xe tải thứ nhì đưa đầu ra khỏi cửa sổ và nói với Liam Clarke.
“Đã xảy ra cái quái quỷ gì với cậu hả Liam?”
“Xe tao bị pan,” Liam nói, “nhưng giờ đã sửa xong rồi.” Liam quay sang
hỏi nhân viên hải quan. “Tôi đi được chưa?”
“Được rồi, đi được rồi,” nhân viên hải quan nói.
Liam lái chiếc tải nặng chịch bò ra khỏi cảng và đi về hướng bắc dọc theo
con lộ dẫn về thành phố Dublin. Anh không để ý là có một chiếc Ford
Granada đang bám sau anh chở theo hai tên Murphy và Brendan.
“Thằng này qua khỏi trạm hải quan nhanh thiệt,” Brendan khoái chí.
“Đúng là nhanh thiệt,” Murphy hưởng ứng. “Mày dừng lại ở trạm điện thoại
kế tiếp cho tao.”
Chúng dừng lại để Murphy gọi điện thoại. “Chiếc tải đang trên đường đến,”
Murphy thông báo trong điện thoại với hai đứa còn lại trong băng. “Tụi bay
phải sẵn sàng đi là vừa.”
Chiếc Granada màu đen theo đuôi chiếc tải của Liam được vài cây số
đường thì rẽ quặt vào một đường đất nhỏ. Ở đây, Murphy và Brendan nhanh
chóng khoác lên người bộ đồng phục quân cảnh. Rồi chúng dán hai dải
plastic màu đen lên hai bên hông chiếc xe hơi, trên mỗi dải plastic có in chữ
GARDA màu trắng. Chiếc Ford Granada đen bây giờ trông giống hệt như
một xe quân cảnh.
Murphy và Brendan tăng tốc rượt cho kịp chiếc tải màu xanh pha sọc trắng.
Chúng lái theo sau chiếc tải thêm vài cây số nữa, chờ đợi đến đúng thời
điểm. Chẳng bao lâu chúng trông thấy một biển giao thông mang dòng chữ
“BÃI ĐẬU XE CÁCH 1KM”.
“Đến giờ rồi!” Murphy nói. Chiếc xe hơi bèn phóng nhanh hơn và vượt qua
chiếc xe tải.
Liam Clarke nhìn sang chiếc quân cảnh đang vượt qua mình thì thấy có một
người mặc quân phục cảnh sát vẫy tay bảo anh dừng lại. Đúng lúc ấy, anh
cũng vừa trông thấy biển giao thông trên đường. Thế là anh đành giảm tốc
độ, đưa xe vào bãi đậu và ngừng máy.
“Anh hãy kiểm tra bánh xe sau của anh kìa,” một trong hai người mặc quân
phục cảnh sát vừa nói vừa bước ra khỏi chiếc xe hơi mang dòng chữ
GARDA.
Liam ra khỏi xe tải và đi theo viên cảnh sát vòng ra đằng sau. Thình lình, có
hai gã đàn ông nhảy ra từ bụi cây bên đường và vồ lấy anh.
Chúng dán băng keo lên cả miệng lẫn hai mắt rồi quấn chặt cả hai tay của
Liam bằng băng keo. Sau đó, chúng đẩy anh lên đằng sau chiếc xe quân
cảnh.
Murphy và Brendan nhanh chóng tháo nhãn GARDA ra khỏi chiếc xe đen.
Đồng thời, chúng cởi bỏ chiếc mũ quân cảnh và áo khoác ngoài, ném đại
những thứ này vào đằng sau xe, trúng cả lên người của Liam.
Murphy xoay sang hai tên còn lại trong băng. “Tụi bay lái chiếc tải này đến
nông trại,” hắn ra lệnh. “Bọn tao sẽ gặp tụi mày ở đó.”
Murphy và Brendan đi trước trên chiếc xe hơi đen. Hai tên còn lại trèo lên
chiếc xe tải và đi theo phía sau.
Nông trại ở sâu tít bên trong, cách xa đường lộ chính, nằm chạy dài theo
một con đường mòn lầy lội và có một nhà kho chứa thóc rộng lớn nằm ngay
bên cạnh. Brendan xô Liam Clarke ra khỏi chiếc xe hơi rồi tống anh vào
trong căn bếp của ngôi nhà dành cho chủ nhân nông trại. Chiếc tải thì chạy
thẳng vào trong kho thóc, xong xuôi bọn chúng đóng cửa nhà kho lại. Sau
đó, bốn tên cùng vào trong ngôi nhà và bắt đầu ngồi đợi.
Từ sáu giờ trở đi, trời bắt đầu tối sầm lại. Vào lúc tám giờ, Murphy đi ra
phía cuối con đường mòn, tay giơ cao một chiếc đuốc. Bốn chiếc van mang
biển số Bắc Alien đang từ từ bò đến trên con đường mòn, rồi ngừng lại ở
phía trước căn nhà kho. Một gã to lớn bước xuống từ một trong những chiếc
van, tay xách theo một chiếc cặp nhỏ.
“Mấy người đã có sẵn rượu brandy chưa?”, gã to lớn đến từ Bắc Alien hỏi.
“Có rồi,” Murphy đáp: “Đang để trong nhà kho. Tôi chưa hề đụng tới nó.”
“Tốt,” gã đến từ phương Bắc nói. Hắn xoay sang người của mình ra lệnh.
“Dỡ hàng xuống!” Rồi hắn nói với Murphy. “Chúng ta hãy đi vào bên
trong.”
Trong ngôi nhà chủ nhân nông trại, gã người phương bắc mở chiếc cặp nhỏ
bên trong chứa đầy những tờ giấy bạc mười bảng Anh.
“Chín nghìn chai rượu brandy với giá bốn bảng Anh một chai, như vậy tổng
cộng là ba mươi sáu nghìn bảng Anh,” Murphy ra giá.
“Ba mươi lăm thôi,” gã phương bắc trả giá.
Murphy không cò kè thêm tiếng nào.
Một trong những gã người phương bắc xuất hiện ở cửa và nói với tên chủ.
“Ông chủ nên đến xem tận mắt thì hơn.”
Gã to lớn đóng phắt chiếc cặp nhỏ lại và xách theo ra bên ngoài.
Murphy theo chân gã to lớn tới căn nhà kho. Sáu tên nọ đang soi đuốc chiếu
sáng bên trong chiếc xe tải chất đầy những bao tải nhựa.
“Thằng tài xế đâu?” gã to lớn giận dữ hỏi.
Murphy dẫn gã người phương bắc vào bếp. Liam Clarke, tài xế chiếc xe tải,
đang ngồi chóc ngóc trong góc với băng keo dán kín mắt và miệng.
“Mày chở cái giống gì trong xe tải của mày vậy?” gã to lớn vừa gỡ băng
keo khỏi miệng Liam vừa lớn tiếng hỏi.
“Mấy bao tải phân,” Liam nói. “Trên giấy tờ hải quan có ghi rõ mà.”
Gã to lớn vồ lấy đống giấy tờ từ trên tay Murphy và nhìn vào tờ khai hải
quan. “Mày vẫn chưa xem cái này phải không, đồ ngu?” gã hỏi Murphy.
Murphy hoảng hốt. “Chỉ có một chiếc tải TARA xuống phà từ Pháp thôi
mà,” hắn phân bua. “Chúng tôi biết có rượu brandy trên chiếc tải đó, theo
nguồn tin nhận được từ Pháp. Coi chừng có rượu brandy ở bên dưới phân
không?”...
Tên sách: MUỐN LÀ ĐƯỢC
Tác giả: Frederick Forsyth
Người dịch: Thái Thịnh
Nhà phát hành: NXB Trẻ
Nhà xuất bản: NXB Trẻ
Khối lượng: 100g
Kích thước: 13 x 19 cm
Ngày phát hành: 01/2002
Số trang: 73
Thể loại: Truyện ngắn Hình sự
Thông tin ebook
Nguồn: http://tve-4u.org
Type+Làm ebook: thanhbt
Ngày hoàn thành: 20/11/2016
Dự án ebook #271 thuộc Tủ sách BOOKBT
Giới thiệu
Mark Anderson, một tay người Anh giàu có, thích hưởng thụ và có khẩu
hiệu sống là: “Mark đã muốn thì sẽ có được!” Oái oăm thay, gã đã lại đi
phải lòng quý cô Summers đã có chồng và sống tận Tây Ban Nha. Quý cô
đã cự tuyệt gã. Ôm nỗi uất ức trong lòng, gã thuê sát thủ bắn chết lão chồng
của cô ta. Muốn là được, thì anh chồng xấu số nọ cũng chầu trời, nhưng gã
Mark được còn nhiều hơn cái hắn muốn...
Tên Murphy bày cách ăn cướp một xe chở rượu. Sau bao khó nhọc nó cũng
đã bắt được chiếc xe tải, chỉ ngặt nỗi thằng tài xế cứ một mực bảo xe nó chỉ
chở phân thôi, chả có rượu riếc chi cả. Rồi thì cảnh sát ập vào xét xe tải,
mới phát hiện ra trong các bao tải chính là .... Gã Murphy ngầm cảm ơn bọn
cớm.
Quý ông Hanson qua đời để lại gia tài kếch xù cho ba người họ hàng còn lại
mà ông ghét cay ghét đắng. Ông muốn hành hạ họ một phen mà không cho
họ một xu. Và ông cũng chẳng muốn chi 65% thuế thừa kế cho chính
quyền. Ông muốn làm một điều gì ý nghĩa cho những đứa trẻ mồ côi. Ông
muốn có một tang ma thiệt độc đáo. Và ông nghĩ ra một cách...
Thẩm phán Comyn tình cờ bị cuốn vào một ván bài của một tay nhỏ thó và
một đức Cha. Đức Cha thì nào chơi bài được, thế là họ bày ra trò đánh bài
ăn que diêm. Riết cũng chán, họ quy diêm ra tiền và thẩm phán Comyn bảo
nếu Cha thắng thì cứ lấy tiền làm từ thiện còn nếu Cha thua thì không đòi
Cha trả tiền là được. Đức Cha thắng to. Comyn thấy chẳng có gì lăn tăn. Ấy
là cho đến một ngày tên nhỏ thó ấy bị người ta kiện bạc bịp...
Muốn là được gồm bốn truyện ngắn, tiết tấu nhanh, thắt mở nút bất ngờ và
đầy chất châm biếm mỉa mai của Frederick Forsyth sẽ dẫn bạn từ bất ngờ
này đến bất ngờ khác.
Lời giới thiệu
Bối cảnh của các câu chuyện trong cuốn sách này được xây dựng ở các
thành phố và các quốc gia khác nhau. Muốn Là Được là một câu chuyện
xảy ra tại thành phố Luân Đôn và cả thành phố Alicante, một vùng duyên
hải thuộc đất nước Tây Ban Nha. Trong khi đó, Xôi Hỏng Bỏng Không...
và Phán Xử Công Bằng lại có bối cảnh ở miền nam Ireland.
Hòn đảo Ireland nằm về phía tây vương quốc Anh và được chia thành hai
phần. Ở phía nam hòn đảo là nước cộng hòa Ireland, còn gọi là Eire. Trong
lịch sử, đã có lúc Eire chỉ là một bộ phận nằm trong vương quốc Anh. Giờ
đây Eire là một quốc gia độc lập có thủ đô là thành phố Dublin. Ở phía bắc
hòn đảo là đất nước Bắc Ailen (Northern Ireland), thường được gọi là
Ulster. Ulster là một bộ phận nằm trong vương quốc Anh, thủ đô của Ulster
là thành phố Belfast. Cuộc chiến ở Bắc Ailen từng kéo dài trong nhiều năm
trời nhằm thực hiện bằng được nguyện vọng tách rời Bắc Ailen ra khỏi
vương quốc Anh.
Ngày ngày đều có phà qua lại trên vùng biển nằm giữa đất nước Ireland,
Anh và châu Âu. Ngoài việc vận chuyển khách, những chiếc phà này còn
chuyên chở cả các xe tải mang hàng hóa ra vào đất nước Ireland.
Một Sắp Xếp Hoàn Hảo là câu chuyện về một nhà triệu phú tên là Timothy
Hanson. Nhà triệu phú này sở hữu một căn hộ riêng ở West End of London
(khu Tây Luân Đôn) và một cao ốc văn phòng rộng lớn ở ngay City of
London (Trung tâm tài chính và thương mại của thành phố Luân Đôn, là
phần cổ kính nhất thuộc thành phố Luân Đôn). Ông Timothy Hanson dành
phần lớn thời gian của mình để sống tại một trang viên rộng lớn ở hạt Kent,
thuộc vùng đông nam nước Anh. Ông ta thường ngồi xe hơi đi về trang viên
ở hạt Kent này và cứ mỗi lần đi về như vậy ông lại đi qua khu Đông Luân
Đôn (East End of London), chính là vùng dân cư nghèo khổ của thành phố
Luân Đôn.
Hy vọng rằng tập truyện ngắn này của tác giả Frederick Forsyth sẽ mang
lại cho bạn đọc những giây phút thú vị với những kết cục truyện đầy bất
ngờ và éo le đến hài hước.
MUỐN LÀ ĐƯỢC[1]
Mark Sanderson là người biết tận hưởng những thú vui của cuộc đời. Anh
thích được phụ nữ vây quanh, ăn món ngon vật lạ và uống rượu sâm banh.
Điều quan trọng là anh luôn có tiền trong tay để mua ngay những gì mình
thích, bởi anh chính là một nhà triệu phú.
Mark Sanderson đã phất lên nhanh chóng nhờ vào công việc kinh doanh bất
động sản ở Luân Đôn. Giờ đây anh đang ở vào tuổi ba mươi chín, tiền
muôn bạc khối, tiếng tăm lẫy lừng nhưng lại cảm thấy buồn tẻ!
Hình chụp của anh thường xuất hiện trên báo chí, bên cạnh các minh tinh
màn bạc và các nữ diễn viên nổi tiếng. Anh yêu thích phụ nữ nhưng chưa hề
đem lòng yêu thương thực sự một người nào. Thực ra, anh cho rằng sẽ
không bao giờ gặp được người phụ nữ mà mình muốn cưới làm vợ.
Khi đã phất lên, anh bèn tậu cho mình một trang viên bề thế ở miền quê,
một ngôi nhà ở Pháp, một xe hơi thể thao, một chiếc Rolls Royce và một du
thuyền. Nói chung là anh có thể mua được bất cứ thứ gì mình muốn và đã
từng cao giọng tuyên bố: “Mark đã muốn thì sẽ được!”
Anh đã tiếp xúc với nhiều phụ nữ, nhưng chưa bao giờ anh gặp được người
phụ nữ mà mình hằng mong mỏi.
Rồi bất ngờ một đêm kia, anh đã gặp nàng.
Hôm ấy, anh đến dự một bữa tiệc chiêu đãi tề tựu nhiều nhân vật hoặc giàu
có, hoặc tiếng tăm, hoặc nhan sắc xinh tươi mà Mark Sanderson vốn không
xa lạ gì. Nhưng bên cạnh những gương mặt quen thuộc đến nhàm chán ấy,
xuất hiện một phụ nữ mà anh chưa từng gặp. Nàng chừng ba mươi tuổi,
người cao dong dỏng và đầy vẻ thu hút; nàng mặc một chiếc đầm trắng kiểu
đơn giản, mái tóc màu nâu được cột gọn lại ở sau gáy, không đeo nữ trang
và cũng không trang điểm. Ngay khi Mark Sanderson trông thấy nàng, anh
đã nảy sinh ngay ước muốn có được nàng, một ước muốn mãnh liệt hơn bất
kỳ điều gì khác trên đời!
Anh tiến về phía nàng và cất tiếng hỏi chuyện: “Cô thấy bữa tiệc có vui
không?”
Nàng mỉm một nụ cười với anh rồi đáp: “Tôi không thích lắm. Chỉ đến dự
tiệc theo lời mời từ một người bạn học nên tôi không quen biết ai cả.”
Mark Sanderson vừa mỉm cười tỏ ra thông cảm, vừa nhìn sâu vào đôi mắt
đen láy của nàng. Anh hiểu ngay rằng nàng chính là người phụ nữ anh hằng
mong đợi, một tuýp phụ nữ mà anh cứ ngỡ là suốt đời này mình không bao
giờ gặp được. Nhưng rồi cũng ngay lúc ấy, đập vào mắt anh là chiếc nhẫn
cưới đang lấp lánh trên ngón tay nàng.
“Tại sao trước đây tôi chưa bao giờ gặp cô nhỉ?”, anh hỏi.
Nàng cởi mở kể cho anh biết là nàng vốn sinh sống ở Tây Ban Nha, chỉ đến
chơi Anh quốc có một tuần, chồng làm nghề viết sách, bản thân là giáo viên
tiếng Anh, tên gọi là Angela Summers.
Khi tiệc tàn, Mark Sanderson ngỏ ý mời nàng hôm sau cùng đi ăn tối.
Nàng trả lời sau khi suy nghĩ một lúc: “Vâng, tôi nghĩ là được đấy.”
Tối hôm sau anh lái xe đến đón nàng. Nàng nhanh nhẹn bước đến chiếc xe
trong một chiếc đầm dài kiểu cũ. Sau khi đã yên vị, họ lái xe tới một nhà
hàng và dùng bữa ở đó. Trong suốt bữa ăn hôm ấy, nàng đã bộc lộ phong
cách trò chuyện thông minh và quan tâm lắng nghe Mark.
Thế là Mark ngày càng say sưa nói nhiều hơn về bản thân. Càng lúc, Mark
càng yêu thích nàng hơn và càng muốn kể cho nàng nghe cả về những điều
mà ngày thường Mark không hay nói đến.
Khi nhà hàng đã đến giờ đóng cửa, hai người vẫn còn mải mê thầm thì trò
chuyện. Mark đánh bạo mời nàng cùng về căn hộ riêng của anh, nhưng
nàng đã từ chối một cách lịch sự mà cương quyết.
Mark Sanderson biết mình đang yêu. Anh không bận tâm đến chuyện gì và
bất kỳ người nào ngoài nàng Angela Summers. Anh bắt đầu gửi quà tặng và
gọi điện thoại cho nàng. Anh muốn được liên tục gặp gỡ nàng trước khi
nàng lên đường trở về Tây Ban Nha. Anh muốn dẫn nàng đến thăm ngôi
nhà nghỉ mát của mình ở thôn quê, anh muốn mời nàng dạo chơi trên chiếc
du thuyền và đi đó đây trên những chiếc xe hơi sang trọng của mình. Và
hơn thế nữa, anh muốn làm tất cả để giữ nàng ở lại bên anh, vì “Mark đã
muốn là phải được!”.
Vào buổi tối hôm cuối cùng họ đi chơi với nhau, Mark thổ lộ với Angela là
anh muốn nàng ở lại Anh quốc với mình. “Em hãy ly dị chồng rồi kết hôn
với anh,” Mark yêu cầu.
Nàng nhìn anh dò xét và nhận ra ngay là anh đang nói chuyện nghiêm túc.
Nàng bèn lắc đầu rồi đáp: “Em không thể ly dị chồng được đâu.”
“Anh yêu em,” Mark tha thiết bộc lộ tình cảm, “và anh sẽ làm bất cứ điều gì
vì em.”
“Đây là lỗi tại em,” nàng phân bua. “Đúng ra em nên ngưng không gặp gỡ
anh sớm hơn nữa. Nhưng anh phải hiểu là em không bao giờ có thể rời bỏ
chồng mình. Anh ấy cần có em.”
“Nhưng chẳng lẽ em không hề yêu anh một tí nào sao?”
“Em cũng không biết nữa,” nàng từ tốn đáp.
“Anh muốn có em!”, Mark thốt lên với vẻ mãnh liệt.
“Đúng là anh muốn có em,” nàng kiên quyết, “nhưng anh không cần em.
Anh không cần em như chồng em cần em.”
“Như vậy là các người, em và chồng em sẽ sống bên nhau?”, Mark gằn
giọng vẻ tức giận.
“Vâng, trong suốt phần đời còn lại,” nàng nhỏ nhẹ đáp. Thế rồi, nàng dứt
khoát đứng lên, vụt hôn Mark một cái thật nhanh và bỏ đi.
Mark Sanderson chỉ còn lại có một mình, lòng ngổn ngang với một tình yêu
say đắm, giờ đã trở thành một nỗi ám ảnh cuồng si. Anh lẩm bẩm: “Mark
đã muốn là phải được. Mãi mãi là như vậy.”
***
Mark Sanderson đã tâm niệm là anh muốn và sẽ phải lấy bằng được nàng
Angela Summers, người phụ nữ khác biệt hẳn với những phụ nữ khác.
Trong khi các cô các bà khác chỉ chăm chăm dòm ngó tiền bạc của chàng
triệu phú Mark Sanderson, thì nàng Angela Summers lại không màng đến
nó. Đã vậy thì Mark quyết định phải dùng tiền theo một cách khác để chiếm
được nàng.
Anh thông báo cho các nhân viên quản lý kinh doanh làm việc dưới quyền
là anh sẽ nghỉ ngơi một thời gian ở nhà và hứa hàng ngày sẽ chủ động gọi
điện thoại. Rồi anh đi thuê một căn hộ nhỏ nằm giữa thành phố Luân Đôn,
trả trước tiền thuê hai tháng và đăng ký dưới cái tên 'Michael Johnson'.
Chính ở căn hộ nhỏ này, anh đã lần lượt thực hiện từng bước kế hoạch
chiếm hữu nàng Angela Summers. Anh đã có cái tên mới là Michael
Johnson. Bây giờ anh cần có một gương mặt mới vì gương mặt cũ đã nổi
danh, cần phải được biến đổi đi một chút. Anh bèn tìm đến một tiệm làm
tóc nhỏ, bảo thợ cắt tóc mình cho ngắn lên rồi nhuộm thành màu vàng.
Cái anh cần tiếp theo là toàn bộ thông tin về nàng Angela Summers và
người chồng yêu quý của nàng. Anh bèn thuê thám tử tìm nơi cư ngụ của
đôi vợ chồng ở Tây Ban Nha. Cũng trong thời gian này, anh tìm được tên
tuổi một lính đánh thuê đã tung hoành nhiều năm ở châu Phi và Trung
Đông. Anh khám phá ra là gã lính đánh thuê này hiện đang lẩn quất đâu đó
trong thành phố Luân Đôn.
Tay thám tử đã thu thập đầy đủ thông tin về nàng Angela Summers và
chồng nàng, kể cả hình ảnh về họ nữa. Đôi vợ chồng này đang sống trong
một biệt thự ở Costa Blanca, nằm gần thị trấn Ondara, giữa thành phố
Alicante và thành phố Valencia. Vào buổi sáng, nàng Angela Summers đi
dạy tiếng Anh. Mỗi buổi chiều, trong khoảng từ ba giờ đến bốn giờ, nàng ra
bãi biển còn người chồng thì ở lại biệt thự, bận rộn với công việc viết sách
về các giống chim ở miền nam Tây Ban Nha.
Mark Sanderson làm chủ nhiều công ty, trong số đó có một công ty xuất bản
đã phát hành một quyển sách về lính đánh thuê ở châu Phi. Mark đến gặp
tác giả quyển sách này, mang theo tên của người lính đánh thuê ở Luân Đôn
mà anh đang muốn tìm.
Tay tác giả sống trong một căn hộ rẻ tiền và thường xuyên say xỉn. Mark
Sanderson tự giới thiệu: “Tên tôi là Michael Johnson, làm việc cho nhà xuất
bản đã từng in sách của ông. Tôi thích sách của ông lắm.”
“Quyển sách đó bán đâu có chạy lắm,” tay tác giả đáp.
“Đúng là vậy...”, Sanderson đồng ý, “nhưng chúng tôi đang nghĩ đến việc
xuất bản câu chuyện về một nhân vật khác mà ông cũng biết. Chúng tôi sẽ
trả ông 100 đồng bảng Anh nếu ông cho chúng tôi biết chỗ tìm ra người
đó.”
Gương mặt tay tác giả sáng bừng lên khi nghe đến tiền bạc. “Các ông muốn
tìm ai?”
“Một người mang họ Hughes.”
“Tên cặn bã đó ư! Hắn ta mà viết sách ư?”, tay tác giả thốt lên.
“Tôi có thể tìm hắn ta ở đâu?”, Sanderson vừa hỏi vừa móc túi lấy ra mười
tờ mười bảng Anh.
Tay tác giả nhận tiền rồi viết một cái tên lên một mảnh giấy. “Hắn ta thường
uống rượu ở đó,” ông ta nói gọn lỏn.
Sanderson ra về. Trên mảnh giấy là tên của một quán bar nằm trong hạt
Earls.
Tổi hôm đó, Sanderson đến ngồi trong quán ba hạt Earls suốt nàm tiếng
đồng hô liền. Trong tay anh không có hình ảnh gì về gã đàn ông mà anh
đang tìm kiếm, chỉ dựa vào lời mô tả rằng đó là một gã cao, khỏe, vai rộng,
mắt sáng và có một vết sẹo hằn sâu trên cằm. Vậy mà Sanderson đã nhận ra
gã đàn ông ngay khi gã vừa bước vào.
Gã đàn ông tiến lại quầy bar và đứng đó chậm rãi nhấp hết một ly bia. Khi
gã bỏ đi, Sanderson liền bám theo gã. Thì ra, gã đi bộ đến khu hộ chung cư
lân cận, lấy chìa khóa ra tra vào cánh cửa số 2, rồi biến vào bên trong; liền
sau đó có một ngọn đèn sáng lên trong căn hộ.
Mười phút sau Sanderson mới đến gõ cửa. Ánh sáng trong căn hộ vụt tắt
trước khi cánh cửa được chầm chậm hé ra khiến Sanderson không thể trông
thấy được gì bên trong.
“Anh là Hughes phải không?” Sanderson hỏi.
“Ai cần gặp ông ấy?”, một giọng nói phát ra từ trong bóng tối.
“Tên tôi là Johnson, Michael Johnson,” Sanderson đáp.
“Ai chỉ ông đến đây?”
Khi Sanderson nói ra tên của tay tác giả thì cánh cửa mới được mở rộng.
“Mời vào.”
Sanderson bước vào trong căn phòng tối. Hughes đóng cửa rồi bật sáng
ngọn đèn. Trong căn hộ không có nhiều vật dụng. Hughes chỉ tay vào một
chiếc ghế nhỏ và Sanderson ngồi xuống đó.
“Tôi có một việc cần làm,” Sanderson vào đề ngay. “Tôi muốn một người
đàn ông phải chết.”
Hughes nhìn Sanderson trừng trừng rồi bước đến bên một máy phát thanh
đang chơi nhạc dìu dặt. Gã vặn cho volume cực lớn, rồi mở một ngăn kéo
lần lượt lôi ra giấy, bút chì và một khẩu súng.
Sanderson muốn xỉu khi thấy mũi súng chĩa về phía mình. Hughes viết một
vài chữ lên trên tờ giấy rồi đẩy tờ giấy trượt trên mặt bàn “CỞI ĐỒ RA”.
Thật từ tốn, Sanderson đứng lên cởi cái áo khoác ngoài. Hughes đón lấy và
cho một tay vào lục nhanh các túi áo, tay kia vẫn cầm súng chĩa về phía
Sanderson. Sau đó, Sanderson tiếp tục cởi bỏ phần áo quần còn lại dưới sự
theo dõi của Hughes.
“Được rồi, mặc vào đi,” Hughes ra lệnh. Rồi hắn ta vặn cho volume máy
phát thanh nhỏ lại và cất khẩu súng đi.
“Anh nghi là tôi mang theo súng hả?” Sanderson hỏi.
“Không,” Hughes đáp. “Tôi muốn biết ông có đem theo micro hay máy ghi
âm không. Ngay từ đầu tôi đã biết là ông không mang súng.”
“Nào, quay trở lại vụ này,” Sanderson tiếp tục câu chuyện. “Tôi sẵn sàng
thanh toán hậu hĩ.”
“Giá nào của ông cũng không thể gọi là hậu hĩ với tôi đâu,” Hughes nói.
“Tôi không cần anh làm việc này,” Sanderson trả lời. “Tôi muốn tìm một
tay đánh thuê ngoại quốc để thực hiện vụ này ở một xứ khác. Hãy giới thiệu
cho tôi tên của một người như vậy.”
Sanderson lấy ra năm mươi tờ giấy bạc hai mươi bảng Anh mới cáu và đặt
chúng lên bàn. “Tôi sẽ tiếp tục đưa thêm chừng này tiền nữa khi anh cho tôi
một cái tên để liên hệ.”
Hughes cầm lấy tiền. “Tôi cần một tuần,” gã hẹn. “Đúng vào tối này của
tuần sau, ông hãy chờ tôi ở quán bar đêm nay. Hãy tới đó lúc mười giờ tối.
Tôi sẽ điện thoại cho ông và cung cấp một cái tên. Ông hãy gửi số tiền còn
lại đến phòng thư lưu Hargreaves ở bưu điện hạt Earls.”
Một tuần sau, Sanderson lại đến quán bar ở hạt Earls. Điện thoại reng lên
vào lúc mười giờ đúng. Đó là cú điện thoại dành cho 'Ngài Johnson' do
Hughes gọi đến.
Hughes nói nhanh: “Có một quán cà phê trên đường Miollin ở Paris. Ông
hãy đến đó vào giữa trưa ngày thứ hai tuần tới. Hãy đọc tờ Le Figaro và nhớ
đem theo năm nghìn bảng Anh bằng tiền mặt.”
Vào ngày thứ hai của tuần kế tiếp, Sanderson đến ngồi đọc tờ Le Figaro
trong quán cà phê nằm trên đường Miollin. Vào lúc mười hai giờ năm phút,
một gã đàn ông từ quầy bar đứng lên, đến ngồi cùng bàn với anh ở phía đối
diện. Gã này là một dân đảo Corsica da sậm. Gã xưng tên là Calvi và
Sanderson giới thiệu tên mình là Johnson.
Họ trò chuyện trong vòng hai mươi phút. Rồi Sanderson đặt một tấm hình
lên trên tờ báo. “Đây là hình của người đó,” anh giải thích. “Địa chỉ ghi ở
sau lưng tấm hình. Đó là một biệt thự yên tĩnh bên bờ biển. Và việc này
phải được thực hiện trong khoảng thời gian từ ba đến bốn giờ chiều của
ngày thường, vì vào quãng thời gian đó người này luôn ở một mình còn
những người khác thì đang nghỉ ngơi. Hiểu không?”
“Hiểu,” gã người đảo Cortisca đáp. Gã cấm lấy tấm ảnh và lật lên xem. Ở
đằng sau tấm ảnh có ghi: Đại tá Archie Summers, Biệt thự San Crispin,
Playa Caldera, Ondara, thành phố Alicante.
Sanderson đẩy năm khối tiền giấy qua bàn, mỗi khối là năm trăm bảng Anh
bằng tiền giấy năm mươi bảng. Calvi nhanh chóng gói tiền lại bằng tờ Le
Figaro. “Tôi sẽ thanh toán thêm bằng số này khi anh thực hiện xong nhiệm
vụ,” Sanderson hứa hẹn thêm. Anh viết một con số lên một mẩu giấy. “Đây
là một số phôn tại Paris. Hãy gọi tôi ngay khi anh thực hiện xong nhiệm vụ.
Phải mất bao lâu?”
“Cho tôi hai tuần lễ,” Calvi nói.
“Rất tốt,” Sanderson nói. “Và tất nhiên là không được để xảy ra sai sót,
càng không được để xảy ra hậu quả gì liên quan đến tôi.”
“Tất nhiên rồi,” Calvi hứa, “sẽ không có lời phàn nàn nào cả.”
Bước chân ra khỏi quán cà phê, Calvi ngoái nhìn đằng sau để kiểm tra xem
có bị bám đuôi không. Rồi gã bắt đầu suy tính về nhiệm vụ. Gã có nên đến
Tây Ban Nha rồi mới mua súng không? Hay là gã nên mang theo sẵn một
khẩu bên mình? Khi đã tính toán xong, gã tìm đến hãng hàng không Iberia
và văn phòng hãng du lịch Tây Ban Nha. Trên đường về nhà, gã ghé mua
một quyển sách và vài vật dụng văn phòng phẩm.
Tối hôm đó, gã gọi điện cho khách sạn Metropol ở thành phố Valencia và
đặt một đêm cho hai phòng đơn. Gã dùng tên 'Calvi' và một tên khác dựa
theo một hộ chiếu giả. Gã cũng báo sẽ gửi một lá thư đến khách sạn để xác
nhận yêu cầu đặt phòng của mình.
Trong lá thư xác nhận do gã viết bằng tay trái, còn có thêm một ghi chú
khác nữa: “... Tôi cũng đã đặt mua một quyển sách lịch sử Tây Ban Nha.
Vui lòng giữ quyển sách ấy giùm tôi cho tới khi tôi đến nơi. Ngài Calvi.”
Đó chính là quyển sách mà Calvi vừa mua chiều hôm nọ, dày cộp và nặng
chịch, bên trong toàn là hình màu.
Gã mở quyển sách ra đặt trên chiếc bàn ăn và bắt đầu làm việc với một con
dao bén và một cây thước kẻ. Gã khoét bỏ phần giữa của mỗi trang sách,
chỉ để lại phần lề xung quanh mỗi bề rộng ba centimét. Sau một giờ đồng
hồ, bên trong quyển sách trở nên giống như một cái hộp chu vi 20 x 15 x 7
centimét. Gã cẩn thận đặt vào trong hộp này một khẩu súng lục tự động
hiệu Browning và một bộ phận giảm thanh.
Gã đóng quyển sách lại và đặt nó vào một phong bì nhựa trong. Tiếp theo,
gã đặt tất cả vào bên trong một phong bì lớn màu nâu có đệm lót. Rồi gã
viết địa chỉ ở đằng trước phong bì:
Ngài Calvi,
Thông qua khách sạn Metropol,
Thành phố Valencia,
Tây Ban Nha
Mười ngày sau, gã bay đến thành phố Valencia. Khi đến khách sạn
Metropol, gã lấy hộ chiếu giả ra sử dụng.
“Rất tiếc là ngài Calvi không thể thực hiện chuyến đi cùng với tôi,” gã nói
với nhân viên tiếp tân khách sạn, “nhưng tôi sẽ thanh toán tiền phòng của
ông ta và sẽ nhận sách giùm ông ta.”
“Vâng, thưa ngài,” nhân viên tiếp tân vừa nói vừa lấy ra gói bưu phẩm được
gửi đến cho người nhận là Ngài Calvi.
Trong phòng riêng, Calvi ngắm nghía khẩu súng. Thế là mọi thứ đã sẵn
sàng.
Sáng hôm sau, Calvi dọn khỏi khách sạn. Gã ra sân bay và tái xác nhận
chuyến bay sẽ khởi hành đến Paris vào tối hôm đó. Rồi gã đi tới bãi đậu xe
và chờ đợi.
Gã để ý tìm kiếm các thương nhân hay tự lái xe đến đây để đáp chuyến bay
đi Madrid. Có một số người đã lái xe vào bãi, trên mình là bộ đồ vest chỉnh
chệ. Họ đậu xe ở bãi và đi bộ vào sân bay tay xách cặp táp. Calvi theo chân
một trong những người này đi vào sân bay.
Chờ cho ông ta làm xong thủ tục tại bàn khởi hành của chuyến bay đi
Madrid, Calvi mới quay lại bãi đậu xe. Gã là một tên trộm xe chuyên
nghiệp nên chẳng bao lâu đã yên vị trong xe của thương nhân nọ và lái xe ra
phố thẳng tiến về thành phố Alicante.
Calvi bắt đầu lái xe hướng về thị trấn Ondara cách sân bay hai giờ đông hổ
và đến nơi vào giữa trưa. Gã hỏi thăm đường đến Playa Caldera thì được
biết là phải lái ra khỏi thị trấn khoảng ba cây số nữa. Rồi gã lái xe ra bãi
biển và tìm thấy biệt thự San Crispin.
Bãi biển vắng vẻ. Gã nhìn thấy có một lối vào đằng sau ngôi biệt thự khuất
dưới những tàng cây cam. Qua vườn cam, gã nhìn thấy một người đàn ông
đang tưới cây trong vườn. Đúng là người gã cần phải kết liễu. Duy có điều
là Calvi đã đến sớm.
Thế là Calvi lái xe quay trở về thị trấn Ondara để ăn trưa. Thời tiết đang rất
oi bức. Gã mừng rỡ khi thấy một đám mây đen bắt đầu che phủ mặt trời.
Ngay sau khi đồng hồ chỉ ba giờ, gã quay trở lại bãi biển. Vụ này dễ dàng
hơn là hắn tưởng. Ngay cả thời tiết cũng giúp hắn. Những đám mây đen đã
che phủ khắp bầu trời và đâu đó vang lên những tiếng sấm rền. Rồi mưa bắt
đầu rơi nặng hạt khi gã đang dò dẫm bước xuyên qua những cây cam để
tiến dần tới đằng sau ngôi biệt thự. Trong tình hình thời tiết thế này, sẽ
không một ai nghe thấy gì ngoài tiếng mưa và tiếng sấm.
Âm thanh lọc sọc của một máy đánh chữ đang phát ra từ một khung cửa sổ
để mở. Vừa trông thấy người đàn ông trong tấm hình, Calvi liền rút súng ra.
Khi ông ta ngước lên nhìn thì cũng là lúc Calvi chỉ còn cách ông ta có một
thước. Calvi nổ súng, hai phát vào ngực và một phát vào đầu người đàn ông
ấy. Công việc đã được thực hiện hoàn hảo. Gã kiểm tra cái xác để chắc chán
là người đàn ông đã chết. Chợt Calvi nghe thấy có tiếng động, hắn bèn liếc
thật nhanh nhìn vào cửa phòng khách.
***
Trong quán cà phê nằm trên đường Miollin ở Paris, Sanderson đang thanh
toán thêm hai nghìn năm trăm bảng Anh cho Calvi. “Ổn chứ?” anh hỏi tay
bắn súng đảo Corsica. “Không ai trông thấy anh chứ?”
“Không,” Calvi nói, “không có nhân chứng. Đúng ra thì cũng có người
bước vào khi tôi đang kiểm tra cái xác.”
“Ai thế?”, Sanderson mở to mắt hỏi trong sự kinh hãi.
“Một phụ nữ.”
“Đúng là có một phụ nữ bước vào, trông cũng dễ coi lắm,” Calvi tiếp tục
nói, trong lúc nét kinh hãi đang hiện rõ trên gương mặt Sanderson. “Nhưng
xin ông đừng lo lắng. Sẽ không có lôi thôi gì đâu vì tôi đã bắn người đàn bà
đó chết tươi.”
XÔI HỎNG BỎNG KHÔNG[2]
Chiếc phà đến từ cảng Havre nước Pháp đang tiến vào cảng Rosslare của
nước Cộng hòa Ireland. Trên phà đầy ắp người và xe hơi, có cả những xe tải
chất đầy hàng hóa.
Liam Clarke là một tài xế xe tải. Anh đã lên hàng ở Bỉ và bây giờ đang trên
đường về nhà ở thành phố Dublin với hy vọng sẽ về đến nơi trước khi trời
tối.
Khi chiếc phà đã cập bến thì các khoang chứa hàng được mở ra. Liam trèo
vào chiếc xe tải Volvo sơn màu xanh lá cây pha sọc trắng của mình, nổ máy
xe rồi lái lên cầu phà. Có nhiều tiếng ồn nên anh không nghe thấy tiếng gãy
sắc gọn phát ra từ bên dưới xe tải.
Anh lái dọc theo cầu phà tới trạm hải quan thì tắt máy chờ. Một nhân viên
hải quan đến kiểm tra giấy tờ nhập khẩu của anh. Nhân viên hải quan này
chỉ vào phía dưới chiếc xe tải và hỏi: “Cái gì kia?”
Liam trèo xuống xe tải và cúi nhìn bên dưới xe. Anh ta phát hiện dầu đen
đặc quánh đang từ trong máy nhễu ra ròng ròng. Đã có đến nửa lít dầu
loang trên đất và dầu vẫn còn tiếp tục nhễu.
“Chiếc xe tải của anh sẽ không đi xa được đâu,” nhân viên hải quan khuyên.
“Anh phải để nó ở đây và kêu thợ máy đến sửa thôi.”
Nhân viên sĩ quan quay sang kiểm soát những chiếc xe tải khác. Liam tới
trạm điện thoại gần nhất và gọi về cho chủ ở thành phố Dublin. Anh báo
cho chủ biết là chiếc xe tải đã bị hỏng máy.
“Mày phải ở lại Rosslare tối nay thôi,” người chủ quyết định. “Chờ đến
sáng mai, tao sẽ gửi thợ máy và đồ phụ tùng tới.”
Vậy là Liam Clarke đành phải gửi lại chiếc Volvo màu xanh trắng của mình
ở trạm hải quan rồi tìm một nhà trọ loại vừa có giường ngủ vừa có bữa sáng
để qua đêm. Sáng hôm sau, anh ta quay trở lại cảng ngồi đợi. Mãi tới giữa
trưa thợ máy mới đến nơi.
“Mất bao lâu thì mới sửa xong?”, Liam hỏi.
“Hai ba tiếng là xong,” tay thợ máy trả lời. “Anh sẽ về đến nhà trước khi
trời tối.”
Người thợ máy bắt đầu làm việc. Khi chuyến phà chiểu từ Pháp tiến vào hải
cảng Rosslare thì người thợ máy cũng đang hoàn tất công việc sửa chữa.
***
Cao cao trên ngọn đồi nằm bên trên cảng Rosslare, có hai người đàn ông
đang theo dõi chuyến phà chiều từ từ tiến vào cảng.
“Chiếc phà đã đến rồi, đúng giờ lắm,” Murphy thông báo với Brendan.
“Hãy tìm chiếc xe tải sơn màu xanh lá cây pha sọc trắng đang từ dưới phà
lên bờ ấy.”
Brendan chăm chú nhìn xuyên qua một cái ống nhòm. Chiếc xe tải đầu tiên
tách khỏi phà có màu nâu và mang biển số của Pháp. Chiếc tải thứ hai sơn
màu xanh lá cây pha sọc trắng mang chữ TARA trên thân chiếc rờ moọc.
“Nó kìa! Đúng chiếc đó rồi!”, Brendan reo lên, “Tụi mình có đi liền
không?”
“Không có gì phải vội,” Murphy cản lại. “Trước tiên, hãy đợi cho chiếc xe
đó qua khỏi hải quan đã. Tụi mình cần tụi hải quan kiểm tra đúng là trên đó
có chín nghìn chai rượu mạnh brandy Pháp thượng hạng không, phải không
nào?”
“Nhiều rượu mạnh thiệt ha,” Brendan nói.
“Nhiều tiền thì có,” Murphy đính chính. “Tụi mình sẽ bán đi để lấy tiền chứ
uống iếc cái nỗi gì!”
Chiếc xe tải sơn xanh lá cây pha sọc trắng chạy vào trạm hải quan và dừng
lại bên cạnh chiếc xe tải của Liam. Cả hai chiếc đều cùng màu và đều mang
tên công ty TARA trên chiếc rờ moọc.
Tài xế chiếc xe tải thứ nhì đưa đầu ra khỏi cửa sổ và nói với Liam Clarke.
“Đã xảy ra cái quái quỷ gì với cậu hả Liam?”
“Xe tao bị pan,” Liam nói, “nhưng giờ đã sửa xong rồi.” Liam quay sang
hỏi nhân viên hải quan. “Tôi đi được chưa?”
“Được rồi, đi được rồi,” nhân viên hải quan nói.
Liam lái chiếc tải nặng chịch bò ra khỏi cảng và đi về hướng bắc dọc theo
con lộ dẫn về thành phố Dublin. Anh không để ý là có một chiếc Ford
Granada đang bám sau anh chở theo hai tên Murphy và Brendan.
“Thằng này qua khỏi trạm hải quan nhanh thiệt,” Brendan khoái chí.
“Đúng là nhanh thiệt,” Murphy hưởng ứng. “Mày dừng lại ở trạm điện thoại
kế tiếp cho tao.”
Chúng dừng lại để Murphy gọi điện thoại. “Chiếc tải đang trên đường đến,”
Murphy thông báo trong điện thoại với hai đứa còn lại trong băng. “Tụi bay
phải sẵn sàng đi là vừa.”
Chiếc Granada màu đen theo đuôi chiếc tải của Liam được vài cây số
đường thì rẽ quặt vào một đường đất nhỏ. Ở đây, Murphy và Brendan nhanh
chóng khoác lên người bộ đồng phục quân cảnh. Rồi chúng dán hai dải
plastic màu đen lên hai bên hông chiếc xe hơi, trên mỗi dải plastic có in chữ
GARDA màu trắng. Chiếc Ford Granada đen bây giờ trông giống hệt như
một xe quân cảnh.
Murphy và Brendan tăng tốc rượt cho kịp chiếc tải màu xanh pha sọc trắng.
Chúng lái theo sau chiếc tải thêm vài cây số nữa, chờ đợi đến đúng thời
điểm. Chẳng bao lâu chúng trông thấy một biển giao thông mang dòng chữ
“BÃI ĐẬU XE CÁCH 1KM”.
“Đến giờ rồi!” Murphy nói. Chiếc xe hơi bèn phóng nhanh hơn và vượt qua
chiếc xe tải.
Liam Clarke nhìn sang chiếc quân cảnh đang vượt qua mình thì thấy có một
người mặc quân phục cảnh sát vẫy tay bảo anh dừng lại. Đúng lúc ấy, anh
cũng vừa trông thấy biển giao thông trên đường. Thế là anh đành giảm tốc
độ, đưa xe vào bãi đậu và ngừng máy.
“Anh hãy kiểm tra bánh xe sau của anh kìa,” một trong hai người mặc quân
phục cảnh sát vừa nói vừa bước ra khỏi chiếc xe hơi mang dòng chữ
GARDA.
Liam ra khỏi xe tải và đi theo viên cảnh sát vòng ra đằng sau. Thình lình, có
hai gã đàn ông nhảy ra từ bụi cây bên đường và vồ lấy anh.
Chúng dán băng keo lên cả miệng lẫn hai mắt rồi quấn chặt cả hai tay của
Liam bằng băng keo. Sau đó, chúng đẩy anh lên đằng sau chiếc xe quân
cảnh.
Murphy và Brendan nhanh chóng tháo nhãn GARDA ra khỏi chiếc xe đen.
Đồng thời, chúng cởi bỏ chiếc mũ quân cảnh và áo khoác ngoài, ném đại
những thứ này vào đằng sau xe, trúng cả lên người của Liam.
Murphy xoay sang hai tên còn lại trong băng. “Tụi bay lái chiếc tải này đến
nông trại,” hắn ra lệnh. “Bọn tao sẽ gặp tụi mày ở đó.”
Murphy và Brendan đi trước trên chiếc xe hơi đen. Hai tên còn lại trèo lên
chiếc xe tải và đi theo phía sau.
Nông trại ở sâu tít bên trong, cách xa đường lộ chính, nằm chạy dài theo
một con đường mòn lầy lội và có một nhà kho chứa thóc rộng lớn nằm ngay
bên cạnh. Brendan xô Liam Clarke ra khỏi chiếc xe hơi rồi tống anh vào
trong căn bếp của ngôi nhà dành cho chủ nhân nông trại. Chiếc tải thì chạy
thẳng vào trong kho thóc, xong xuôi bọn chúng đóng cửa nhà kho lại. Sau
đó, bốn tên cùng vào trong ngôi nhà và bắt đầu ngồi đợi.
Từ sáu giờ trở đi, trời bắt đầu tối sầm lại. Vào lúc tám giờ, Murphy đi ra
phía cuối con đường mòn, tay giơ cao một chiếc đuốc. Bốn chiếc van mang
biển số Bắc Alien đang từ từ bò đến trên con đường mòn, rồi ngừng lại ở
phía trước căn nhà kho. Một gã to lớn bước xuống từ một trong những chiếc
van, tay xách theo một chiếc cặp nhỏ.
“Mấy người đã có sẵn rượu brandy chưa?”, gã to lớn đến từ Bắc Alien hỏi.
“Có rồi,” Murphy đáp: “Đang để trong nhà kho. Tôi chưa hề đụng tới nó.”
“Tốt,” gã đến từ phương Bắc nói. Hắn xoay sang người của mình ra lệnh.
“Dỡ hàng xuống!” Rồi hắn nói với Murphy. “Chúng ta hãy đi vào bên
trong.”
Trong ngôi nhà chủ nhân nông trại, gã người phương bắc mở chiếc cặp nhỏ
bên trong chứa đầy những tờ giấy bạc mười bảng Anh.
“Chín nghìn chai rượu brandy với giá bốn bảng Anh một chai, như vậy tổng
cộng là ba mươi sáu nghìn bảng Anh,” Murphy ra giá.
“Ba mươi lăm thôi,” gã phương bắc trả giá.
Murphy không cò kè thêm tiếng nào.
Một trong những gã người phương bắc xuất hiện ở cửa và nói với tên chủ.
“Ông chủ nên đến xem tận mắt thì hơn.”
Gã to lớn đóng phắt chiếc cặp nhỏ lại và xách theo ra bên ngoài.
Murphy theo chân gã to lớn tới căn nhà kho. Sáu tên nọ đang soi đuốc chiếu
sáng bên trong chiếc xe tải chất đầy những bao tải nhựa.
“Thằng tài xế đâu?” gã to lớn giận dữ hỏi.
Murphy dẫn gã người phương bắc vào bếp. Liam Clarke, tài xế chiếc xe tải,
đang ngồi chóc ngóc trong góc với băng keo dán kín mắt và miệng.
“Mày chở cái giống gì trong xe tải của mày vậy?” gã to lớn vừa gỡ băng
keo khỏi miệng Liam vừa lớn tiếng hỏi.
“Mấy bao tải phân,” Liam nói. “Trên giấy tờ hải quan có ghi rõ mà.”
Gã to lớn vồ lấy đống giấy tờ từ trên tay Murphy và nhìn vào tờ khai hải
quan. “Mày vẫn chưa xem cái này phải không, đồ ngu?” gã hỏi Murphy.
Murphy hoảng hốt. “Chỉ có một chiếc tải TARA xuống phà từ Pháp thôi
mà,” hắn phân bua. “Chúng tôi biết có rượu brandy trên chiếc tải đó, theo
nguồn tin nhận được từ Pháp. Coi chừng có rượu brandy ở bên dưới phân
không?”...
 





