Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn
Mùa hoa cải bên sông

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:01' 19-04-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:01' 19-04-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
Hai người đàn bà xóm Trại
Chiếc lông chim màu đỏ
Khúc hát của dòng sông
Người với hoa tầm xuân
Lời hứa của thời gian
Người thổi kèn lá dứa
Mùa hoa cải bên sông
Người đàn bà tóc trắng
Gió dại
Tiếng gọi lúc hoàng hôn
Thị trấn những cây bàng cụt
Bầy chim chìa vôi
Mưa ấm
Bầu trời của người cha
Tiếng đập cánh của chim thần
Đứa con của hai dòng họ
Cái chết của bầy mối
Người nhìn thấy trăng thật
Người cha
Đêm cá đẻ
Ngựa trắng
Chiều hoa tầm xuân
Trái tim rắn
Con chuột lông vàng
Hương khúc nếp cuối cùng
Gương mặt thứ ba
Đi chợ Tết
Bầy mòng két trở về
Mai vàng nở sớm
Chạy trốn khỏi vầng trăng
Cơn mơ hoa cỏ trắng
Lạc loài
Người đi chợ Vừng
Tiếng gọi cuối mùa đông
Cổ vật
Không có chứng minh thư
Tin nhắn lúc gần sáng
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Hai người đàn bà xóm Trại
Vào lúc lên đèn thì trời có mưa. Có lẽ đây là cơn mưa cuối đông, vì chỉ còn mươi ngày
nữa là Tết. Gió từ bãi sông rộng thổi hắt từng làn mưa bụi về phía chân đê. Tiếng mưa
mỏng và nhẹ, như tiếng người thì thào đâu đó. Cả triền bãi rộng chạy ven đê làng Chùa chỉ
còn lại một ngôi nhà nhỏ. Trong ngôi nhà ấy có hai người đàn bà đã sống với nhau mấy
chục năm, đến nay tóc họ đã bạc trắng. Và lúc này họ đang ngồi trong chái bếp nhỏ ấm áp
bởi hơi rơm, lá chuối khô và lửa bếp. Chiếc mâm gỗ có một vết nẻ to được đặt trên nền
bếp bằng đất lâu ngày cứng lại như đá. Trên mâm chỉ độc một bát canh dưa nấu tép bốc
hơi nghi ngút. Hai bà lão ngồi ở hai phía mâm đối diện nhau. Hai cặp đầu gối xương xẩu nhô
cao đỡ lấy hai gương mặt nhăn nheo và sạm đen.
- Bà mua mớ tép này của ai? - Bà lão Ân hỏi và lấy đũa đảo bát canh.
- Mấy đứa trẻ trâu - Bà lão Mật trả lời - Chúng nó mang vào tận đây.
- Mớ tép này mấy đồng?
- Hai nghìn.
- Bà cứ có tật mua nhiều. Không bảo chúng nó sẻ lấy một nửa.
- Có tí tép bằng dúm muối, sẻ một nửa còn lại chúng nó bán cho ai.
Hai bà lão lặng lẽ bưng hai bát cơm xới vơi như cơm cúng và nhón nhén ăn.
- Nấu tép dưa phải nấu cho dừ - Bà lão Ân càu nhàu - Xương cứng ê cả răng.
- Tép bằng lỗ mũi xương ở đâu ra.
- Bà còn khỏe răng, chứ tôi sờ mãi chẳng còn một cái.
Hai bà lão vừa ăn vừa lầm rầm những chuyện như thế. Bên ngoài ngôi nhà mưa vẫn thì
thào. Trong tiếng mưa vẳng lên tiếng chó sủa từ mấy gia đình ở chân đê bên kia.
- Đấy, tôi nói rồi - Bà lão Ân khẽ kêu lên và ho - Hóc xương tép rồi đấy. Khổ thân tôi.
- Bà cứ khạc mấy cái là nó ra - Bà lão Mật lo lắng. Bà lão Ân đặt bát cơm ăn dở xuống
mâm và quay sang phía khác khạc mấy cái.
- Có khỏi không?
- Có được đâu. Không khéo lại chết vì hóc xương tép.
- Bà cứ hay gở mồm - Bà lão Mật nói và chợt reo lên - A, để tôi chữa mẹo cho.
Bà lão Mật vội vàng cầm lấy hai chiếc đũa cả dính cơm và lom khom đến bên bà lão Ân.
- Bà ngồi im nhé. Cứ nhắm mắt lại.
Bà lão Mật vừa nói vừa đưa hai chiếc đũa cả cách đỉnh đầu bà lão Ân chừng gang tay.
Rồi vừa gõ hai cái đũa cả vào nhau và vừa lầm rầm như người niệm chú: “Gần ra, xa vào”.
Đọc đúng bảy lần thì bà dừng lại và hỏi:
- Được chưa bà?
Bà lão Ân không trả lời. Bà vất vả nuốt nuốt nước miếng. Một lát sau bà nói: “Được rồi.
Chả ăn nữa. Sáng mai đun lại cho kỹ”.
Ăn xong bữa cơm tối, hai bà lão bỏ thêm cái gốc tre vào bếp và lấy trầu ra ăn. Bà lão Ân
lấy một miếng cau tươi đưa cho bà lão Mật.
- Ở đâu mà cau tươi thế này? - Bà lão Mật hỏi.
- Cau từ hôm cưới con nhà Phấn. Chúng nó nhét đầy cả túi.
- Con nhà Phấn à?
- Con nhà nó chẳng ra đón bà vào ăn cỗ là gì. Bà ốm bà không đi mà lại còn không nhớ?
Sau đó hai bà lão im lặng nhai trầu. Ngọn lửa ăn dần vào gốc tre khô. Ánh lửa gần gũi và
xa xôi chập chờn trong hai đôi mắt đục mờ.
- Thế Tết năm nay định gói bao nhiêu bánh?
Bà lão Ân quay lại phía bà lão Mật hỏi.
- Gói bao nhiêu thì gói. Nhưng vừa vừa thôi. Năm nào cũng bỏ mốc meo cả.
- Cứ nấu ba chục cái.
- Gớm, bà làm như nấu cho cả làng.
- Cứ nấu thế. Trẻ con trong làng ra chơi thì cho chúng nó. Rồi... nhỡ có ai về...
Nghe bà lão Ân nói vậy, bà Mật từ từ ngước đôi mắt đục mờ lên nhìn một lúc lâu rồi hỏi
khẽ: - Ai về?...
***
Mấy chục năm về trước. Cũng những đêm mùa đông giáp Tết ở trong chái bếp như thế
này. Hai bà lão ngồi trước bếp lửa và hồ hởi nói với nhau về chuyện gói bánh chưng. Ngày
ấy họ còn trẻ lắm. Cả hai người mới ngoài hai mươi tuổi. “Năm nay thế nào hai anh ấy cũng
về - Mật thì thầm - chị Ân nhỉ” “Tao cũng mong quá - Ân nói như bằng hơi thở - Đêm qua tao
mơ thấy con gà trống mổ vào ngón tay út. Mấy năm rồi chẳng có ai về ăn Tết”. “Em phát
ốm vì chờ thôi.” “Giá như có đứa con... thì họ bao giờ về cũng được”. “Chị Ân ơi - Mật chợt
kêu lên và ôm lấy Ân - Mấy đêm trước em cũng mơ. Em thấy anh ấy về và... ngay đêm
đó...”. Nói đến đó mặt Mật ửng đỏ và đôi mắt Mật vừa lấp lánh vui, vừa bối rối.
“Đêm đó thì sao” - Ân lườm mắt, mắng yêu Mật.
“Con khỉ”.
“Ngay đêm đó em mơ em có mang. Lúc tỉnh dậy sờ bụng em thấy khang khác. Em sợ
lắm”.
“Con này nói chuyện vớ vẩn”.
“Thật đấy mà, đến hôm nay em vẫn thấy bụng mình khang khác như thế - Mật nói và cầm
tay Ân kéo đặt lên bụng mình - Chị sờ mà xem. Đấy, chị thấy khác không?” Vì tò mò, Ân
đưa tay ấn vào bụng Mật. Và một lúc sau Ân cũng hoảng hốt vì cảm thấy hình như trong
bụng Mật cũng không bình thường.
“Này... - Ân thì thào - Chồng đi vắng, hay mày trót dại...”
- “Chị bảo dại cái gì?...”
“Có thằng nào nó rủ rê mày không?”
“Không, làm gì có chuyện ấy. Có mà trôi sông”?
“Tôi phải trông nom cô - Ân nói - Có chuyện gì thì tôi và cô cứ là bỏ xóm bãi này mà lên
rừng đấy”.
Ân và Mật đều mồ côi cha mẹ. Và lớn lên lấy chồng, họ đưa nhau ra xóm bãi lập nghiệp.
Rồi một đêm hai người đàn ông của họ khăn gói theo một đơn vị bộ đội vượt sông Đáy về
phía núi Miếu Môn. Trước khi qua sông hai người đàn ông dặn: “Hai chị em dọn về mà ở với
nhau. Đến Tết, kháng chiến thành công chúng tôi về”. Từ ngày đó Mật dọn sang ở với Ân.
Họ sống như hai chị em ruột trong nhà. Và khi Tết đến, cả hai lại xuống bến rửa lá dong và
vo gạo. Má họ rực đỏ trong gió lạnh cuối đông. Tiếng cười họ trong trẻo và rạo rực vang
trên mặt sông mùa nước cạn yên tĩnh. Nhất là vào đêm luộc bánh, cả hai đều thấy hồi hộp
lạ lùng. Họ cảm thấy da thịt họ thấm đầy hơi lửa bếp. Khi bánh chín, họ chọn những chiếc
bánh đẹp nhất, chắc nhất để phần hai người đàn ông của họ. Nhưng những ngày Tết
thường vụt đi như tên bắn. Cánh bãi không còn tiếng pháo tép của trẻ con nữa. Và những
bầy sáo tháng Giêng đã loáng thoáng bay về. Ân và Mật mang những chiếc bánh đã khô lá
luộc lại. Cho đến khi ở đầu góc bánh đã lấm tấm mốc xanh thì họ không còn bình tĩnh chờ
đợi nữa. Cả hai cùng khóc. Đêm xuống, hai người đàn bà trẻ nằm xoay lưng vào nhau trên
giường lót rơm và giấu tiếng thở dài. “Chị ngủ à, chị Ân?” - Mật thường bắt đầu câu hỏi như
thế trong đêm. “Chưa”. Ân trả lời trong chăn. “Sao Tết năm nay các anh ấy lại không về
nhỉ?”. “Có giời mà biết - Ân giận dỗi - Chắc chiến dịch bận”. “Mai mình cứ luộc lại bánh chị
Ân ạ” - “Luộc mãi để thành cháo à. Bỏ ra mà ăn hết đi” - “Ăn làm sao hết những hai chục
cái”?
Sau những câu chuyện như vậy cả hai chị em lại chìm vào giấc ngủ lơ mơ. Thường sang
Giêng gió sông ấm hơn và đất bãi phả hương phù sa dễ chịu làm giấc ngủ của họ thường
có những cơn mơ. Trong mơ, Ân lại thấy con gà trống tía với chiếc mào đỏ rực, cái ức
rộng, và đôi cựa bóng như ngà mổ mổ vào ngón tay út của mình. Còn Mật vẫn cơn mơ vừa
hạnh phúc vừa lo sợ, chị thấy người lính trở về và ngay đêm đó Mật có mang. Và cứ tỉnh
giấc, Mật lại dè dặt đặt tay lên bụng. Rồi Mật mơ hồ lo lắng khi cảm thấy bụng mình khang
khác.
Rồi vào một ngày giáp Tết, chồng Ân đột ngột ghé qua nhà. Tiếng gõ cửa gấp gáp trong
đêm làm Mật choàng tỉnh. “Ai đấy? Ai đấy?” - Mật quýnh lên hỏi.
“Tôi đây. Bấc đây”.
“Giời ơi! - Mật lập cập kêu lên - Anh Bấc...”
Khi cánh cửa vừa mở thì người lính ùa vào ôm lấy Mật.
“Anh Bấc - Mật hoảng hốt - Mật đây. Em đây mà”.
Vòng tay người lính vội rời ra và buông thõng xuống.
“Ân đâu?”
“Chị Ân đi Kim Bôi sáng nay cùng mấy chị trong xóm, xem có lá dong rẻ hay quýt cam gì
đấy mua về bán chợ Tết. Em ở nhà trông nhà”.
“Bao giờ Ân về?”
“Có lẽ mai chị Ân về, thế bao giờ anh đi?”
Bấc đứng lặng không trả lời. Gió sông lạnh thổi xốc vào ngôi nhà tranh bé nhỏ.
“Vào nhà đi anh, để em đốt đống lửa cho ấm”.
Một lát sau ngọn lửa đã chui qua những cành củi khô và vươn lên.
“Em nấu cho anh bát cơm nhé?”
“Tôi ăn rồi. Liệu ngày mai Ân có về kịp không?”
“Chị ấy sẽ nóng ruột mà về. Sao các anh biệt tin lâu ngày thế? Nhà em ra sao rồi anh?”
Mật rụt rè hỏi và đợi câu trả lời.
“Sau ngày sang sông, chúng tôi cùng nhau ở một đơn vị được một tháng. Sau đó mỗi
người đi một đơn vị. Nghe đâu Ngữ đang ở Bắc Cạn. Ở nhà không nhận được tin gì của nó
à?”
“Không - Mật nói như khóc - Em và chị Ân Tết nào cũng mong các anh về. Năm nào hai
chị em cũng gói nhiều bánh...”.
“Mình sắp đánh lớn. Đơn vị tôi đang chuyển quân lên mặt trận Hòa Bình. Hai chị em ở
nhà có khỏe không?”
“Chúng em thế nào cũng chịu được. Chỉ lo cho các anh hòn đạn mũi tên. Sao anh về
chẳng tin cho chị Ân biết trước?”
“Đang kháng chiến mà cô cứ làm như...” - Người lính cười. Gió thổi mạnh hơn qua những
tàu chuối ngoài vườn. Sương như xuống dầm dề trên mái rạ. Ngọn lửa như ngái ngủ cháy lờ
đờ trên củi.
“Anh nghỉ một tí đi, kẻo mệt - Mật nói - Hết canh ba rồi”.
“Cô đi nằm đi. Tôi ngồi đây. Cũng sắp sáng rồi”.
Mật không trả lời. Chị ngồi im lặng nhìn những mẩu than nhấp nháy như những ngôi sao
mùa đông. Giá như đêm nay Ân ở nhà thì Ân hạnh phúc biết bao nhiêu. Và giá như người
lính kia là chồng chị. Nghĩ đến đó máu trong người chị dào lên chảy xiết. Chị thấy mặt mình
nóng rát. Chị nhớ đến cơn mơ thường gặp và chị muốn khóc. “Chúng em ở nhà khổ lắm Mật thổn thức - Giá như có mụn con thì đỡ khổ”.
“Sắp hòa bình rồi. Chúng tôi sẽ về cả thôi. Rồi không có sức mà đẻ”.
Người lính nói và cười vang. Mật cũng bật cười theo. Nước mắt chị giàn giụa. Ngọn lửa
cuối cùng đã chui vào đống than đỏ và ngủ vùi trong đó. Mật ngồi trong bóng tối, miệng lầm
rầm: “Chị Ân ơi về mau lên. Anh Bấc đang đợi, chị Ân ơi, mau lên”.
***
Cái gốc tre đã cháy hết, hai bà lão vẫn ngồi im lặng. Hai gương mặt sạm đen và nhăn
nheo như nằm bất động trên hai đầu gối xương xẩu. Một con chuột nhắt bé như hạt mít từ
góc bếp bò ra. Nó rón rén leo trên chiếc mâm gỗ. Rồi bất chợt nó nhảy phóc lên miệng bát
làm chiếc bát ăn cơm đổ kềnh.
- Bà ngủ rồi đấy à? - Bà lão Ân quay sang phía bà lão Mật hỏi.
- Ngủ đâu mà ngủ - Bà lão Mật mở mắt nói và lại nhai tiếp miếng trầu còn ngậm trong
miệng - Ăn miếng trầu thế mà say say.
- Chiều bà có che kỹ cái chuồng gà không?
- Che rồi. Tôi cho uống cả nước vôi trong. Sương thế này sợ rù mất mấy con gà.
- Mẹ Phấn nó bảo Tết năm nay đón hai cụ vào nhà nó ăn Tết. Nó bảo hai cụ sống ngoài
bãi như ma ấy.
- Ăn uống được gì đâu mà vào. Nó còn con cháu, khách khứa, thì giờ đâu mà hầu mình.
Thôi chết, tôi bỏ quên cái rổ có cái áo giặt dở lúc chiều.
- Bà lú lẫn hơn cả tôi - Bà lão Ân nói.
- Chiều đang giặt dở thì bà Mên tưới trên bãi gợi chuyện. Thế rồi cứ quên mà về. Tôi
phải xuống bến tôi lấy.
- Thôi mưa gió tối tăm thế này, đi rồi ngã ra đấy. Có cái rổ rách với cái áo nát, ma nó lấy.
Nhưng thấy bà lão Mật cứ khăng khăng đòi đi, bà lão Ân với lấy cái nón đưa cho bà lão
Mật và dặn: “Đi chầm chậm thôi, bà ạ”.
Trời đêm mênh mang. Bà lão Mật lom khom xuống bến. Bà đã đi không biết bao nhiêu
lần trên con đường này. Và con đường đã ăn sâu vào trí nhớ bà. Khi cắp rổ định quay về thì
có tiếng cá quẫy mạnh sát bờ. Một vật gì đó vô hình rơi vào ký ức bà tựa như cái quẫy của
đuôi cá. Và rồi những vòng sóng kỷ niệm cứ loang ra, loang mãi. Bà từ từ ngồi xuống nhìn
dòng sông trong đêm. Nơi đây, mấy chục năm về trước bà đã tiễn chồng theo bộ đội sang
sông. Và chính nơi đây, bà đã tiễn Bấc đi trong lần người lính ghé qua nhà không gặp vợ
mình.
***
Suốt cả ngày hôm ấy vẫn không thấy Ân về - Bao nhiêu kỷ niệm đều mờ đi theo tuổi tác,
nhưng những đêm như thế vẫn bám dai dẳng trong bà lão Mật - Hôm ấy, cứ thỉnh thoảng
Mật lại chạy lên mặt đê ngóng về phía xa. Buổi tối ăn cơm xong, Bấc nói: “Khuya tôi phải đi.
Mai Ân về bảo tôi vẫn khỏe”.
“Chỉ sáng mai là chị ấy về thôi - Mật nói như van - Tối mai anh hãy đi”.
“Không được đâu. Đêm nay tôi phải có mặt nơi đóng quân”.
Khoảng chín giờ tối thì Bấc lên đường. Mật tiễn Bấc xuống bến sông. Khi sát mép nước
Bấc quay lại. Anh đặt tay lên vai Mật. Những ngón tay người lính như bấu chặt vào vai chị.
Mật thấy rét run lên, hai hàm răng chị va vào nhau lập cập.
“Tôi đi nhé - Người lính thì thào - Hai chị em ở nhà thương nhau. Tôi và Ngữ sẽ về sớm”.
Bấc đi được một tiếng đồng hồ thì Ân về. Nghe tiếng Ân gọi cửa. Mật run bắn và òa
khóc. “Chị Ân ơi, anh Bấc về, Bấc về”.
“Đâu, đâu? Anh ấy đâu?... Đâu?”
“Anh ấy đi rồi. Anh Bấc ngồi chờ chị suốt cả đêm qua. Anh vừa sang sông”.
Bó lá dong lớn và sọt quít đồi đổ xuống như người ngã. “Anh ấy đi lâu chưa? - Ân hổn
hển - Anh ấy đi lối nào”.
“Anh Bấc lội qua bến nhà mình”. Vừa nói Mật vừa nắm tay Ân đi như chạy xuống bến.
Đến bờ sông, Ân giật tay chị ra khỏi bàn tay Mật và lội ào ào xuống nước.
“Chị ơi! Anh ấy đi xa rồi - Mật đứng trên bờ ôm ngực khóc gọi - Đừng sang sông nữa,
chị ơi”.
Mật ngồi thụp xuống bờ cát ướt lạnh và bưng mặt nức nở cho đến tận khi chị nghe tiếng
khỏa nước mệt mỏi vào bờ. Ân rét ướt nghiêng ngả bước lên bờ. Hai người đàn bà trẻ
đứng im lặng trước nhau. Rồi cả hai lao vào ôm lấy nhau nức nở. Gió sông như ấm hơn thổi
dạt dào qua bãi về phía chân đê. Và đâu đó thoảng mùi cỏ lên mầm hăng hăng.
Tết năm ấy, Ân và Mật vẫn lặng lẽ gói nhiều bánh. Nhưng Tết năm ấy, cả hai người lính
của họ vẫn không về. Sang Giêng, hai người đàn bà mấy lần mang bánh luộc lại và mấy lần
nhìn nhau khóc.
Mấy năm sau ngày hòa bình lập lại. Mật nhận được giấy báo tử chồng. Nhưng Tết đến
họ vẫn gói nhiều bánh. Trong mơ chị vẫn thấy người lính trở về. Và tỉnh giấc vẫn rụt rè đặt
tay lên bụng mình và thấy khang khác. Nhiều lần Ân khuyên Mật nhận lời lấy một người đàn
ông nào đó. Những lần như thế, Mật chỉ nở một nụ cười xa xăm và ngơ ngác như nụ cười
của một người vừa thức dậy trong giấc ngủ trưa. Và sau đó thì Mật nói với Ân: “Bao giờ
anh Bấc về với chị thì em đi lấy chồng”.
***
Đợi lâu không thấy bà lão Mật về, bà lão Ân sốt ruột ra đầu ngõ hướng xuống sông gọi:
- Bà Mật ơi! Bà Mật.
- Tôi về đây.
- Đã bảo đêm hôm rồi còn mò xuống - Bà lão Ân cằn nhằn - Già rồi còn thích làm tội
thân, tội mình.
Nói vậy nhưng bà lão Ân vẫn đứng lại đợi cho đến khi bà lão Mật lên đến đầu ngõ.
- Vào đi ngủ thôi bà ạ - Bà lão Ân nói - Tôi đau hết cả lưng rồi.
Gian nhà nhỏ trong đêm như rộng mênh mông. Hai bà lão nằm quay lưng vào nhau và
thỉnh thoảng lại khúc khắc ho.
- Bà vẫn nhai trầu đấy à? - Bà lão Ân hỏi.
- Tôi nhai cho hết kẻo phí.
- Nhai thế mà không mỏi mồm.
Đâu đó trên mái nhà có tiếng chuột đuổi nhau rinh rích. Và từ cỗ áo quan có tiếng mọt
nghiến gỗ trèo trẹo.
- Bà có cầm bao diêm đấy không? - Bà lão Ân hỏi.
- Có, làm gì nữa bây giờ?
- Tôi xem con mọt. Có khi lúc mình chết thì mọt cũng cắn nát cỗ áo ra rồi.
- Nó nằm trong gỗ chứ nó lại chui ra cho bà xem.
Nói vậy nhưng bà lão Mật vẫn lấy bao diêm đưa cho bà lão Ân. Bà lão Ân bật diêm châm
đèn soi cỗ áo quan. Bà nghiêng đầu nghe ngóng một lúc rồi lấy tay đập đập vào cỗ áo.
Tiếng mọt chợt im bặt. Bà đứng bên cỗ áo quan cho đến khi yên tâm là con mọt không còn
dám cắn nữa thì mới tắt đèn lên giường.
Gần sáng, những ngọn gió cuối đông tuy còn lạnh nhưng đã chơm chớm xuân thổi rạo
rực qua ngôi nhà của hai bà lão. Và bà lão Mật lại mơ thấy người lính trở về. Nhưng khi
nhìn rõ mặt thì bà nhận ra không phải Ngữ mà là Bấc.
***
Vào đầu năm 1960, Ân nhận được thư Bấc gửi về, trong thư anh nói đang đóng quân ở
Quảng Bình bên cạnh một dòng sông đẹp như sông Đáy quê anh.
“Chị Ân ơi - Mật cuống quít - Chị đi vào tìm anh ấy đi. Đi ngay đi. Mọi việc đồng áng cứ
để em”.
Suốt mấy ngày sau đó, cứ chốc chốc Ân lại mang thư chồng ra đọc và khóc. Cuối cùng
chị quyết định khăn gói đi thăm chồng. Nhưng cuộc đời thật trớ trêu. Ân đi được dăm ngày,
thì Bấc về.
“Anh Bấc, anh gặp chị Ân không? - Mật hốt hoảng hỏi khi chị linh cảm thấy điều không
bình thường - Chị Ân vào Quảng Bình tìm anh rồi”.
“Tìm tôi hả? Đi bao giờ?”
“Chị Ân đi được dăm ngày rồi”.
Nghe Mật nói, Bấc đứng chết lặng. Mãi sau anh mới nói:
“Người lính nay đây mai đó, tìm sao được”.
“Anh Bấc ơi, lần này anh phải ở nhà chờ chị ấy - Mật nói và khóc - Em không cho anh đi
đâu cả. Anh Bấc ơi! Anh Ngữ hy sinh rồi”.
“Ngữ hy sinh rồi ư! Hy sinh bao giờ? Ở đâu?”.
“Có giấy báo tử rồi anh ạ. Hơn ba năm rồi”.
Đêm ấy Bấc nói với Mật:
“Sáng sớm mai tôi phải đi rồi. Lần này đi rất xa và có lẽ lâu lắm”.
“Không. Anh phải ở nhà chờ chị ấy về rồi đi đâu thì đi. Nếu không chị ấy chết mất.”
“Không làm sao khác được Mật ạ. Tôi phải đi.”
Khoảng canh tư thì Bấc khoác ba lô lên đường. Mật tiễn Bấc lên đến mặt đê. Bỗng Mật
ôm lấy Bấc và khóc nấc lên: “Anh Bấc ơi! Em thương chị Ân quá. Em thương anh hu... hu...
và thương cả cái thân em nữa. Nếu anh Ngữ về được một lần thì em đỡ khổ, đỡ ân hận
biết bao. Anh Bấc ơi, sao em không phải là chị Ân, sao anh không phải là anh Ngữ, hả anh?
hu... hu...”.
Bấc không nói được gì. Anh ghì Mật vào lòng. Cả hai người run lên. Mật vội đẩy Bấc ra
và vội vã nói:
“Anh đi đi, anh Bấc, anh đi đi”.
Nói xong, Mật chạy nhào xuống chân đê. Chị vừa chạy, vừa ngã và nức nở gọi tên Ân và
tên chồng chị.
***
Rồi Bấc cũng không trở về. Khi Ân và Mật vừa bước qua tuổi bốn mươi, hai người đàn
bà thường xuống bến sông ngồi khóc. Và Tết lại đến, những ngọn gió chớm xuân thổi đầm
ấm và rạo rực qua ngôi nhà của họ suốt đêm. Và những ngày giáp Tết là những lúc họ
thường mơ nhiều hơn. Trong mơ có tiếng gà gáy và tiếng gõ cửa gấp gáp, có ngan ngát
mùi lá dong xanh và hương ấm đậm của gạo nếp đã vo sạch. Họ vẫn ở lại ngoài bãi sông,
mặc dù những gia đình khác đã dọn vào làng theo quy hoạch của chính quyền xã và để
tránh những năm nước sông lên to. Có một điều gì đó thiêng liêng và đau khổ đã gắn chặt
họ với ngôi nhà nhỏ và bến sông này.
- Này, bà Mật! Bà Mật, ngủ mê đấy à? - Bà lão Ân lay gọi bà lão Mật - Kêu gì mà khiếp
thế.
- Tôi ngủ... mê à? - Bà lão Mật ú ớ hỏi - Sáng chưa bà?
- Còn chán.
- Bà cho tôi mượn bao diêm - bà lão Mật ngồi dậy nói.
Bà lão Mật lục đục tìm đèn và bật diêm. Ngọn đèn dầu tỏa một quầng sáng vàng ấm
trong nhà.
- Bà dậy mà đi.
- Không.
- Già thì phải chịu khó mà đi. Không nhỡ ra quần, ra áo khai lắm.
- Ôi giời! - Bà lão Ân cựa mình và chép miệng - Bệnh già nó thế, ai mà muốn.
Khi gà trong xóm bên kia chân đê thi nhau gáy ran thì hai bà lão lại tỉnh giấc. Bà lão Mật
lại nhóp nhép nhai cái bã trầu vẫn ngậm trong miệng khi ngủ.
- Thế bà định Tết này gói bao cái bánh? - Bà lão Mật hỏi.
- Cứ bảo mẹ Phấn nó mua cho đủ lá gói ba chục cái. Mình thì ăn là mấy, nhưng nhỡ có ai
về...
Nghe bà lão Ân nói vậy, bà lão Mật ngừng nhai trầu và hơi nghiêng đầu về phía bà lão Ân
như định hỏi điều gì đó. Nhưng bà lại thôi.
Và bên ngoài, những ngọn gió sông đã chơm chớm xuân vẫn rạo rực thổi qua ngôi nhà
nhỏ.
Chiếc lông chim màu đỏ
Thường vào lúc những cơn mưa tháng Giêng bay mờ trắng và ấm áp, thì bầy chim
đi tránh rét từ mùa đông trở về. Cả bãi vải rộng và chạy dài gần một cây số dọc triền sông
quê Ngần trở thành nơi nghỉ cánh của bầy chim. Không hiểu vì sao bầy chim di cư lại chọn
bãi ấy làm nơi nghỉ trước khi bay chặng cuối cùng về một vùng đất ngập nước cách làng
Ngần khoảng 50 cây số. Chúng sống trên vùng đất ngập nước ấy từ mùa xuân cho đến đầu
đông. Suốt thời gian ấy, chúng kiếm ăn và sinh nở. Bầy chim bay về những vùng ấm áp ở
phương Nam theo một đường khác. Khi trở về, chúng chọn một đường khác và nghỉ tại bãi
vải vào giữa chiều. Người làng chạy ra mặt đê xem chim về. Bà nội Ngần kể: Ngày trước,
có mùa chim về nhiều quá, bãi vải không đủ chỗ cho chúng, bầy chim đậu tràn vào những
khu vườn trong làng, nghỉ lại đúng một đêm, và mờ sáng hôm sau lại bay đi. Cả làng như
thức giấc bởi tiếng đập cánh ngờm ngợp của bầy chim. Chúng bay cắt ngang qua làng và
cất tiếng kêu trong như tiếng sáo trúc. Bà nội Ngần bảo, đó là lời cảm ơn của chim. Những
buổi sáng như vậy, Ngần dậy sớm. Cô chạy ra sân, ra ngõ và đường làng để nhặt những
chiếc lông chim rụng.
“Tại sao bầy chim chỉ ở lại bãi vải làng mình có một đêm hở bà?”. Ngày còn bé, Ngần hỏi
bà nội như thế. Và bà nội kể câu chuyện về bầy chim do cụ nội Ngần kể lại.
Từ thuở xa xưa bầy chim di cư đã chọn đường bay trở về qua vùng đất bãi quê Ngần.
Chúng chỉ bay qua chứ không nghỉ lại bãi vải. Nhưng một buổi chiều, người làng thấy bầy
chim đỗ xuống bãi vải. Thấy lạ, cả làng đổ ra xem. Trên ngọn của một cây vải to nhất, cao
nhất, bầy chim lượn thành hình tròn như một dải mây khổng lồ. Gió từ cánh của bầy chim
quạt rào rào vào những vòm lá vải. Chúng vừa bay vừa kêu thảm thiết. Trên tán lá dày nơi
ngọn cây, một con chim lớn nằm xõa cánh. Đấy chính là con chim chúa. Trong chặng bay
cuối về vùng đất ngập nước, con chim chúa đã hạ cánh xuống bãi vải. Nó biết nó không còn
đập cánh được nữa. Và nó chọn bãi vải quê Ngần làm nơi yên nghỉ. Đàn chim bứt những
chùm hoa vải phủ kín lên con chim chúa. Đêm ấy bầy chim ở lại bãi vải. Và sáng sớm hôm
sau thì chúng bay đi.
Sau khi bầy chim ra đi, dân làng đổ ra bãi vải và mang xác chim chúa xuống. Con chim
chúa to hơn những con chim khác. Đặc biệt, nó có một đôi cựa như một đôi ngà voi nhỏ xíu
và một chiếc lông đỏ trên đỉnh đầu. Dân làng chôn con chim dưới gốc cây to nhất, cao nhất
và hương khói như đối với một con người. Lạ thay, năm ấy làng được mùa vải chưa từng
có. Hình như bông hoa nào cũng đậu quả, và vải quê Ngần là giống vải to và hơi chua, bỗng
trở nên ngọt và thơm lạ thường. Cho đến bây giờ, ngoài giống vải thiều ra, không có loại vải
nào ngọt như vải quê Ngần cả.
Và từ đó, làng Ngần đã chọn ngày 13 tháng Giêng làm ngày hội làng, hội thi cây cảnh.
Những cây cối được uốn, cắt tỉa thành hình con chim, có cái lông đỏ trên đỉnh đầu. Buổi
sáng người làng đổ ra mặt đê thắp hương và đợi chim về. Sáng sớm hôm sau, khi bầy chim
đã ra đi, người làng ra bãi vải nhặt những chiếc lông chim rụng. Nếu ai nhặt được chiếc lông
chim màu đỏ thì sẽ gặp phước lành. Người già nhặt được thì sẽ không bệnh tật và sống
đến tận trăm tuổi. Trẻ con nhặt được thì ngoan ngoãn, thông minh. Con trai nhặt được thì
sẽ khỏe mạnh, tài trí, làm ăn phát đạt. Và con gái nhặt được thì mỗi ngày một đẹp, một
thảo hiền và sẽ lấy được người mình mong ước. Nhưng mỗi lần chim về, trong hàng ngàn
chiếc lông chim rụng, chỉ có một chiếc màu đỏ.
Sau khi nghe bà kể, năm nào cũng vậy, đêm trước ngày hội làng. Ngần hầu như chẳng
ngủ được vì thấp thỏm. Nhưng cho tới bây giờ. Ngần vẫn chưa nhìn thấy chiếc lông chim ấy.
Bởi thế mà Ngần vẫn chỉ ru rú ở nhà với bà. Đám trai làng hầu như chẳng để ý đến cô. Nếu
có chàng nào nói chuyện với cô thì cũng chỉ là những câu đùa cho vui mà thôi. Ngay cả khi
ở tuổi 17, Ngần vẫn chỉ như một cô bé lên mười.
Đã có một thời gian dài, có lẽ cũng phải mười lăm năm bầy chim không trở về bãi vải.
Vào một đêm trong chiến tranh, đúng cái đêm mà bầy chim nghỉ lại bãi vải thì bị bom đánh.
Hàng chục quả bom đã ném xuống bãi vải. Sáng sớm hôm sau, người làng chạy ra bãi vải.
Một cảnh tượng đau lòng hiện ra. Bãi vải xơ xác, cây đổ ngổn ngang. Trên mặt đất, rụng kín
hoa vải và la liệt xác chim. Người làng nhìn cây đổ, hoa rụng và chim chết mà nước mắt
ròng ròng. Sau đêm ấy, bầy chim di cư không thấy bay về nữa.
Vào những ngày đầu Giêng, Ngần vẫn đôi lúc tha thẩn dọc bãi vải. Chính ở đó Ngần đã
gặp Thư. Đó là một buổi chiều cách đây bốn năm. Họ đã làm quen và Thư hỏi:
- Cô có biết bầy chim di cư không?
Ngần đã kể cho Thư nghe về bầy chim ấy, cả câu chuyện về con chim chúa và cái lông
chim màu đỏ.
- Cô đã nhặt được chiếc lông chim ấy chưa?
Ngần buột miệng:
- Chưa. Năm nào em cũng tìm.
Nói xong. Ngần đỏ mặt và vội bỏ đi.
Hôm sau, một cán bộ xã đưa Thư đến nhà Ngần. Lúc đó cô biết Thư là một người nghiên
cứu về những bầy chim di cư. Thư đến để được nghe bà nội Ngần kể về bầy chim.
- Tôi đang đi tìm bầy chim ấy - Thư nói.
- Bầy chim nào? - Ngần hỏi.
- Bầy chim trước kia đậu lại làng mình một đêm ấy.
- Chúng nó ở tận trên trời, làm sao anh tìm thấy chúng.
- Tôi tìm thấy chúng rồi.
- Ở đâu hở anh? Chúng ở đâu?
- Chúng đã về bãi ven sông, nhưng không như ngày xưa, chỉ có vài chục con thôi.
Thư đưa Ngần ra bãi vải. Anh chỉ cho Ngần thấy một hai chiếc lông chim. Rồi cả làng xôn
xao lên sau buổi Thư nói chuyện ở đình làng về bầy chim, rằng chỉ một vài năm nữa, bầy
chim sẽ lại về. Những ngày sau đó, có những buổi Ngần và Thư lang thang dọc bãi vải cho
đến tối. Thư nói với Ngần:
- Chúng sẽ trở về. Bầy chim biết rõ chúng sẽ phải bay theo nguồn gió nào và hạ cánh ở
đâu.
Vào mùa xuân năm nay, Thư lại lỉnh kỉnh đồ đạc về làng Ngần từ mồng 5 Tết. Suốt ngày
Thư ở trên đê nhìn trời. Thi thoảng anh qua sông và đạp xe vào sát chân núi Mối. Mỗi khi
trở về, mặt Thư tím đi vì gió lạnh. Ngần thường đun một ấm nước nóng cho Thư rửa mặt.
- Anh có thấy chúng về không? - Lần nào thấy Thư dắt xe đạp từ ngõ vào sân. Ngần
cũng hỏi như thế.
- Chưa thấy gì - Thư đáp - Nhưng tôi tin năm nay chúng sẽ về đông hơn...
Thư bỏ lửng câu nói và im lặng nhìn Ngần.
Một buổi tối. Thư ở lại nhà Ngần rất khuya. Hai người ngồi nói chuyện với nhau bên bếp
lửa.
- Đúng là những con chim này có một chiếc lông đỏ phải không anh? - Ngần hỏi.
- Tôi tin là có. - Thư nói - Tôi... anh, cũng muốn nhặt được chiếc lông chim màu đỏ.
- Để làm gì?
- Để thực hiện được ước mơ của anh.
Câu ấy, Thư như nói bằng hơi thở. Và sau câu nói ấy, cả hai người im lặng cho đến lúc
Thư đứng dậy. Khi hai người bước ra sân, Thư chợt kêu lên:
- Mưa ấm quá!
Hai người đứng ở sân và cùng ngửa mặt lên bầu trời tháng Giêng tối thẫm. Mưa tháng
Giêng từ xa thẳm đang thì thầm phả vào mặt họ. Cả hai thấy ấm rực lên như đang ngồi bên
bếp lửa.
- Mưa ấm quá! - Thư nói như reo khẽ. - Mưa ấm thế này là bầy chim sẽ về!
Nói xong, Thư nắm lấy bàn tay Ngần. Và họ nhận ra hai bàn tay họ cũng đang ấm rực.
Sau khoảnh khắc bàng hoàng đi qua, Ngần vội rút tay mình ra khỏi tay Thư.
- Anh về đi, khuya rồi! - Ngần nói vội vã.
- Ngần! - Thư khẽ thảng thốt.
Ngần bước lên hiên nhà. Cô đứng nép vào cột hiên. Chưa bao giờ cô lại thở như thế. Khi
biết Thư đã đi xa, và khi hơi thở dần trở lại đều đều, Ngần đẩy cửa vào nhà. Cô bước lại
bên giường bà nội và nói:
- Bà ơi, bà ngủ chưa? Cháu đốt cho bà chậu lửa nhé!
- Bố cô! - Bà nội Ngần mắng yêu. - Chờ được cô đốt lửa cho thì tôi đã chết cóng rồi!
Ngần cười khúc khích và chui vào màn. Cô ôm lấy bà nội.
- Bà ơi, mưa ấm lắm. Mưa ấm như thế bầy chim sẽ về.
- Ai bảo thế? - Bà nội hỏi.
- Anh Thư nói thế bà ạ!
- Thằng Thư à - Bà nội nói - Cháu ạ, bà bảo nhé, con gái mà da khô, tóc cứng và nóng
như cháu thì đường tình duyên khổ lắm. Đứa nào nó yêu cháu thật thì nó phải là người chân
thành lắm.
Đêm ấy, Ngần thao thức mãi không ngủ được. Tiếng Thư gọi Ngần lúc ở sân làm cho cô
thấy chóng mặt. Chưa ai gọi Ngần với giọng như thế bao giờ.
Đúng chiều ngày 13 tháng Giêng năm ấy. Ngần theo Thư ra đê. Mưa xuân bay mờ cả
triền sông. Vải đang trổ hoa. Họ đứng im lặng nhìn về phía trời xa. Bầy chim trở về thật,
chừng vài chục con từ từ đậu xuống ngọn cây vải cao nhất. Thư nắm tay Ngần chạy xuống
chân đê. Cả hai rón rén đến dưới gốc vải và nhìn lên. Bầy chim đậu sát bên nhau và khẽ
kêu lên, tiếng trong như tiếng sáo trúc. Thư say sưa ngắm nhìn bầy chim cho đến khi trời
đổ tối. Thư dắt tay Ngần đi lên mặt đê. Ngần để yên tay mình trong tay Thư. Lên đến mặt
đê, Thư vừa thở vừa nói:
- Anh dự báo đúng. Bầy chim đã trở về rồi, Ngần ơi!
Nói xong Thư ôm choàng Ngần, Ngần gục đầu vào vai Thư. Cô thấy tim mình đập vang
tận đỉnh đầu.
Sáng sớm hôm sau bầy chim rời bãi vải bay đi, Ngần lén ra bãi vải. Cô vừa hồi hộp vừa
ngập ngừng tìm dưới gốc cây vải xem có chiếc lông chim màu đỏ không. Dù trong lòng cô
nghĩ chiếc lông chim màu đỏ có lẽ chỉ là chuyện cổ tích. Nhưng khi không tìm thấy chiếc
lông chim ấy thì lòng Ngần dâng lên một nỗi lo âu mơ hồ. Và rồi, cô buồn hết cả tháng
Giêng.
Bầy chim đi được mấy ngày thì Thư cũng ra đi. Anh phải trở về vùng đất ngập nước
cùng các đồng nghiệp tiếp tục công việc của mình. Đêm ấy, trong bếp lửa nhà Ngần, nghe
Thư thổ lộ tình yêu của anh, Ngần đã khóc. Lời tỏ tình mà Ngần đã chờ đợi bao năm tháng
lại làm cho Ngần hoảng sợ và đau khổ. Nếu Ngần tin rằng mình xinh đẹp như các cô gái
khác, cô đã chạy ùa đến đón nhận tình yêu của Thư.
- Làm sao em khóc? - Thư hỏi.
Ngần không thể nói cho Thư biết vì sao cô khóc. Cô ngước mắt nhìn Thư. Cô nhìn thấy
đôi mắt Thư đang nhìn cô đắm đuối và ấm áp vô cùng. Lúc đó, Ngần muốn gào lên với Thư
rằng: “Tại sao anh có thể nhìn gương mặt xấu xí của em đắm đuối như thế kia được”.
Nhưng Ngần không thốt lên được. Cô chỉ biết khóc. Thư kéo đầu Ngần vùi vào ngực mình.
Anh vuốt ve mái tóc Ngần. Lúc đó, Ngần cảm thấy mái tóc mình khô giòn và khét đắng. Đến
khi Thư vuốt ve bàn tay Ngần thì Ngần vùng khỏi vòng tay Thư và nghẹn ngào:
- Tại sao em lại không nhặt được chiếc lông chim màu đỏ?
Câu hỏi của Ngần vừa tủi thân, vừa oán hận. Thư nhìn Ngần và nhận ra tất cả. Anh thì
thào:
- Em sẽ nhặt được, chắc chắn là nhặt được.
Nửa tháng sau ngày Thư đi, Ngần nhận được thư anh. Thư say sưa kể cho Ngần nghe
về những bầy chim di cư trở về trong những ngày xuân ấm áp. Ngần thấy hạnh phúc và nhớ
Thư vô hạn. Đêm ấy, cô đọc thư của anh bao nhiêu lần cũng không thấy chán. Nhưng khi cô
lấy chiếc gương ra soi thì cô lại gục đầu mệt mỏi. Cô luôn luôn cảm thấy da cô khô và sạm,
tóc cứng và khét, mắt cô hơi xếch, đôi môi cô có những vết rộp. Nhưng sao anh ấy lại yêu
mình? - Cô thầm hỏi. Hay anh ấy chỉ yêu bầy chim thôi? Ngần nhận được thư của Thư,
nhưng cô không viết lại cho anh.
Thư viết cho Ngần mỗi lúc một thưa và bặt hẳn. Lá thư nào, Thư cũng xin được cưới
Ngần và mong câu trả lời của Ngần. Nhưng Ngần đã im lặng suốt cả một năm. Những lúc
thấy Ngần thẫn thờ, bà nội lại bảo: “Bà biết cháu chờ nó. Nhưng cháu ơi, người ta khác
mình lắm. Xem có đứa nào trong làng tốt bụng hỏi thì lấy. Tuổi cháu đứng rồi, đừng viển
vông, trong nhà, bà lo và thương nhất mày. Nếu xinh đẹp như người ta thì lại đi một nhẽ,
đằng này... Thôi, ông trời cho thế nào thì được thế, cháu ạ”.
Năm ấy, bầy chim di cư trở về đông lắm, có tới hàng tră...
Hai người đàn bà xóm Trại
Chiếc lông chim màu đỏ
Khúc hát của dòng sông
Người với hoa tầm xuân
Lời hứa của thời gian
Người thổi kèn lá dứa
Mùa hoa cải bên sông
Người đàn bà tóc trắng
Gió dại
Tiếng gọi lúc hoàng hôn
Thị trấn những cây bàng cụt
Bầy chim chìa vôi
Mưa ấm
Bầu trời của người cha
Tiếng đập cánh của chim thần
Đứa con của hai dòng họ
Cái chết của bầy mối
Người nhìn thấy trăng thật
Người cha
Đêm cá đẻ
Ngựa trắng
Chiều hoa tầm xuân
Trái tim rắn
Con chuột lông vàng
Hương khúc nếp cuối cùng
Gương mặt thứ ba
Đi chợ Tết
Bầy mòng két trở về
Mai vàng nở sớm
Chạy trốn khỏi vầng trăng
Cơn mơ hoa cỏ trắng
Lạc loài
Người đi chợ Vừng
Tiếng gọi cuối mùa đông
Cổ vật
Không có chứng minh thư
Tin nhắn lúc gần sáng
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Hai người đàn bà xóm Trại
Vào lúc lên đèn thì trời có mưa. Có lẽ đây là cơn mưa cuối đông, vì chỉ còn mươi ngày
nữa là Tết. Gió từ bãi sông rộng thổi hắt từng làn mưa bụi về phía chân đê. Tiếng mưa
mỏng và nhẹ, như tiếng người thì thào đâu đó. Cả triền bãi rộng chạy ven đê làng Chùa chỉ
còn lại một ngôi nhà nhỏ. Trong ngôi nhà ấy có hai người đàn bà đã sống với nhau mấy
chục năm, đến nay tóc họ đã bạc trắng. Và lúc này họ đang ngồi trong chái bếp nhỏ ấm áp
bởi hơi rơm, lá chuối khô và lửa bếp. Chiếc mâm gỗ có một vết nẻ to được đặt trên nền
bếp bằng đất lâu ngày cứng lại như đá. Trên mâm chỉ độc một bát canh dưa nấu tép bốc
hơi nghi ngút. Hai bà lão ngồi ở hai phía mâm đối diện nhau. Hai cặp đầu gối xương xẩu nhô
cao đỡ lấy hai gương mặt nhăn nheo và sạm đen.
- Bà mua mớ tép này của ai? - Bà lão Ân hỏi và lấy đũa đảo bát canh.
- Mấy đứa trẻ trâu - Bà lão Mật trả lời - Chúng nó mang vào tận đây.
- Mớ tép này mấy đồng?
- Hai nghìn.
- Bà cứ có tật mua nhiều. Không bảo chúng nó sẻ lấy một nửa.
- Có tí tép bằng dúm muối, sẻ một nửa còn lại chúng nó bán cho ai.
Hai bà lão lặng lẽ bưng hai bát cơm xới vơi như cơm cúng và nhón nhén ăn.
- Nấu tép dưa phải nấu cho dừ - Bà lão Ân càu nhàu - Xương cứng ê cả răng.
- Tép bằng lỗ mũi xương ở đâu ra.
- Bà còn khỏe răng, chứ tôi sờ mãi chẳng còn một cái.
Hai bà lão vừa ăn vừa lầm rầm những chuyện như thế. Bên ngoài ngôi nhà mưa vẫn thì
thào. Trong tiếng mưa vẳng lên tiếng chó sủa từ mấy gia đình ở chân đê bên kia.
- Đấy, tôi nói rồi - Bà lão Ân khẽ kêu lên và ho - Hóc xương tép rồi đấy. Khổ thân tôi.
- Bà cứ khạc mấy cái là nó ra - Bà lão Mật lo lắng. Bà lão Ân đặt bát cơm ăn dở xuống
mâm và quay sang phía khác khạc mấy cái.
- Có khỏi không?
- Có được đâu. Không khéo lại chết vì hóc xương tép.
- Bà cứ hay gở mồm - Bà lão Mật nói và chợt reo lên - A, để tôi chữa mẹo cho.
Bà lão Mật vội vàng cầm lấy hai chiếc đũa cả dính cơm và lom khom đến bên bà lão Ân.
- Bà ngồi im nhé. Cứ nhắm mắt lại.
Bà lão Mật vừa nói vừa đưa hai chiếc đũa cả cách đỉnh đầu bà lão Ân chừng gang tay.
Rồi vừa gõ hai cái đũa cả vào nhau và vừa lầm rầm như người niệm chú: “Gần ra, xa vào”.
Đọc đúng bảy lần thì bà dừng lại và hỏi:
- Được chưa bà?
Bà lão Ân không trả lời. Bà vất vả nuốt nuốt nước miếng. Một lát sau bà nói: “Được rồi.
Chả ăn nữa. Sáng mai đun lại cho kỹ”.
Ăn xong bữa cơm tối, hai bà lão bỏ thêm cái gốc tre vào bếp và lấy trầu ra ăn. Bà lão Ân
lấy một miếng cau tươi đưa cho bà lão Mật.
- Ở đâu mà cau tươi thế này? - Bà lão Mật hỏi.
- Cau từ hôm cưới con nhà Phấn. Chúng nó nhét đầy cả túi.
- Con nhà Phấn à?
- Con nhà nó chẳng ra đón bà vào ăn cỗ là gì. Bà ốm bà không đi mà lại còn không nhớ?
Sau đó hai bà lão im lặng nhai trầu. Ngọn lửa ăn dần vào gốc tre khô. Ánh lửa gần gũi và
xa xôi chập chờn trong hai đôi mắt đục mờ.
- Thế Tết năm nay định gói bao nhiêu bánh?
Bà lão Ân quay lại phía bà lão Mật hỏi.
- Gói bao nhiêu thì gói. Nhưng vừa vừa thôi. Năm nào cũng bỏ mốc meo cả.
- Cứ nấu ba chục cái.
- Gớm, bà làm như nấu cho cả làng.
- Cứ nấu thế. Trẻ con trong làng ra chơi thì cho chúng nó. Rồi... nhỡ có ai về...
Nghe bà lão Ân nói vậy, bà Mật từ từ ngước đôi mắt đục mờ lên nhìn một lúc lâu rồi hỏi
khẽ: - Ai về?...
***
Mấy chục năm về trước. Cũng những đêm mùa đông giáp Tết ở trong chái bếp như thế
này. Hai bà lão ngồi trước bếp lửa và hồ hởi nói với nhau về chuyện gói bánh chưng. Ngày
ấy họ còn trẻ lắm. Cả hai người mới ngoài hai mươi tuổi. “Năm nay thế nào hai anh ấy cũng
về - Mật thì thầm - chị Ân nhỉ” “Tao cũng mong quá - Ân nói như bằng hơi thở - Đêm qua tao
mơ thấy con gà trống mổ vào ngón tay út. Mấy năm rồi chẳng có ai về ăn Tết”. “Em phát
ốm vì chờ thôi.” “Giá như có đứa con... thì họ bao giờ về cũng được”. “Chị Ân ơi - Mật chợt
kêu lên và ôm lấy Ân - Mấy đêm trước em cũng mơ. Em thấy anh ấy về và... ngay đêm
đó...”. Nói đến đó mặt Mật ửng đỏ và đôi mắt Mật vừa lấp lánh vui, vừa bối rối.
“Đêm đó thì sao” - Ân lườm mắt, mắng yêu Mật.
“Con khỉ”.
“Ngay đêm đó em mơ em có mang. Lúc tỉnh dậy sờ bụng em thấy khang khác. Em sợ
lắm”.
“Con này nói chuyện vớ vẩn”.
“Thật đấy mà, đến hôm nay em vẫn thấy bụng mình khang khác như thế - Mật nói và cầm
tay Ân kéo đặt lên bụng mình - Chị sờ mà xem. Đấy, chị thấy khác không?” Vì tò mò, Ân
đưa tay ấn vào bụng Mật. Và một lúc sau Ân cũng hoảng hốt vì cảm thấy hình như trong
bụng Mật cũng không bình thường.
“Này... - Ân thì thào - Chồng đi vắng, hay mày trót dại...”
- “Chị bảo dại cái gì?...”
“Có thằng nào nó rủ rê mày không?”
“Không, làm gì có chuyện ấy. Có mà trôi sông”?
“Tôi phải trông nom cô - Ân nói - Có chuyện gì thì tôi và cô cứ là bỏ xóm bãi này mà lên
rừng đấy”.
Ân và Mật đều mồ côi cha mẹ. Và lớn lên lấy chồng, họ đưa nhau ra xóm bãi lập nghiệp.
Rồi một đêm hai người đàn ông của họ khăn gói theo một đơn vị bộ đội vượt sông Đáy về
phía núi Miếu Môn. Trước khi qua sông hai người đàn ông dặn: “Hai chị em dọn về mà ở với
nhau. Đến Tết, kháng chiến thành công chúng tôi về”. Từ ngày đó Mật dọn sang ở với Ân.
Họ sống như hai chị em ruột trong nhà. Và khi Tết đến, cả hai lại xuống bến rửa lá dong và
vo gạo. Má họ rực đỏ trong gió lạnh cuối đông. Tiếng cười họ trong trẻo và rạo rực vang
trên mặt sông mùa nước cạn yên tĩnh. Nhất là vào đêm luộc bánh, cả hai đều thấy hồi hộp
lạ lùng. Họ cảm thấy da thịt họ thấm đầy hơi lửa bếp. Khi bánh chín, họ chọn những chiếc
bánh đẹp nhất, chắc nhất để phần hai người đàn ông của họ. Nhưng những ngày Tết
thường vụt đi như tên bắn. Cánh bãi không còn tiếng pháo tép của trẻ con nữa. Và những
bầy sáo tháng Giêng đã loáng thoáng bay về. Ân và Mật mang những chiếc bánh đã khô lá
luộc lại. Cho đến khi ở đầu góc bánh đã lấm tấm mốc xanh thì họ không còn bình tĩnh chờ
đợi nữa. Cả hai cùng khóc. Đêm xuống, hai người đàn bà trẻ nằm xoay lưng vào nhau trên
giường lót rơm và giấu tiếng thở dài. “Chị ngủ à, chị Ân?” - Mật thường bắt đầu câu hỏi như
thế trong đêm. “Chưa”. Ân trả lời trong chăn. “Sao Tết năm nay các anh ấy lại không về
nhỉ?”. “Có giời mà biết - Ân giận dỗi - Chắc chiến dịch bận”. “Mai mình cứ luộc lại bánh chị
Ân ạ” - “Luộc mãi để thành cháo à. Bỏ ra mà ăn hết đi” - “Ăn làm sao hết những hai chục
cái”?
Sau những câu chuyện như vậy cả hai chị em lại chìm vào giấc ngủ lơ mơ. Thường sang
Giêng gió sông ấm hơn và đất bãi phả hương phù sa dễ chịu làm giấc ngủ của họ thường
có những cơn mơ. Trong mơ, Ân lại thấy con gà trống tía với chiếc mào đỏ rực, cái ức
rộng, và đôi cựa bóng như ngà mổ mổ vào ngón tay út của mình. Còn Mật vẫn cơn mơ vừa
hạnh phúc vừa lo sợ, chị thấy người lính trở về và ngay đêm đó Mật có mang. Và cứ tỉnh
giấc, Mật lại dè dặt đặt tay lên bụng. Rồi Mật mơ hồ lo lắng khi cảm thấy bụng mình khang
khác.
Rồi vào một ngày giáp Tết, chồng Ân đột ngột ghé qua nhà. Tiếng gõ cửa gấp gáp trong
đêm làm Mật choàng tỉnh. “Ai đấy? Ai đấy?” - Mật quýnh lên hỏi.
“Tôi đây. Bấc đây”.
“Giời ơi! - Mật lập cập kêu lên - Anh Bấc...”
Khi cánh cửa vừa mở thì người lính ùa vào ôm lấy Mật.
“Anh Bấc - Mật hoảng hốt - Mật đây. Em đây mà”.
Vòng tay người lính vội rời ra và buông thõng xuống.
“Ân đâu?”
“Chị Ân đi Kim Bôi sáng nay cùng mấy chị trong xóm, xem có lá dong rẻ hay quýt cam gì
đấy mua về bán chợ Tết. Em ở nhà trông nhà”.
“Bao giờ Ân về?”
“Có lẽ mai chị Ân về, thế bao giờ anh đi?”
Bấc đứng lặng không trả lời. Gió sông lạnh thổi xốc vào ngôi nhà tranh bé nhỏ.
“Vào nhà đi anh, để em đốt đống lửa cho ấm”.
Một lát sau ngọn lửa đã chui qua những cành củi khô và vươn lên.
“Em nấu cho anh bát cơm nhé?”
“Tôi ăn rồi. Liệu ngày mai Ân có về kịp không?”
“Chị ấy sẽ nóng ruột mà về. Sao các anh biệt tin lâu ngày thế? Nhà em ra sao rồi anh?”
Mật rụt rè hỏi và đợi câu trả lời.
“Sau ngày sang sông, chúng tôi cùng nhau ở một đơn vị được một tháng. Sau đó mỗi
người đi một đơn vị. Nghe đâu Ngữ đang ở Bắc Cạn. Ở nhà không nhận được tin gì của nó
à?”
“Không - Mật nói như khóc - Em và chị Ân Tết nào cũng mong các anh về. Năm nào hai
chị em cũng gói nhiều bánh...”.
“Mình sắp đánh lớn. Đơn vị tôi đang chuyển quân lên mặt trận Hòa Bình. Hai chị em ở
nhà có khỏe không?”
“Chúng em thế nào cũng chịu được. Chỉ lo cho các anh hòn đạn mũi tên. Sao anh về
chẳng tin cho chị Ân biết trước?”
“Đang kháng chiến mà cô cứ làm như...” - Người lính cười. Gió thổi mạnh hơn qua những
tàu chuối ngoài vườn. Sương như xuống dầm dề trên mái rạ. Ngọn lửa như ngái ngủ cháy lờ
đờ trên củi.
“Anh nghỉ một tí đi, kẻo mệt - Mật nói - Hết canh ba rồi”.
“Cô đi nằm đi. Tôi ngồi đây. Cũng sắp sáng rồi”.
Mật không trả lời. Chị ngồi im lặng nhìn những mẩu than nhấp nháy như những ngôi sao
mùa đông. Giá như đêm nay Ân ở nhà thì Ân hạnh phúc biết bao nhiêu. Và giá như người
lính kia là chồng chị. Nghĩ đến đó máu trong người chị dào lên chảy xiết. Chị thấy mặt mình
nóng rát. Chị nhớ đến cơn mơ thường gặp và chị muốn khóc. “Chúng em ở nhà khổ lắm Mật thổn thức - Giá như có mụn con thì đỡ khổ”.
“Sắp hòa bình rồi. Chúng tôi sẽ về cả thôi. Rồi không có sức mà đẻ”.
Người lính nói và cười vang. Mật cũng bật cười theo. Nước mắt chị giàn giụa. Ngọn lửa
cuối cùng đã chui vào đống than đỏ và ngủ vùi trong đó. Mật ngồi trong bóng tối, miệng lầm
rầm: “Chị Ân ơi về mau lên. Anh Bấc đang đợi, chị Ân ơi, mau lên”.
***
Cái gốc tre đã cháy hết, hai bà lão vẫn ngồi im lặng. Hai gương mặt sạm đen và nhăn
nheo như nằm bất động trên hai đầu gối xương xẩu. Một con chuột nhắt bé như hạt mít từ
góc bếp bò ra. Nó rón rén leo trên chiếc mâm gỗ. Rồi bất chợt nó nhảy phóc lên miệng bát
làm chiếc bát ăn cơm đổ kềnh.
- Bà ngủ rồi đấy à? - Bà lão Ân quay sang phía bà lão Mật hỏi.
- Ngủ đâu mà ngủ - Bà lão Mật mở mắt nói và lại nhai tiếp miếng trầu còn ngậm trong
miệng - Ăn miếng trầu thế mà say say.
- Chiều bà có che kỹ cái chuồng gà không?
- Che rồi. Tôi cho uống cả nước vôi trong. Sương thế này sợ rù mất mấy con gà.
- Mẹ Phấn nó bảo Tết năm nay đón hai cụ vào nhà nó ăn Tết. Nó bảo hai cụ sống ngoài
bãi như ma ấy.
- Ăn uống được gì đâu mà vào. Nó còn con cháu, khách khứa, thì giờ đâu mà hầu mình.
Thôi chết, tôi bỏ quên cái rổ có cái áo giặt dở lúc chiều.
- Bà lú lẫn hơn cả tôi - Bà lão Ân nói.
- Chiều đang giặt dở thì bà Mên tưới trên bãi gợi chuyện. Thế rồi cứ quên mà về. Tôi
phải xuống bến tôi lấy.
- Thôi mưa gió tối tăm thế này, đi rồi ngã ra đấy. Có cái rổ rách với cái áo nát, ma nó lấy.
Nhưng thấy bà lão Mật cứ khăng khăng đòi đi, bà lão Ân với lấy cái nón đưa cho bà lão
Mật và dặn: “Đi chầm chậm thôi, bà ạ”.
Trời đêm mênh mang. Bà lão Mật lom khom xuống bến. Bà đã đi không biết bao nhiêu
lần trên con đường này. Và con đường đã ăn sâu vào trí nhớ bà. Khi cắp rổ định quay về thì
có tiếng cá quẫy mạnh sát bờ. Một vật gì đó vô hình rơi vào ký ức bà tựa như cái quẫy của
đuôi cá. Và rồi những vòng sóng kỷ niệm cứ loang ra, loang mãi. Bà từ từ ngồi xuống nhìn
dòng sông trong đêm. Nơi đây, mấy chục năm về trước bà đã tiễn chồng theo bộ đội sang
sông. Và chính nơi đây, bà đã tiễn Bấc đi trong lần người lính ghé qua nhà không gặp vợ
mình.
***
Suốt cả ngày hôm ấy vẫn không thấy Ân về - Bao nhiêu kỷ niệm đều mờ đi theo tuổi tác,
nhưng những đêm như thế vẫn bám dai dẳng trong bà lão Mật - Hôm ấy, cứ thỉnh thoảng
Mật lại chạy lên mặt đê ngóng về phía xa. Buổi tối ăn cơm xong, Bấc nói: “Khuya tôi phải đi.
Mai Ân về bảo tôi vẫn khỏe”.
“Chỉ sáng mai là chị ấy về thôi - Mật nói như van - Tối mai anh hãy đi”.
“Không được đâu. Đêm nay tôi phải có mặt nơi đóng quân”.
Khoảng chín giờ tối thì Bấc lên đường. Mật tiễn Bấc xuống bến sông. Khi sát mép nước
Bấc quay lại. Anh đặt tay lên vai Mật. Những ngón tay người lính như bấu chặt vào vai chị.
Mật thấy rét run lên, hai hàm răng chị va vào nhau lập cập.
“Tôi đi nhé - Người lính thì thào - Hai chị em ở nhà thương nhau. Tôi và Ngữ sẽ về sớm”.
Bấc đi được một tiếng đồng hồ thì Ân về. Nghe tiếng Ân gọi cửa. Mật run bắn và òa
khóc. “Chị Ân ơi, anh Bấc về, Bấc về”.
“Đâu, đâu? Anh ấy đâu?... Đâu?”
“Anh ấy đi rồi. Anh Bấc ngồi chờ chị suốt cả đêm qua. Anh vừa sang sông”.
Bó lá dong lớn và sọt quít đồi đổ xuống như người ngã. “Anh ấy đi lâu chưa? - Ân hổn
hển - Anh ấy đi lối nào”.
“Anh Bấc lội qua bến nhà mình”. Vừa nói Mật vừa nắm tay Ân đi như chạy xuống bến.
Đến bờ sông, Ân giật tay chị ra khỏi bàn tay Mật và lội ào ào xuống nước.
“Chị ơi! Anh ấy đi xa rồi - Mật đứng trên bờ ôm ngực khóc gọi - Đừng sang sông nữa,
chị ơi”.
Mật ngồi thụp xuống bờ cát ướt lạnh và bưng mặt nức nở cho đến tận khi chị nghe tiếng
khỏa nước mệt mỏi vào bờ. Ân rét ướt nghiêng ngả bước lên bờ. Hai người đàn bà trẻ
đứng im lặng trước nhau. Rồi cả hai lao vào ôm lấy nhau nức nở. Gió sông như ấm hơn thổi
dạt dào qua bãi về phía chân đê. Và đâu đó thoảng mùi cỏ lên mầm hăng hăng.
Tết năm ấy, Ân và Mật vẫn lặng lẽ gói nhiều bánh. Nhưng Tết năm ấy, cả hai người lính
của họ vẫn không về. Sang Giêng, hai người đàn bà mấy lần mang bánh luộc lại và mấy lần
nhìn nhau khóc.
Mấy năm sau ngày hòa bình lập lại. Mật nhận được giấy báo tử chồng. Nhưng Tết đến
họ vẫn gói nhiều bánh. Trong mơ chị vẫn thấy người lính trở về. Và tỉnh giấc vẫn rụt rè đặt
tay lên bụng mình và thấy khang khác. Nhiều lần Ân khuyên Mật nhận lời lấy một người đàn
ông nào đó. Những lần như thế, Mật chỉ nở một nụ cười xa xăm và ngơ ngác như nụ cười
của một người vừa thức dậy trong giấc ngủ trưa. Và sau đó thì Mật nói với Ân: “Bao giờ
anh Bấc về với chị thì em đi lấy chồng”.
***
Đợi lâu không thấy bà lão Mật về, bà lão Ân sốt ruột ra đầu ngõ hướng xuống sông gọi:
- Bà Mật ơi! Bà Mật.
- Tôi về đây.
- Đã bảo đêm hôm rồi còn mò xuống - Bà lão Ân cằn nhằn - Già rồi còn thích làm tội
thân, tội mình.
Nói vậy nhưng bà lão Ân vẫn đứng lại đợi cho đến khi bà lão Mật lên đến đầu ngõ.
- Vào đi ngủ thôi bà ạ - Bà lão Ân nói - Tôi đau hết cả lưng rồi.
Gian nhà nhỏ trong đêm như rộng mênh mông. Hai bà lão nằm quay lưng vào nhau và
thỉnh thoảng lại khúc khắc ho.
- Bà vẫn nhai trầu đấy à? - Bà lão Ân hỏi.
- Tôi nhai cho hết kẻo phí.
- Nhai thế mà không mỏi mồm.
Đâu đó trên mái nhà có tiếng chuột đuổi nhau rinh rích. Và từ cỗ áo quan có tiếng mọt
nghiến gỗ trèo trẹo.
- Bà có cầm bao diêm đấy không? - Bà lão Ân hỏi.
- Có, làm gì nữa bây giờ?
- Tôi xem con mọt. Có khi lúc mình chết thì mọt cũng cắn nát cỗ áo ra rồi.
- Nó nằm trong gỗ chứ nó lại chui ra cho bà xem.
Nói vậy nhưng bà lão Mật vẫn lấy bao diêm đưa cho bà lão Ân. Bà lão Ân bật diêm châm
đèn soi cỗ áo quan. Bà nghiêng đầu nghe ngóng một lúc rồi lấy tay đập đập vào cỗ áo.
Tiếng mọt chợt im bặt. Bà đứng bên cỗ áo quan cho đến khi yên tâm là con mọt không còn
dám cắn nữa thì mới tắt đèn lên giường.
Gần sáng, những ngọn gió cuối đông tuy còn lạnh nhưng đã chơm chớm xuân thổi rạo
rực qua ngôi nhà của hai bà lão. Và bà lão Mật lại mơ thấy người lính trở về. Nhưng khi
nhìn rõ mặt thì bà nhận ra không phải Ngữ mà là Bấc.
***
Vào đầu năm 1960, Ân nhận được thư Bấc gửi về, trong thư anh nói đang đóng quân ở
Quảng Bình bên cạnh một dòng sông đẹp như sông Đáy quê anh.
“Chị Ân ơi - Mật cuống quít - Chị đi vào tìm anh ấy đi. Đi ngay đi. Mọi việc đồng áng cứ
để em”.
Suốt mấy ngày sau đó, cứ chốc chốc Ân lại mang thư chồng ra đọc và khóc. Cuối cùng
chị quyết định khăn gói đi thăm chồng. Nhưng cuộc đời thật trớ trêu. Ân đi được dăm ngày,
thì Bấc về.
“Anh Bấc, anh gặp chị Ân không? - Mật hốt hoảng hỏi khi chị linh cảm thấy điều không
bình thường - Chị Ân vào Quảng Bình tìm anh rồi”.
“Tìm tôi hả? Đi bao giờ?”
“Chị Ân đi được dăm ngày rồi”.
Nghe Mật nói, Bấc đứng chết lặng. Mãi sau anh mới nói:
“Người lính nay đây mai đó, tìm sao được”.
“Anh Bấc ơi, lần này anh phải ở nhà chờ chị ấy - Mật nói và khóc - Em không cho anh đi
đâu cả. Anh Bấc ơi! Anh Ngữ hy sinh rồi”.
“Ngữ hy sinh rồi ư! Hy sinh bao giờ? Ở đâu?”.
“Có giấy báo tử rồi anh ạ. Hơn ba năm rồi”.
Đêm ấy Bấc nói với Mật:
“Sáng sớm mai tôi phải đi rồi. Lần này đi rất xa và có lẽ lâu lắm”.
“Không. Anh phải ở nhà chờ chị ấy về rồi đi đâu thì đi. Nếu không chị ấy chết mất.”
“Không làm sao khác được Mật ạ. Tôi phải đi.”
Khoảng canh tư thì Bấc khoác ba lô lên đường. Mật tiễn Bấc lên đến mặt đê. Bỗng Mật
ôm lấy Bấc và khóc nấc lên: “Anh Bấc ơi! Em thương chị Ân quá. Em thương anh hu... hu...
và thương cả cái thân em nữa. Nếu anh Ngữ về được một lần thì em đỡ khổ, đỡ ân hận
biết bao. Anh Bấc ơi, sao em không phải là chị Ân, sao anh không phải là anh Ngữ, hả anh?
hu... hu...”.
Bấc không nói được gì. Anh ghì Mật vào lòng. Cả hai người run lên. Mật vội đẩy Bấc ra
và vội vã nói:
“Anh đi đi, anh Bấc, anh đi đi”.
Nói xong, Mật chạy nhào xuống chân đê. Chị vừa chạy, vừa ngã và nức nở gọi tên Ân và
tên chồng chị.
***
Rồi Bấc cũng không trở về. Khi Ân và Mật vừa bước qua tuổi bốn mươi, hai người đàn
bà thường xuống bến sông ngồi khóc. Và Tết lại đến, những ngọn gió chớm xuân thổi đầm
ấm và rạo rực qua ngôi nhà của họ suốt đêm. Và những ngày giáp Tết là những lúc họ
thường mơ nhiều hơn. Trong mơ có tiếng gà gáy và tiếng gõ cửa gấp gáp, có ngan ngát
mùi lá dong xanh và hương ấm đậm của gạo nếp đã vo sạch. Họ vẫn ở lại ngoài bãi sông,
mặc dù những gia đình khác đã dọn vào làng theo quy hoạch của chính quyền xã và để
tránh những năm nước sông lên to. Có một điều gì đó thiêng liêng và đau khổ đã gắn chặt
họ với ngôi nhà nhỏ và bến sông này.
- Này, bà Mật! Bà Mật, ngủ mê đấy à? - Bà lão Ân lay gọi bà lão Mật - Kêu gì mà khiếp
thế.
- Tôi ngủ... mê à? - Bà lão Mật ú ớ hỏi - Sáng chưa bà?
- Còn chán.
- Bà cho tôi mượn bao diêm - bà lão Mật ngồi dậy nói.
Bà lão Mật lục đục tìm đèn và bật diêm. Ngọn đèn dầu tỏa một quầng sáng vàng ấm
trong nhà.
- Bà dậy mà đi.
- Không.
- Già thì phải chịu khó mà đi. Không nhỡ ra quần, ra áo khai lắm.
- Ôi giời! - Bà lão Ân cựa mình và chép miệng - Bệnh già nó thế, ai mà muốn.
Khi gà trong xóm bên kia chân đê thi nhau gáy ran thì hai bà lão lại tỉnh giấc. Bà lão Mật
lại nhóp nhép nhai cái bã trầu vẫn ngậm trong miệng khi ngủ.
- Thế bà định Tết này gói bao cái bánh? - Bà lão Mật hỏi.
- Cứ bảo mẹ Phấn nó mua cho đủ lá gói ba chục cái. Mình thì ăn là mấy, nhưng nhỡ có ai
về...
Nghe bà lão Ân nói vậy, bà lão Mật ngừng nhai trầu và hơi nghiêng đầu về phía bà lão Ân
như định hỏi điều gì đó. Nhưng bà lại thôi.
Và bên ngoài, những ngọn gió sông đã chơm chớm xuân vẫn rạo rực thổi qua ngôi nhà
nhỏ.
Chiếc lông chim màu đỏ
Thường vào lúc những cơn mưa tháng Giêng bay mờ trắng và ấm áp, thì bầy chim
đi tránh rét từ mùa đông trở về. Cả bãi vải rộng và chạy dài gần một cây số dọc triền sông
quê Ngần trở thành nơi nghỉ cánh của bầy chim. Không hiểu vì sao bầy chim di cư lại chọn
bãi ấy làm nơi nghỉ trước khi bay chặng cuối cùng về một vùng đất ngập nước cách làng
Ngần khoảng 50 cây số. Chúng sống trên vùng đất ngập nước ấy từ mùa xuân cho đến đầu
đông. Suốt thời gian ấy, chúng kiếm ăn và sinh nở. Bầy chim bay về những vùng ấm áp ở
phương Nam theo một đường khác. Khi trở về, chúng chọn một đường khác và nghỉ tại bãi
vải vào giữa chiều. Người làng chạy ra mặt đê xem chim về. Bà nội Ngần kể: Ngày trước,
có mùa chim về nhiều quá, bãi vải không đủ chỗ cho chúng, bầy chim đậu tràn vào những
khu vườn trong làng, nghỉ lại đúng một đêm, và mờ sáng hôm sau lại bay đi. Cả làng như
thức giấc bởi tiếng đập cánh ngờm ngợp của bầy chim. Chúng bay cắt ngang qua làng và
cất tiếng kêu trong như tiếng sáo trúc. Bà nội Ngần bảo, đó là lời cảm ơn của chim. Những
buổi sáng như vậy, Ngần dậy sớm. Cô chạy ra sân, ra ngõ và đường làng để nhặt những
chiếc lông chim rụng.
“Tại sao bầy chim chỉ ở lại bãi vải làng mình có một đêm hở bà?”. Ngày còn bé, Ngần hỏi
bà nội như thế. Và bà nội kể câu chuyện về bầy chim do cụ nội Ngần kể lại.
Từ thuở xa xưa bầy chim di cư đã chọn đường bay trở về qua vùng đất bãi quê Ngần.
Chúng chỉ bay qua chứ không nghỉ lại bãi vải. Nhưng một buổi chiều, người làng thấy bầy
chim đỗ xuống bãi vải. Thấy lạ, cả làng đổ ra xem. Trên ngọn của một cây vải to nhất, cao
nhất, bầy chim lượn thành hình tròn như một dải mây khổng lồ. Gió từ cánh của bầy chim
quạt rào rào vào những vòm lá vải. Chúng vừa bay vừa kêu thảm thiết. Trên tán lá dày nơi
ngọn cây, một con chim lớn nằm xõa cánh. Đấy chính là con chim chúa. Trong chặng bay
cuối về vùng đất ngập nước, con chim chúa đã hạ cánh xuống bãi vải. Nó biết nó không còn
đập cánh được nữa. Và nó chọn bãi vải quê Ngần làm nơi yên nghỉ. Đàn chim bứt những
chùm hoa vải phủ kín lên con chim chúa. Đêm ấy bầy chim ở lại bãi vải. Và sáng sớm hôm
sau thì chúng bay đi.
Sau khi bầy chim ra đi, dân làng đổ ra bãi vải và mang xác chim chúa xuống. Con chim
chúa to hơn những con chim khác. Đặc biệt, nó có một đôi cựa như một đôi ngà voi nhỏ xíu
và một chiếc lông đỏ trên đỉnh đầu. Dân làng chôn con chim dưới gốc cây to nhất, cao nhất
và hương khói như đối với một con người. Lạ thay, năm ấy làng được mùa vải chưa từng
có. Hình như bông hoa nào cũng đậu quả, và vải quê Ngần là giống vải to và hơi chua, bỗng
trở nên ngọt và thơm lạ thường. Cho đến bây giờ, ngoài giống vải thiều ra, không có loại vải
nào ngọt như vải quê Ngần cả.
Và từ đó, làng Ngần đã chọn ngày 13 tháng Giêng làm ngày hội làng, hội thi cây cảnh.
Những cây cối được uốn, cắt tỉa thành hình con chim, có cái lông đỏ trên đỉnh đầu. Buổi
sáng người làng đổ ra mặt đê thắp hương và đợi chim về. Sáng sớm hôm sau, khi bầy chim
đã ra đi, người làng ra bãi vải nhặt những chiếc lông chim rụng. Nếu ai nhặt được chiếc lông
chim màu đỏ thì sẽ gặp phước lành. Người già nhặt được thì sẽ không bệnh tật và sống
đến tận trăm tuổi. Trẻ con nhặt được thì ngoan ngoãn, thông minh. Con trai nhặt được thì
sẽ khỏe mạnh, tài trí, làm ăn phát đạt. Và con gái nhặt được thì mỗi ngày một đẹp, một
thảo hiền và sẽ lấy được người mình mong ước. Nhưng mỗi lần chim về, trong hàng ngàn
chiếc lông chim rụng, chỉ có một chiếc màu đỏ.
Sau khi nghe bà kể, năm nào cũng vậy, đêm trước ngày hội làng. Ngần hầu như chẳng
ngủ được vì thấp thỏm. Nhưng cho tới bây giờ. Ngần vẫn chưa nhìn thấy chiếc lông chim ấy.
Bởi thế mà Ngần vẫn chỉ ru rú ở nhà với bà. Đám trai làng hầu như chẳng để ý đến cô. Nếu
có chàng nào nói chuyện với cô thì cũng chỉ là những câu đùa cho vui mà thôi. Ngay cả khi
ở tuổi 17, Ngần vẫn chỉ như một cô bé lên mười.
Đã có một thời gian dài, có lẽ cũng phải mười lăm năm bầy chim không trở về bãi vải.
Vào một đêm trong chiến tranh, đúng cái đêm mà bầy chim nghỉ lại bãi vải thì bị bom đánh.
Hàng chục quả bom đã ném xuống bãi vải. Sáng sớm hôm sau, người làng chạy ra bãi vải.
Một cảnh tượng đau lòng hiện ra. Bãi vải xơ xác, cây đổ ngổn ngang. Trên mặt đất, rụng kín
hoa vải và la liệt xác chim. Người làng nhìn cây đổ, hoa rụng và chim chết mà nước mắt
ròng ròng. Sau đêm ấy, bầy chim di cư không thấy bay về nữa.
Vào những ngày đầu Giêng, Ngần vẫn đôi lúc tha thẩn dọc bãi vải. Chính ở đó Ngần đã
gặp Thư. Đó là một buổi chiều cách đây bốn năm. Họ đã làm quen và Thư hỏi:
- Cô có biết bầy chim di cư không?
Ngần đã kể cho Thư nghe về bầy chim ấy, cả câu chuyện về con chim chúa và cái lông
chim màu đỏ.
- Cô đã nhặt được chiếc lông chim ấy chưa?
Ngần buột miệng:
- Chưa. Năm nào em cũng tìm.
Nói xong. Ngần đỏ mặt và vội bỏ đi.
Hôm sau, một cán bộ xã đưa Thư đến nhà Ngần. Lúc đó cô biết Thư là một người nghiên
cứu về những bầy chim di cư. Thư đến để được nghe bà nội Ngần kể về bầy chim.
- Tôi đang đi tìm bầy chim ấy - Thư nói.
- Bầy chim nào? - Ngần hỏi.
- Bầy chim trước kia đậu lại làng mình một đêm ấy.
- Chúng nó ở tận trên trời, làm sao anh tìm thấy chúng.
- Tôi tìm thấy chúng rồi.
- Ở đâu hở anh? Chúng ở đâu?
- Chúng đã về bãi ven sông, nhưng không như ngày xưa, chỉ có vài chục con thôi.
Thư đưa Ngần ra bãi vải. Anh chỉ cho Ngần thấy một hai chiếc lông chim. Rồi cả làng xôn
xao lên sau buổi Thư nói chuyện ở đình làng về bầy chim, rằng chỉ một vài năm nữa, bầy
chim sẽ lại về. Những ngày sau đó, có những buổi Ngần và Thư lang thang dọc bãi vải cho
đến tối. Thư nói với Ngần:
- Chúng sẽ trở về. Bầy chim biết rõ chúng sẽ phải bay theo nguồn gió nào và hạ cánh ở
đâu.
Vào mùa xuân năm nay, Thư lại lỉnh kỉnh đồ đạc về làng Ngần từ mồng 5 Tết. Suốt ngày
Thư ở trên đê nhìn trời. Thi thoảng anh qua sông và đạp xe vào sát chân núi Mối. Mỗi khi
trở về, mặt Thư tím đi vì gió lạnh. Ngần thường đun một ấm nước nóng cho Thư rửa mặt.
- Anh có thấy chúng về không? - Lần nào thấy Thư dắt xe đạp từ ngõ vào sân. Ngần
cũng hỏi như thế.
- Chưa thấy gì - Thư đáp - Nhưng tôi tin năm nay chúng sẽ về đông hơn...
Thư bỏ lửng câu nói và im lặng nhìn Ngần.
Một buổi tối. Thư ở lại nhà Ngần rất khuya. Hai người ngồi nói chuyện với nhau bên bếp
lửa.
- Đúng là những con chim này có một chiếc lông đỏ phải không anh? - Ngần hỏi.
- Tôi tin là có. - Thư nói - Tôi... anh, cũng muốn nhặt được chiếc lông chim màu đỏ.
- Để làm gì?
- Để thực hiện được ước mơ của anh.
Câu ấy, Thư như nói bằng hơi thở. Và sau câu nói ấy, cả hai người im lặng cho đến lúc
Thư đứng dậy. Khi hai người bước ra sân, Thư chợt kêu lên:
- Mưa ấm quá!
Hai người đứng ở sân và cùng ngửa mặt lên bầu trời tháng Giêng tối thẫm. Mưa tháng
Giêng từ xa thẳm đang thì thầm phả vào mặt họ. Cả hai thấy ấm rực lên như đang ngồi bên
bếp lửa.
- Mưa ấm quá! - Thư nói như reo khẽ. - Mưa ấm thế này là bầy chim sẽ về!
Nói xong, Thư nắm lấy bàn tay Ngần. Và họ nhận ra hai bàn tay họ cũng đang ấm rực.
Sau khoảnh khắc bàng hoàng đi qua, Ngần vội rút tay mình ra khỏi tay Thư.
- Anh về đi, khuya rồi! - Ngần nói vội vã.
- Ngần! - Thư khẽ thảng thốt.
Ngần bước lên hiên nhà. Cô đứng nép vào cột hiên. Chưa bao giờ cô lại thở như thế. Khi
biết Thư đã đi xa, và khi hơi thở dần trở lại đều đều, Ngần đẩy cửa vào nhà. Cô bước lại
bên giường bà nội và nói:
- Bà ơi, bà ngủ chưa? Cháu đốt cho bà chậu lửa nhé!
- Bố cô! - Bà nội Ngần mắng yêu. - Chờ được cô đốt lửa cho thì tôi đã chết cóng rồi!
Ngần cười khúc khích và chui vào màn. Cô ôm lấy bà nội.
- Bà ơi, mưa ấm lắm. Mưa ấm như thế bầy chim sẽ về.
- Ai bảo thế? - Bà nội hỏi.
- Anh Thư nói thế bà ạ!
- Thằng Thư à - Bà nội nói - Cháu ạ, bà bảo nhé, con gái mà da khô, tóc cứng và nóng
như cháu thì đường tình duyên khổ lắm. Đứa nào nó yêu cháu thật thì nó phải là người chân
thành lắm.
Đêm ấy, Ngần thao thức mãi không ngủ được. Tiếng Thư gọi Ngần lúc ở sân làm cho cô
thấy chóng mặt. Chưa ai gọi Ngần với giọng như thế bao giờ.
Đúng chiều ngày 13 tháng Giêng năm ấy. Ngần theo Thư ra đê. Mưa xuân bay mờ cả
triền sông. Vải đang trổ hoa. Họ đứng im lặng nhìn về phía trời xa. Bầy chim trở về thật,
chừng vài chục con từ từ đậu xuống ngọn cây vải cao nhất. Thư nắm tay Ngần chạy xuống
chân đê. Cả hai rón rén đến dưới gốc vải và nhìn lên. Bầy chim đậu sát bên nhau và khẽ
kêu lên, tiếng trong như tiếng sáo trúc. Thư say sưa ngắm nhìn bầy chim cho đến khi trời
đổ tối. Thư dắt tay Ngần đi lên mặt đê. Ngần để yên tay mình trong tay Thư. Lên đến mặt
đê, Thư vừa thở vừa nói:
- Anh dự báo đúng. Bầy chim đã trở về rồi, Ngần ơi!
Nói xong Thư ôm choàng Ngần, Ngần gục đầu vào vai Thư. Cô thấy tim mình đập vang
tận đỉnh đầu.
Sáng sớm hôm sau bầy chim rời bãi vải bay đi, Ngần lén ra bãi vải. Cô vừa hồi hộp vừa
ngập ngừng tìm dưới gốc cây vải xem có chiếc lông chim màu đỏ không. Dù trong lòng cô
nghĩ chiếc lông chim màu đỏ có lẽ chỉ là chuyện cổ tích. Nhưng khi không tìm thấy chiếc
lông chim ấy thì lòng Ngần dâng lên một nỗi lo âu mơ hồ. Và rồi, cô buồn hết cả tháng
Giêng.
Bầy chim đi được mấy ngày thì Thư cũng ra đi. Anh phải trở về vùng đất ngập nước
cùng các đồng nghiệp tiếp tục công việc của mình. Đêm ấy, trong bếp lửa nhà Ngần, nghe
Thư thổ lộ tình yêu của anh, Ngần đã khóc. Lời tỏ tình mà Ngần đã chờ đợi bao năm tháng
lại làm cho Ngần hoảng sợ và đau khổ. Nếu Ngần tin rằng mình xinh đẹp như các cô gái
khác, cô đã chạy ùa đến đón nhận tình yêu của Thư.
- Làm sao em khóc? - Thư hỏi.
Ngần không thể nói cho Thư biết vì sao cô khóc. Cô ngước mắt nhìn Thư. Cô nhìn thấy
đôi mắt Thư đang nhìn cô đắm đuối và ấm áp vô cùng. Lúc đó, Ngần muốn gào lên với Thư
rằng: “Tại sao anh có thể nhìn gương mặt xấu xí của em đắm đuối như thế kia được”.
Nhưng Ngần không thốt lên được. Cô chỉ biết khóc. Thư kéo đầu Ngần vùi vào ngực mình.
Anh vuốt ve mái tóc Ngần. Lúc đó, Ngần cảm thấy mái tóc mình khô giòn và khét đắng. Đến
khi Thư vuốt ve bàn tay Ngần thì Ngần vùng khỏi vòng tay Thư và nghẹn ngào:
- Tại sao em lại không nhặt được chiếc lông chim màu đỏ?
Câu hỏi của Ngần vừa tủi thân, vừa oán hận. Thư nhìn Ngần và nhận ra tất cả. Anh thì
thào:
- Em sẽ nhặt được, chắc chắn là nhặt được.
Nửa tháng sau ngày Thư đi, Ngần nhận được thư anh. Thư say sưa kể cho Ngần nghe
về những bầy chim di cư trở về trong những ngày xuân ấm áp. Ngần thấy hạnh phúc và nhớ
Thư vô hạn. Đêm ấy, cô đọc thư của anh bao nhiêu lần cũng không thấy chán. Nhưng khi cô
lấy chiếc gương ra soi thì cô lại gục đầu mệt mỏi. Cô luôn luôn cảm thấy da cô khô và sạm,
tóc cứng và khét, mắt cô hơi xếch, đôi môi cô có những vết rộp. Nhưng sao anh ấy lại yêu
mình? - Cô thầm hỏi. Hay anh ấy chỉ yêu bầy chim thôi? Ngần nhận được thư của Thư,
nhưng cô không viết lại cho anh.
Thư viết cho Ngần mỗi lúc một thưa và bặt hẳn. Lá thư nào, Thư cũng xin được cưới
Ngần và mong câu trả lời của Ngần. Nhưng Ngần đã im lặng suốt cả một năm. Những lúc
thấy Ngần thẫn thờ, bà nội lại bảo: “Bà biết cháu chờ nó. Nhưng cháu ơi, người ta khác
mình lắm. Xem có đứa nào trong làng tốt bụng hỏi thì lấy. Tuổi cháu đứng rồi, đừng viển
vông, trong nhà, bà lo và thương nhất mày. Nếu xinh đẹp như người ta thì lại đi một nhẽ,
đằng này... Thôi, ông trời cho thế nào thì được thế, cháu ạ”.
Năm ấy, bầy chim di cư trở về đông lắm, có tới hàng tră...
 





