Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn
dong-rac-cu-tron-bo

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 07h:20' 16-03-2024
Dung lượng: 13.7 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 07h:20' 16-03-2024
Dung lượng: 13.7 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
TẬP MỘT
§1. Một ngôi nhà của một người
§2. Con bò lạc
§3. Cu-li cút-kít
§4. Ma-ri
§5. Lại một nghề nữa không có ghi ở trong lòng minh tinh
§6. Mặc cả với con cái của một người đã dày công tu nhân tích
đức
§7. Một cuộc diễn kịch: ngoài sân khấu và trong hậu trường
§8. Tin bất thường
§9. Những mặt bất thường
§10. Việc bất thường
§11. Vỡ lòng
TẬP HAI
§1. Một gia đình Hà Nội
§2. Gió lọt
§3. Xuống chó
§4. Anh hùng mạt lộ
§5. Một bậc thầy
§6. Lại một bậc thầy
§7. Động rừng
§8. TYL
§9. Bồi dưỡng tư tưởng
§10. Nỗi lòng
§11. Một việc đã rồi
§12. Nhà con...
§13. Chồng chị, chồng tôi
§14. Thưa rằng
§15. Em với chị
§16. Cha mẹ với con
§17. Bệnh viện với bệnh nhân
§18. Tôn giáo với kẻ có tội
§19. Khoa học với sự sống chết
§20. Sở Mật thám với những việc phải thám
§21. Thần Công lý với người chết oan
§22. Để kết thúc
TẬP BA
§1. Bà Hàn và ông Hàn
§2. Mười năm về trước
§3. Hàng về
§4. Một con ma còn sống
§5. Cha ốm nặng về ngay
§6. Đường danh
§7. Thử lửa
§8. Chuyến tàu vét
§9. Những cái thối cứu được cái thơm
§10. Quen mui thấy mùi đánh mãi
§11. Anh Xi
§12. Thế thì ai là kẻ có tội
§13. Vợ con
§14. Khi gương đã soi
TẬP BỐN
§1. Vấn đề đồn điền
§2. Xuy-dan
§3. Một người quản lý tốt nhất
§4. Nợ nước thù nhà
§5. Đầu voi đuôi chuột
§6. Cuộc giao tranh
§7. Trận quyết liệt
§8. Khao thất bại
§9. Những ngày đầu trong cuộc kinh doanh
§10. Mại bản cậu
§11. Người học trò đắc đạo
§12. Để được giáp riêng mặt rồng
§13. Cuộc cạnh tranh
§14. Tai bay vạ gió
§15. Vinh dự cái con rồng
§16. Giá bà cụ còn sống
§17. Chiếc xe xuống dốc
§18. Dốc còn sâu
§19. Một cuộc gặp gỡ tình cờ
§20. Để đi cho nhẹ nhàng
§21. Trong những giờ phút sắp lên tiên
CHÚ THÍCH
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
I
MỘT NGÔI NHÀ CỦA MỘT NGƯỜI
N
gôi nhà này bè bè, thô thô như một anh chàng to ngang mà
lùn. Đó là tại khi xây dựng, không có kiểu vẽ trước? Hay tại
toán thợ nề quê mùa nào đó, muốn khoe là tay cừ mỹ thuật? Họ
đem nhồi nhét, trộn hổ lốn vào trong tác phẩm cỏn con này tất
cả những cái họ đã nhìn qua loa thấy ở nhà kiểu Tàu, ở nhà kiểu
Tây làm theo thời trung cổ, thời hiện đại? Hay tại tiền khoán nhà
thì to mà tài thợ thì nhỏ? Cho nên để nuốt món đó cho khỏi hóc,
họ đành liều lĩnh, phóng tay làm cho cái nhà trở thành không ra
lối lăng gì.
Thôi mặc kệ. Ta tìm hiểu làm gì cái điều không lợi cho ta ấy?
Nhà này dù đẹp, dù khéo, dù xinh, hay lố lăng, kệch cỡm, lòe loẹt,
thì nó cũng là một sự kiện đã rồi.
Nhà có hai tầng. Tầng gác dẹt đen đét như bụng người nhịn
đói. Vì ở phía trước, có chừa ra một cái sân rộng. Ở hai tường hai
bên, trên bộ của chóp sơn xanh, có đắp một cái gờ dài. Gờ là mặt
hổ phù dang hai chân trước. Mặt hổ phù có đủ cả mắt, mũi,
miệng, răng, râu. Chân hổ phù có năm móng cong và nhọn. Mặt,
mũi, miệng, răng, râu và móng, đều bôi đen, vàng, đỏ, nâu,
trắng, tím. Mình hổ phù trổ vây mặt nguyệt, nhỏ li ti, mỗi mặt
nguyệt tô một màu sặc sỡ khác nhau. Xin nói thêm, cửa đây là
cửa chớp giả, mà ngay thời Dân chủ cộng hòa này, ta còn trông
thấy ở nhiều nhà trong thị xã Hải Dương. Không mở được vì nó
đắp bằng vữa. Nhưng ở cửa chớp thật bằng gỗ, hàng răng lắp vào
khung thế nào, thì ở cửa chớp giả này, cũng y hệt như thế. Lại có
đủ cả từng ấy chiếc bản lề, cũng đắp bằng vữa, nhuộm đúng màu
sắt. Phía trước mặt tầng dưới, dưới ba cái mái cong, nổi lên
những dòng ngói ống kiểu tàu sơn tím, có ba cửa tò vò, nhưng lại
xây bịt kín. Lèo cửa bộ giữa chạy nho sóc, hai bộ bên chạy qua
điệp. Để lên gác, một cái thang cuốn xây áp vào tường, gồm
chừng hai chục bậc. Thang có mái, là một con rồng uốn tròn,
đứng bằng mười chân, dính vào bậc, tức là tay vịn. Ba mặt sân
gác có ba hàng bao lơn, mỗi cái bao lơn nặn hình con tiện, mỗi
con tiện sơn một màu khác nhau. Ở một góc sân gác, dựng một
cái giàn xây, với hàng xà ngang xi-măng xếp đều tăm tắp, như
kiểu giàn dây leo ở công viên các thành phố. Mái gác trát nhân
bằng vữa màu gạch. Trên đường bờ chính giữa, gắn một chiếc
đồng hồ giả, kim ngắn chỉ thẳng lên con số 12, nhưng kim dài
nằm ngang với con số 3. Những con số đều viết chữ La-mã. Trên
đỉnh đồng hồ, có nhoi lên cái cổ nậm rượu, dưới thắt cổ bồng,
trên phình ra, rồi thon dần. Dọc đường bờ, bên phải và bên trái
cái đồng hồ, đi bát tiên bằng xi-măng. Và ở hai đầu, hai con
phượng ngậm cuốn thư, uốn quặt cái đuôi lại.
Phía mặt gác trông ra sân, có ba bộ cửa. Hai bên tả hữu, là lối
cửa bức bàn, cánh nào phần trên cũng là đường triện triết chi lá
giát, và phần dưới, bịt kín, trổ bốn thứ cây mai, lan, cúc, trúc. Tôi
quên không nói là nhà này không làm bằng tí gỗ nào, dù là các
cánh cửa, toàn là xi-măng và vữa thôi. Chỉ trừ có cái cửa giữa gác,
vì cần cho ánh sáng lọt vào trong, nên là kính. Cả một mặt kính
lắp sau bức diềm y môn vữa màu đỏ. Tuy mưa nắng lâu ngày đã
làm kính hơi mờ đi, nhưng ở ngoài trông vào vẫn rõ. Rõ là rỗng
trơ. Trên sàn, không bày bàn ghế, tủ sập. Và trên tường, không
treo hoành phi, câu đối. Chỉ có mỗi một cái. Cái này là tấm
truyền thần bán thân một người bằng sơn màu. Tấm truyền
thần dựng kín cả mặt tường hậu. Xin mở một dấu ngoặc để than
thở vài câu về cái công trình thuộc về mỹ thuật này. Nhất định
tấm truyền thân đây không phải là vẽ. Thời này, muốn truyền ai,
nhất là những người giàu, thích hệt ảnh màu, thì mấy ông thợ vẽ
lười vẽ đã phát minh ra một cách làm việc, vừa đỡ tốn công, vừa
giống in như ảnh. Có gì đâu. Các ông nhận ảnh của khách hàng,
đem chụp lại vào kính, rồi phóng cho to ra. Quần áo và các thứ
trang trí, ai muốn thế nào, các ông cho được như thế tuốt. Vì đã
có sẵn những mẫu cũ. Chỉ cần khách trả một món tiền ngang với
giá trị những thứ làm tăng giá trị con người vẽ. Còn cái mặt,
đáng lẽ truyền khó và lâu nhất mới giống thì các ông có ở ảnh
rồi. Chỉ còn việc lấy thuốc màu, tô cho nước da hồng, cho đôi môi
đỏ. Rồi phết một lượt quang dầu lên trên. Thế là chu. Giống ảnh
không chê được! Và bền cố hỉ!
Bức truyền thần bày trong nhà này là chân dung một ông.
Thường thì các ông đi mượn vẽ hay bắt bẻ người thợ vẽ đã vẽ
không giống mình trong ảnh mà mình thuê phóng, chứ không
bao giờ quan tâm đến việc ảnh có giống mình hiện tại, tức là lúc
mình đến đưa nó cho người ta vẽ hay không. Bởi vì bao giờ các
ông cũng chọn cái ảnh đã chụp bất cứ vào năm nào, miễn là nó
đẹp nhất. Nghĩa là nó phải đáp ứng đủ ba tiêu chuẩn: mặt mũi
trắng béo, quần áo bảnh chọe, và đáng điệu oai vệ. Nếu khi chụp,
người thợ ảnh đã có thói quen về một thứ mỹ thuật nào đó, biết
xóa hết trong kính đã rửa những nét nhăn nheo trên mặt, để khi
in ra giấy, cái mặt ấy được chỉnh lý, cải biên nhiều nhiều, cho
xinh đẹp nhiều nhiều, thì khi ngắm ảnh, khách hàng càng khen
nhiều nhiều.
Cái ông trong tấm truyền thần này, mặt ngửa lên. Rõ rằng là
người tự hào hơn cả một người có cái gì đáng tự hào. Vẻ mặt tự
hào của ông này lại đi đến mức độ có thể gọi là vênh váo. Ông ta
đã dùng một vật trang trí nhân tạo, làm cảnh cho đôi mắt, để
mình được ngờ là học giả. Đó là cặp kính trắng tròn, lớn, gọng đồi
mồi. Ria ông ta cũng làm cảnh cho miệng ông. Vật trang trí này
tuy thiên nhiên, nhưng không khỏi không được đặt vào đó công
lao động sáng tạo. Nó đen nhánh, hai bên đối nhau. Đầu ria
hướng phía nhân trung thì rậm và to, nhưng đuôi ria quẫy ra
phía cạnh mép thì cắt nhọn hoắt và uốn vểnh lên. Thuở này, gọi
kiểu râu này là râu Tây, dù nó mọc trên môi bất cứ người nước
nào. Đáng lẽ một nạm râu chổi sể còn phải đâm thẳng từ cằm
ông ta xuống nữa mới hợp lý. Nhưng Tây cạo nó đi, thì ông ta
cũng cạo nó đi. Cho nên đôi môi mỏng và cái cằm lẹm của ông, vì
phải theo thời, mà không được ngụy trang. Tóc ông ta cũng đen
như râu. Rẽ giữa. Hai bên chải lật hai múi, gồ và cong như hai cái
cổng tò vò.
Tóm lại, ông này, mặt phình và nhẵn như mặt một cậu con
trai, nhưng lại lạc vào đó hai con nong nóc ở trên mép. Khó lòng
mà đoán được ông ta bao nhiêu tuổi.
Ông ta mặc Âu phục. À, ra nếu ông ta để râu cằm, thì làm sao
ta nhìn thấy được cái cổ cồn là bóng lộn và cái ca-vát màu cánh
trà, gài vào sơ mi bằng chiếc ghim có đầu bằng hạt ngọc xanh. Ở
lỗ khuyết ve áo len màu tím, có đeo lủng lẳng cái vuốt hổ trắng
bịt vàng, lòng thòng một cái dây vàng, chui vào miệng cái túi
con ở áo ngực bên phải. Đây là dây đồng hồ. Để người ngoài hiểu
ngầm rằng nó thả vào trong túi một chiếc đồng hồ quả quýt, và
tất nhiên, cũng bằng vàng. Trên ngực này của áo ông ta đeo hai
cái để ai cũng phải chú ý. Một cái hình chữ nhật, ngang độ hai
đốt, dọc độ ba đốt ngón tay, màu kem, giữa là một dòng năm chữ
nho, tô đỏ, đủ cả nét rất rõ. Đó là tấm bài ngà. Và năm chữ là Hàn
lâm viện đãi chiếu. Cạnh thẻ ngà, là cái mà thời ấy gọi là mền-đay.
Mền-đay này là thứ có miếng vải sọc xanh và vàng, đeo toòng
teng một cái đầu rồng ngoác mồm bằng kim khí. Đó là tấm An-
nam long bội tinh của vua ban.
Vậy thì, ái chà chà! Nhà này là nhà của một vị rất danh giá và
rất đáng kính trọng. Vì có quan tước và có công với triều đình.
Nhưng chắc chắn lão ta không là quan thật. Vì mặc Tây, chứ
không vận phẩm phục. Vả lại, cái Hàm đãi chiếu là thứ hàm
hạng bét, mà ngay một chức quan hạng bét cũng được đối ngay
với một hàm cao hơn nhiều. Các bạn muốn biết lão ta là ai làm
nghề ngỗng gì, xin đọc những chữ đề ở dưới bức truyền thần:
Monsieur TRAN ĐUC THUA
dit ALBERT THUA
Medecin annamite brevete de la Chine
Journaliste Concessionnaire Amateur
Membre de la Chambre des Representants du peuple du Tonkin
Han lam vien Dai chieu
Decore du Dragon d'Annam
Decede le 20 du 2e mois de la 12e annee
du regne Bao Đai
Vậy đây là một nhà cứu dân độ thế, một nhà doanh nghiệp,
một tay ngôn luận, một nghị sĩ, đã đội nhiều ơn mưa móc. Và cái
biệt thự này là cố cư của ông ta. Xin nhận rằng người thật đúng
thế thật. Nhưng nhà không phải là cố cư. Vì tôi quên chưa nói
nhà này không ở được. Nó chỉ có tầng gác là rỗng, còn tầng dưới
thì lèn đặc những đất thó. Và tôi cũng quên, không nói ngay từ
trên kia, là nhà này bé thôi, chỉ rộng có một thước mốt, dài hai
thước, và cao một thước hai. Nó xây ở giữa đồng.
Vậy nó là cái mả?
Phải. Mả ông Trần Đức Thừa, tức An-be Thừa, thầy thuốc Annam đỗ bằng của nước Trung Hoa, nhà báo, chủ đồn điền, chủ
tàu thủy, nghị viên viện Nhân dân đại biểu Bắc kỳ, Hàn lâm viện
đãi chiếu, thưởng thụ An-nam long bội tinh, tạ thế ngày 20
tháng thứ 2 năm thứ 12 triều vua Bảo Đại. Dịch theo minh tinh
bằng tiếng Pháp trên kia là như thế.
Mả ông An-be Thừa nằm giữa một khu năm sào, vuông vắn,
xung quanh bao vây bằng tường gạch cao ba thước. Có cái cổng
xây mái kiểu mái nhà táng. Dưới mái, đắp một dòng chữ Pháp,
gần giống với những chữ: CIMETIÈRE DE FAMILLE. Nghĩa là
nghĩa trang gia đình. Hẳn là yết thị cho người ngoài đừng chôn
ẩu xị vào đó. Bên niên hiệu, đề Long phi Đinh sửu niên. Bên lạc
khoản ghi Thế nghị Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân Thái thường
tự khanh. Tuần phủ chi sự Lê Văn Bản bái văn.
Đôi câu đối này, một vế ý nói Nghị trường vắng tiếng từ nay,
những tư tưởng nhân đạo, những trang báo nảy lửa đã vang
động đến cửu trùng, đổi nắng hạn thành mưa Âu móc Á. Một vế
ý nói âm phủ muốn chừng thiếu thầy thuốc giỏi, hai mươi năm
xây dụng cơ đồ, làm giàu cho nhà, cho nước, nêu tấm gương sáng
về Pháp - Nam thân thiện.
Câu đối là thứ văn chương xa xỉ phẩm để thù tạc. Khen ngợi
người chết không biết cãi và không biết ngượng, câu đối được
mặc sức nói huênh hoang. Huống hồ chữ nghĩa của một vị đại
khoa, nghĩ ra để “lạy và than” người “bạn thân” đã khuất, thì
phần văn chương nhất định được coi là cần thiết hơn sự thật.
- Sung sướng quá! sống ở nhà đẹp, chết ở nhà cũng đẹp!
Người thèm tiền nói thế. Nhưng người thèm ruộng thì mỉa:
- Chỗ này còn chôn được khối người họ Trần mới chật hết đất!
*
* *
Nhưng nghĩa trang này đã chôn thêm ai đâu? Từ Bảo Đại thập
nhị niên tới nay, Cũng mới chỉ có thon lỏn có mỗi một ngôi trong
khu vực mênh mông này.
Thế thì người trong gia đình ấy đâu? Không có ai, hay chưa có
ai chết? Chưa có ai chết, hay đã có người chết mà chôn ở chỗ
khác? Cái đó khó lòng mà đoán được. Lý do thế nào, chốc nữa ta
sẽ rõ. Còn như trong gia đình có những ai thì ta có thể biết được
một cách tương đối đúng. Tương đối thôi.
Ngày ông An-be Thừa chết không kể một nghìn cáo phó in
giấy riêng, bay như bươm bướm ra khắp bốn phương trong nước,
báo tin buồn cho các cụ, các quan, các ông, các bà, thân bằng cố
hữu, còn có cáo phó thuê đăng trên tất cả các báo hằng ngày ở Hà
thành. Thì những hôm cữu còn quàn trong nhà, ngày đầu tiên,
lần lượt có ba người con trai, trạc mười lăm mười sáu tuổi trở lại,
đến nhận là con ông và xin mũ gậy. Ngày hôm thứ hai, buổi
sáng, một thiếu phụ, mặt mũi hiền lành, dắt đứa con độ lên hai
tuổi đến, xin cho cả hai mẹ con được mặc đại tang. Vì bà ta nói cả
bà lẫn con đều là con ông An-be. Không ai hiểu là tại làm sao. Lại
đến buổi chiều, một bà độ ngót bốn mươi, vừa đến cổng, đã bù lu
bù loa lên: “Ới anh ơi là anh ơi, anh đi đâu anh bỏ tôi!”. Rồi ngồi
xổm bên quan tài, quệt nước mũi vào gót chân, bà ta tự giới
thiệu: “Tôi là ma-đam An-be Thừa!”
Và vân vân.
Tất cả những nhân vật tự xưng là vợ, là con ông Thừa, hẳn là
vợ con phi pháp, đều chưa một lần nào gặp những người gọi là
vợ, là con hợp pháp của ông. Họ cũng chưa một lần nào gặp mặt
nhau. Cho nên tất cả cùng làm cho nhau ngơ ngác. Và, sau khi họ
cãi nhau không đến nỗi kịch liệt lắm, thì những người lạ mặt bị
một thứ tiếng the thé dọa kiện đền danh giá, mắng chửi cho
thêm vài câu, và bị đuổi đi hết.
Song, có một bà thân hình gầy đét đến, không làm ai ngơ ngác
tí nào, còn làm cho nhiều người e ngại nữa. Bà này tóc đã hoa
râm, chân đi tập tễnh. Đôi mắt đau có che bằng mảnh the thâm,
rủ từ khăn xuống kín một nửa mặt. Bà mặc cái váy cũn cỡn và cái
áo dài nâu bỏ xóng tràng. Bà đến nhà ông An-be vào lúc năm giờ
sáng, trước lễ chuyển cữu hai giờ đồng hồ. Vừa đến cổng, bà đã
nước mắt ròng ròng. Bà không chào hỏi ai, đi thẳng tuột vào chỗ
thờ, vắt miếng the che mắt lên khăn để nhìn cho rõ, rồi ôm áo
quan vật vã khóc: “Thầy thằng Mão ơi!”. Bà kể lể là giận nhưng
vẫn thương. Đến khi thấy đông người đứng quanh, bà chuyển
những lời tâm sự với người chết sang những lời xói móc người
sống. Đứng cạnh bà là một người thanh niên lẹm cằm, tức là
Mão, con bà. Tóc Mão để sù, bồng lên. Mặt Mão đầy nốt trứng cá.
Tay Mão đút trong túi quần, hình như thủ một cái gì đó, hung
hăng nhìn mọi người. Rõ rằng là Mão đứng đó để yểm hộ cho mẹ,
sẵn sàng ứng chiến với ai dám gây sự với mẹ hoặc với mình.
Bà này là vợ cưới lần thứ nhất của ông Thừa. Và Mão là con thứ
nhất còn sống của ông ta. Song, họ chỉ là vợ cái con cột trên lý
luận thôi. Thực tế, họ đã bị ông Thừa ruồng bỏ từ lâu. Muốn dứt
khoát với những người mà ông coi như chướng ngại vật, cản trở
hạnh phúc của ông, ông nhờ pháp luật vịn vào cớ vợ hư, con đốn,
để ly dị vợ và từ con. Không có chứng cớ rõ rằng, pháp luật đành
chịu bất lực. Vì vậy, ông phải tự lực đuổi hai mẹ con Mão ra khỏi
nhà.
Từ hơn hai chục năm nay, ông Thừa ở với người vợ khác.
Người này là Tây lai - chứ không phải đầm lai, vì không mặc đầm
- tên là Ma-ri. Ma-ri đã lần lượt đẻ ở nhà ông tám lần, nhưng còn
lại hai trai và ba gái, năm nay con út đã mười lăm tuổi. Cả năm cô
cậu đều đặt tên Tây hết. Hai trai là Pôn Thừa, và Giăng Thừa. Ba
gái là Rô-da-lin Thừa, Ma-gơ-rít Thừa và Ca-mê-li-a Thừa. Cả
năm cô cậu đều học trường Tây, trường Lít-xê. Đến năm ba tiểu
thư choai choai, thu hút được nhiều bạn trai, thì bọn bạn gái của
Pôn và Giăng xui các cô đặt biệt hiệu Việt Nam. Rô-da-lin lấy tên
là Bạch Hường, Ma-gơ-rít là Kim Cúc, Ca-mê-li-a là Trà Mi. Người
ngoài, những kẻ hiếu sự, thường đem việc ông Thừa đặt tên Tây
cho con, có dính tiếng Thừa vào sau tên tiếng Tây, để đánh năm
cái dấu hỏi khá lớn. Họ thì thầm rằng tại sao không có đứa nào
lấy họ Trần, và đứa nào cũng “thừa”. Ý họ tán rằng những đứa
con này đều là con thừa, do Tây đúc cốt. Ông Thừa chỉ làm việc
tráng men thôi. Rất hả hê về dư luận này, bà mẹ Mão thêm một ý
kiến đanh thép. Bà vin vào tiêu chuẩn cụ thể là máu mủ ông
Thừa thì phải lẹm cằm. Bà tựa vào cái thứ kinh nghiệm chủ
nghĩa ấy để gây chiến tranh lạnh với bà Ma-ri. Cho đến năm bọn
con của người Tây lai lớn lộc ngộc, đứa nào cũng ngỗ nghịch,
hung hăng, thì bà đâm hoảng, đành ngậm miệng mà vĩnh viễn
chịu cái tai nạn xâm lăng. Bây giờ, nghe tin ông Thừa chết, bà
mới đến nhà ông, để khóc ông một tiếng. Thôi thì nghĩa tử là
nghĩa tận. Dù sao cũng ăn ở cho phải đạo làm vợ.
Mão là con trai, nên cứng hơn mẹ. Hắn không chịu nước ức.
Thỉnh thoảng hắn đón đường, gặp bố, để vòi tiền. Nhưng thấy
hắn lêu lổng, hư đốn quá, không bao giờ ông Thừa thí cho một
xu. Hắn dọa giết Ma-ri, giết lũ con riêng của ông và giết ông. Ông
sợ quá, phải đi trình cẩm.
Không hiểu vì sao lần này ông Thừa ốm, Mão lại biết tin. Hắn
nhân lúc nhà vắng người, lọt vào được với ông. Hắn bắt ông chia
của. Nhưng ông còn đủ sức để chửi hắn và đuổi hắn ra khỏi
ngoài, ông ra lệnh cho gia nhân từ nay phải cấm cửa hắn. Nếu
hắn cứ xồng xộc vào, thì lập tức phải đi báo đội sếp. Ông lại bắt
Pôn và Giăng luôn luôn ở cạnh ông để canh cho ông.
Từ hôm Mão đến, ông Thừa bực mình, đâm ra ốm nặng thêm.
Bà Ma-ri không dám dùng đơn của đốc-tờ Pi-ca là bác sĩ của gia
đình nữa, mà mời ông thầy Cắm-xềnh ở Quảng Đông mới sang,
để xem mạch bốc thuốc cho ông. Rồi cả bác sĩ Tây, bác sĩ Ta, lẫn
ông lang Tàu, ông lang Ta, đều cam đoan rằng bệnh ông không
can gì, chỉ vì ông nghĩ ngại phiền uất, nên có vẻ nặng mà thôi. Bà
Ma-ri đến cả điện ở nhà cô Bé Tý Hàng Bạc để cầu và xin thẻ. Ngài
dạy bản mệnh vững. Bà càng yên lòng.
Song, ông Thừa chết, chết một cách đột ngột. Hôm ấy bà Ma-ri
đi lễ, Pôn và Giăng đã không nghe lời bố mà canh cho bố, lại nghe
lời bạn gái nó rủ đi đánh cá ngựa. Thế là Mão lọt được vào trong
nhà. Hắn vào buồng ông Thừa, khóa trái cửa lại. Hắn ở đấy độ
mười phút rồi ra. Nhưng vừa mới đến cổng, bất thình lình, hắn
gặp bà Ma-ri về. Biết là có sự chẳng lành, bà hô hoán lên, sai
người bắt Mão lại, nhốt hắn vào nhà ô tô.
Lúc bấy giờ, trên giường bệnh, ông An-be đang phì phò thở
rốc. Chân tay ông co quắp, mặt mũi ông nhăn nhó. Trông y như
người đương dùng hết sức lực để đánh nhau. Bà Ma-ri lay gọi,
nhưng ông bất tỉnh. Bà bật đèn lên, thấy chăn đệm xô lệch và
miệng ông méo xệch, môi dưới lại rơm rớm máu. Ông không cựa
được và cũng không nói được. Rồi độ năm phút sau, chân tay vẫn
co quắp, mặt vẫn nhăn nhó, miệng vẫn méo xệch, ông lịm dần.
Bà Ma-ri bật ra tiếng khóc. Từ giờ phút này, ông là người thiên
cổ, là bạn trăm năm của bà có một phần năm thời gian.
Nghi là Mão giết ông An-be, song bà Ma-ri vẫn giữ được nghị
lực. Tuy một mặt bà lo tang lễ sao cho xứng đáng, tuy một mặt
bà định trình tòa khám nghiệm tử thi của chồng, nhưng bà
không quên sai các con bà lục soát nhiều lần rất kỹ trong buồng,
để tìm chùm chìa khóa két. Song, cuộc khám nghiệm không tìm
ra dấu vết khả nghi. Trên da thịt không có một thương tích.
Trong máu không có một chất gì có thể ngờ là thuốc độc. Không
có hiện tượng để kết luận rằng đây là vụ giết người, tự sát hay
bức tử. “Sở dĩ ở môi dưới của người chết có tí máu, là vì trước khi
thở hơi cuối cùng, trong một trường hợp nào đó, và vì một lý do
nào đó, ví dụ vì lý do tắt thở bất ngờ và trong trường hợp người
ốm đã mê man loạn óc, thì có thể là tự mình mím miệng để
chính răng cửa của mình cắn vào thịt. Chỗ sây sát của môi là do
răng gây nên. Bề ngang bề dọc của vết thương và bề ngang bề dọc
của răng đã được đo và khớp với nhau rất đúng”.
Vì vậy, việc ông An-be Thừa chết, theo biên bản của tòa,
không phải là một vụ án bí mật có thể viết thành truyện trinh
thám ly kỳ. Vả lại, bà Ma-ri cũng mong nó như thế thôi. Để khỏi
gây ra dư luận, để khỏi mấy ông nhà báo đến điều tra, phỏng
vấn, và dọa phóng đại để làm tiền. Lôi thôi và phiền phức lắm.
Nhưng khi tìm khắp buồng, thì bà vẫn không thấy chùm chìa
khóa. Việc mất trộm này mới là hệ trọng! Bà đoán chắc rằng Mão
đã cố cướp chùm chìa khóa ở trong túi áo ông An-be. Mà ông thì
nhất định chống giữ. Cho nên môi ông mới mím chặt, mặt ông
mới nhăn nhó và chân tay ông mới co quắp. Chùm chìa khóa ấy,
ông vẫn bảo với bà là phải để ông giữ. Ông sợ giao cho bà thì,
chiều nuông lũ con, bà mở két, lấy tiền cho chúng nó tiêu xài,
vung phí hết.
Mất chùm chìa khóa là mất cả. Tiền ở trong két, chúc thư, văn
tự cũng ở trong két. Không thể nào những thứ này lại lọt vào tay
Mão. Nhưng, trong lúc ông An-be vừa nằm xuống, tang gia bối
rối, thì bà là chủ nhà, càng phải bình tĩnh. Bà đã giam Mão lại
một nơi rồi. Thế là yên trí. Người còn ở trong nhà, thì chìa khóa
chưa thể ra ngoài. Mai kia, đòn hội chợ của nhà săng-tan sẽ giúp
bà lấy lại được. Bây giờ, bà phải để hết tâm lo lắng ma chay cho
ông. Kẻo thiên hạ người ta trông vào.
Nhưng bà Ma-ri có được để hết tâm trí vào việc lo lắng ma
chay cho ông An-be đâu. Chốc chốc lại một vợ, chốc chốc lại một
con của ông đến khóc lóc, xin khăn áo, xin mũ gậy. Bà đã cương
quyết được với bọn này, thì thình lình bà mẹ của Mão tới. Và
cũng không hiểu là làm thế nào, cũng lúc này, Mão ra thoát nhà
xe, chạy đến chỗ thờ, đứng cạnh mẹ hắn.
Nhìn thấy Mão, bà Ma-ri không lo hắn sinh sự, đánh hay giết
người, bằng lo hắn mang chùm chìa khóa ra khỏi nhà. Bà sai Pôn
và Giăng phải cởi áo sô, bỏ mũ nùn rơm ra, cố sống cố chết, lấy lại
cho kỳ được. Pôn và Giăng rình khởi thế công. Mão cũng ngầm
giữ thế thủ. Lúc nào tay hắn cũng thu thu trong túi quần, hình
như sẵn sàng rút khí giới ra để nghênh chiến.
Từ lúc bà mẹ Mão thấy có con đứng cạnh, thì bà được vững
tâm. Bà không kể lể, nói cạnh nói khóe bà Ma-ri nữa. Bà có thể để
không cần làm chiến tranh lạnh. Và bà Ma-ri cũng muốn gây ra
chiến tranh nóng, để trong lúc loạn xạ, hai con bà có dịp xông
vào Mão, cố cướp lại chùm chìa khóa. Bà bỏ mũ mấn, cởi áo sô
bằng vải màn, và tụt cái quần chúc bâu xổ gấu. Bà búi tóc ngược
lên, gài cho thật chặt.
Khi hai bên đối phương đã tự nguyện tự giác đánh nhau, thì
chiến tranh dễ bùng nổ thôi. Bắt đầu là những lời lăng mạ trực
tiếp. Bà mẹ Mão chửi bà Ma-ri là con đĩ lang ben. Bà Ma-ri chửi bà
mẹ Mão là con nhà thổ. Hai bà cùng đổ lẫn tội cho nhau là cướp
chồng của mình. Thế là giai đoạn quân sự kế tục giai đoạn chính
trị ngay. Chiến tranh được dàn ra hai trận tuyến. Một trận tuyến
là hai bà. Ở đây, có những tiếng soàn soạt vải bị xé. Trên thực tế,
hai bà không ai cầm khí giới, nên không có việc đổ máu. Nhưng
trên lý luận, tai người ngoài có nghe thấy những tiếng khí và
tiếng máu. Kịch liệt hơn là ở trận tuyến bọn thanh niên. Pôn và
Giăng có lợi thế, là đứng hẳn lên trên mặt áo quan cho cao. Hai
anh em nhảy vào Mão. Vật lộn khá lâu. Cuối cùng, vì biết một
mình không địch nổi với hai đứa, Mão làm kế thoát thân. Hắn
không dùng tay để chống với Pôn và Giăng, mà dùng tay để thọc
vào túi quần. Ai cũng tưởng hắn rút dao ra đâm. Chẳng hóa ra
hắn rút chùm chìa khóa, rồi quăng ra thật xa. Tiếng loẻng xoẻng
như reo. Có lẽ cả bà Ma-ri lẫn các con của bà cũng như reo ở trong
bụng. Tức thì, cả ba người bỏ địch đấy, chạy đến góc nhà vồ lấy
chùm chìa khóa. Bà mẹ Mão vừa thở, vừa ngồi vấn lại khăn. Còn
Mão thì đứng sát lưng vào tường để giữ thế thủ, rồi đút tọt một
cái gì cầm ở trong tay vào miệng. Pôn đâm nghi, chạy lại phía
Mão. Bất thình lình, một vật nữa ở tay Mão rơi xuống đất. Mão
vội vàng cúi xuống nhặt, và lại đút tỏm vào miệng. Vật ấy, mọi
người đã trông thấy, nó nhỏ như hạt ngô, cũng màu vàng như
màu ngô, nhưng óng ánh. Pôn ôm lấy Mão. Giăng bóp cổ Mão.
Cuộc xô xát lại tiếp diễn.
*
* *
Trong nhà trong ồn ào là thế, nhưng vì cửa đóng kín, lại cách
nhà ngoài một cái sân dài, nên khách khứa tịnh không ai nghe
thấy tiếng gì. Các cụ tuần, cụ án, các quan phủ, quan huyện các
quan nghị, quan hàn, vốn quan liêu đã đành, cho đến các ông
chủ thầu, chủ báo, nhà văn, các ông lang, các bạn bè ông An-be,
các bạn bè bà Ma-ri, các bạn bè của Pôn, của Giăng, các bạn bè của
Rô-da-lin, của Ma-gơ-rít và của Ca-mê-li-a không ai biết gì hết.
Rô-da-lin và Ma-gơ-rít, vì lớn tuổi và thạo đời, được cắt vào việc
tiếp khách. Hai cô vẫn đánh phấn, bôi son, chải tóc bóng nhẫy
như ngày thường. Hai cô còn thấy mình đẹp hơn ngày thường, vì
mặc toàn đồ trắng bằng voan, chứ không bằng vải màn như mẹ.
Quần áo trắng làm nổi nước da trắng những phấn. Lắm lúc soi
mình vào gương, hai cô hãnh diện và tự hào, thấy mình không
khác gì những cô đầm khoác tay người yêu vào nhà thờ làm lễ
cưới. Hai cô gióng giả người nhà pha nước, lấy thuốc lá, lấy trầu,
như những cô gái đảm đương và quán xuyến.
Khách đứng hoặc ngồi thành từng bọn, theo nghề nghiệp của
họ. Khách quý được mời vào buồng đặc biệt. Họ nói chuyện với
nhau về nghề nghiệp, về sinh hoạt hàng ngày. Ít người nhắc đến
ông An-be. Nhiều người nhắc đến việc làm ăn, đến canh mạt
chược hoặc chầu hát tối hôm trước. Ít người để ý đến kẻ khác giới
của mình. Nhưng nhiều người giới nam để ý đến những người
giới nữ, nhất là đến hai chị em cô Rô-da-lin và Ma-gơ-rít nhí
nhảnh. Nhà văn Thanh Xuân đã nhân dịp này, tặng được hai
Nàng Thơ một bài cú Đường luật, mà ông làm đã lâu, nhưng
chưa đưa tận tay. Cụ án Trần cũng quên tuổi mình mà nói giỡn
rất lâu với hai cô, như với bạn.
Song, tuy hai cô tiếp khách văn có vẻ niềm nở, chu đáo, mà
không phải trong bụng không có điều gì băn khoăn. Hai cô biết là
trong nhà có con mẹ nhà thổ và thằng du côn, thì thế nào, cũng
xảy ra chuyện lôi thôi, không khéo thì có án mạng. Nhưng nếu
hai cô chỉ băn khoăn về việc này, thì tất nhiên thỉnh thoảng phải
lắng tai hoặc để mắt vào phía trong. Hai cô chỉ lắng tai và để mắt
ra phía ngoài cổng. Cho đến bảy giờ kém bảy phút, một chiếc xe
cao su đỗ xịch ở hè, một người Pháp bụng tròn, khệ nệ chống batoong đi vào, thì hai cô mới mừng rỡ. Hai cô đon đả đón, nhoẻn
miệng, nhún cẳng, bắt tay và mời vào. Đây là trạng sư Rô-măng,
ân nhân của gia đình, được ông An-be bao để thầu tất cả các việc
thuộc về pháp luật của ông. Người Pháp vào buồng khách đặc
biệt. Tất cả tiếng ồn ào bằng ngôn ngữ Việt Nam đều im lặng.
Dân thuộc địa đứng cả dậy để tỏ lòng kính trọng quan bảo hộ.
Người da trắng được đưa đến ngồi cùng bàn với các quan cụ da
vàng. Cô Ma-ga-rít giới thiệu từng vị. Cô cũng kéo ghế ngồi ở đó
và sai người mở rượu bia.
Cô Rô-da-lin ở nhà ngoài. Cô vẫn chưa hết băn khoăn, chốc
chốc cô lại nhìn ra cổng. Đám ma cha cô có một người Pháp đi
đưa, đã là giá trị lắm rồi. Nhưng cô chưa thỏa mãn. Gia đình quen
thân với rất nhiều quý quan. Những vị này đã nhận được cáo phó
cả rồi. Thế nào ông đốc tờ Pi-a, bác sĩ riêng của nhà, chẳng đến.
Thế nào ông cẩm mật thám Pha-lăng-xô chẳng đến. Song, cô
mong nhất một người Pháp nữa, đã hẹn là thế nào cũng đến.
Người này là một công chức trẻ ở sở Lục Lộ, người bạn cởi mở
đầu tiên trong đời con gái của cô. Đưa cha đến chỗ ở cuối cùng, cô
buồn lắm. Có chàng cùng đi, thì cô vui. Vắng chàng trong lúc
này, cô chịu sao nổi trống trải gấp đôi ở trong lòng. Cô mong
từng phút từng giây. Có chiếc xe nhà sơn màu cánh dán nào sắp
tới, cô cũng hồi hộp. Thấy không phải người mình mong đợi, cô
lại thở dài, bụng trách ngầm ai lỗi hẹn.
Song, ý trung nhân của Rô-da-lin không lỗi hẹn. Người Pháp
thầy cãi đến được hơn ba phút, thì người Pháp Lục lộ đến. Cô gái
mừng rơn, chạy ra, nói cười rối rít. Miệng chúm chím, cô đi song
song với bạn thân ái, đưa hắn vào trong buồng đặc biệt. Rồi cô
sực nhớ rằng trong nhà trong đương có chuyện rắc rối, không
khéo thì phải hoãn giờ chuyển cữu. Sai lời là phụ lòng quý khách.
Nghĩ vậy, cô vội vàng bỏ bạn, chạy vào. Cô định dọa dẫm mọi
người ở trong nhà là có hai ông Tây đến đưa đám, thì đúng bảy
giờ, thế nào cũng phải chuyển cữu. Để người trên phải chờ đợi, là
bất nhã.
Lúc ấy là bảy giờ kém một phút. Cô Rô-da-lin gõ cửa mạnh để
gọi, nhưng ở phía trong, không có tiếng trả lời. Cô sốt cả lòng cả
ruột. Phen này thì mất hết sĩ diện. Từ ngoài cổng đi vào người
chủ hiệu đòn đám ma, đã lừng lững dẫn hai mươi phu đòn đương
tiến vào. Cô giơ cổ tay, nhìn chiếc đồng hồ vàng nhỏ xíu: kém ba
giây nữa là đúng bảy giờ. Ruột cô như mớ bòng bong. Rồi kém
hai giây, một giây nữa. Rồi đúng bảy giờ. Cô thở dài đánh thượt.
Bỗng tiếng khóa kêu lạch xạch: hai cánh cửa mở toang. Hai lá
màn đen từ từ kéo cao lên, như màn sân khấu. Lửa nến trong
buồng tối lấp lánh như sao. Người mặc trắng đứng lố nhố, nhưng
im phăng phắc. Thật là không ngờ. Cô Rô-da-lin hởi lòng hởi dạ.
*
* *
Nguyên là ban nãy, Mão bị Pôn ôm và Giăng bóp cổ, thì hắn
đau và nghẹt thở. Hắn phải há miệng lè lưỡi. Cái vật ngậm ở
trong suýt nữa rơi xuống đất. Thì may làm sao, một giọng ồm
ồm của người chú họ ông Thừa, vẫn gọi là cụ điều Hai, nói to:
- Thôi! Đôi bên! Không được đánh nhau nữa! Đến giờ ch...
TẬP MỘT
§1. Một ngôi nhà của một người
§2. Con bò lạc
§3. Cu-li cút-kít
§4. Ma-ri
§5. Lại một nghề nữa không có ghi ở trong lòng minh tinh
§6. Mặc cả với con cái của một người đã dày công tu nhân tích
đức
§7. Một cuộc diễn kịch: ngoài sân khấu và trong hậu trường
§8. Tin bất thường
§9. Những mặt bất thường
§10. Việc bất thường
§11. Vỡ lòng
TẬP HAI
§1. Một gia đình Hà Nội
§2. Gió lọt
§3. Xuống chó
§4. Anh hùng mạt lộ
§5. Một bậc thầy
§6. Lại một bậc thầy
§7. Động rừng
§8. TYL
§9. Bồi dưỡng tư tưởng
§10. Nỗi lòng
§11. Một việc đã rồi
§12. Nhà con...
§13. Chồng chị, chồng tôi
§14. Thưa rằng
§15. Em với chị
§16. Cha mẹ với con
§17. Bệnh viện với bệnh nhân
§18. Tôn giáo với kẻ có tội
§19. Khoa học với sự sống chết
§20. Sở Mật thám với những việc phải thám
§21. Thần Công lý với người chết oan
§22. Để kết thúc
TẬP BA
§1. Bà Hàn và ông Hàn
§2. Mười năm về trước
§3. Hàng về
§4. Một con ma còn sống
§5. Cha ốm nặng về ngay
§6. Đường danh
§7. Thử lửa
§8. Chuyến tàu vét
§9. Những cái thối cứu được cái thơm
§10. Quen mui thấy mùi đánh mãi
§11. Anh Xi
§12. Thế thì ai là kẻ có tội
§13. Vợ con
§14. Khi gương đã soi
TẬP BỐN
§1. Vấn đề đồn điền
§2. Xuy-dan
§3. Một người quản lý tốt nhất
§4. Nợ nước thù nhà
§5. Đầu voi đuôi chuột
§6. Cuộc giao tranh
§7. Trận quyết liệt
§8. Khao thất bại
§9. Những ngày đầu trong cuộc kinh doanh
§10. Mại bản cậu
§11. Người học trò đắc đạo
§12. Để được giáp riêng mặt rồng
§13. Cuộc cạnh tranh
§14. Tai bay vạ gió
§15. Vinh dự cái con rồng
§16. Giá bà cụ còn sống
§17. Chiếc xe xuống dốc
§18. Dốc còn sâu
§19. Một cuộc gặp gỡ tình cờ
§20. Để đi cho nhẹ nhàng
§21. Trong những giờ phút sắp lên tiên
CHÚ THÍCH
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
I
MỘT NGÔI NHÀ CỦA MỘT NGƯỜI
N
gôi nhà này bè bè, thô thô như một anh chàng to ngang mà
lùn. Đó là tại khi xây dựng, không có kiểu vẽ trước? Hay tại
toán thợ nề quê mùa nào đó, muốn khoe là tay cừ mỹ thuật? Họ
đem nhồi nhét, trộn hổ lốn vào trong tác phẩm cỏn con này tất
cả những cái họ đã nhìn qua loa thấy ở nhà kiểu Tàu, ở nhà kiểu
Tây làm theo thời trung cổ, thời hiện đại? Hay tại tiền khoán nhà
thì to mà tài thợ thì nhỏ? Cho nên để nuốt món đó cho khỏi hóc,
họ đành liều lĩnh, phóng tay làm cho cái nhà trở thành không ra
lối lăng gì.
Thôi mặc kệ. Ta tìm hiểu làm gì cái điều không lợi cho ta ấy?
Nhà này dù đẹp, dù khéo, dù xinh, hay lố lăng, kệch cỡm, lòe loẹt,
thì nó cũng là một sự kiện đã rồi.
Nhà có hai tầng. Tầng gác dẹt đen đét như bụng người nhịn
đói. Vì ở phía trước, có chừa ra một cái sân rộng. Ở hai tường hai
bên, trên bộ của chóp sơn xanh, có đắp một cái gờ dài. Gờ là mặt
hổ phù dang hai chân trước. Mặt hổ phù có đủ cả mắt, mũi,
miệng, răng, râu. Chân hổ phù có năm móng cong và nhọn. Mặt,
mũi, miệng, răng, râu và móng, đều bôi đen, vàng, đỏ, nâu,
trắng, tím. Mình hổ phù trổ vây mặt nguyệt, nhỏ li ti, mỗi mặt
nguyệt tô một màu sặc sỡ khác nhau. Xin nói thêm, cửa đây là
cửa chớp giả, mà ngay thời Dân chủ cộng hòa này, ta còn trông
thấy ở nhiều nhà trong thị xã Hải Dương. Không mở được vì nó
đắp bằng vữa. Nhưng ở cửa chớp thật bằng gỗ, hàng răng lắp vào
khung thế nào, thì ở cửa chớp giả này, cũng y hệt như thế. Lại có
đủ cả từng ấy chiếc bản lề, cũng đắp bằng vữa, nhuộm đúng màu
sắt. Phía trước mặt tầng dưới, dưới ba cái mái cong, nổi lên
những dòng ngói ống kiểu tàu sơn tím, có ba cửa tò vò, nhưng lại
xây bịt kín. Lèo cửa bộ giữa chạy nho sóc, hai bộ bên chạy qua
điệp. Để lên gác, một cái thang cuốn xây áp vào tường, gồm
chừng hai chục bậc. Thang có mái, là một con rồng uốn tròn,
đứng bằng mười chân, dính vào bậc, tức là tay vịn. Ba mặt sân
gác có ba hàng bao lơn, mỗi cái bao lơn nặn hình con tiện, mỗi
con tiện sơn một màu khác nhau. Ở một góc sân gác, dựng một
cái giàn xây, với hàng xà ngang xi-măng xếp đều tăm tắp, như
kiểu giàn dây leo ở công viên các thành phố. Mái gác trát nhân
bằng vữa màu gạch. Trên đường bờ chính giữa, gắn một chiếc
đồng hồ giả, kim ngắn chỉ thẳng lên con số 12, nhưng kim dài
nằm ngang với con số 3. Những con số đều viết chữ La-mã. Trên
đỉnh đồng hồ, có nhoi lên cái cổ nậm rượu, dưới thắt cổ bồng,
trên phình ra, rồi thon dần. Dọc đường bờ, bên phải và bên trái
cái đồng hồ, đi bát tiên bằng xi-măng. Và ở hai đầu, hai con
phượng ngậm cuốn thư, uốn quặt cái đuôi lại.
Phía mặt gác trông ra sân, có ba bộ cửa. Hai bên tả hữu, là lối
cửa bức bàn, cánh nào phần trên cũng là đường triện triết chi lá
giát, và phần dưới, bịt kín, trổ bốn thứ cây mai, lan, cúc, trúc. Tôi
quên không nói là nhà này không làm bằng tí gỗ nào, dù là các
cánh cửa, toàn là xi-măng và vữa thôi. Chỉ trừ có cái cửa giữa gác,
vì cần cho ánh sáng lọt vào trong, nên là kính. Cả một mặt kính
lắp sau bức diềm y môn vữa màu đỏ. Tuy mưa nắng lâu ngày đã
làm kính hơi mờ đi, nhưng ở ngoài trông vào vẫn rõ. Rõ là rỗng
trơ. Trên sàn, không bày bàn ghế, tủ sập. Và trên tường, không
treo hoành phi, câu đối. Chỉ có mỗi một cái. Cái này là tấm
truyền thần bán thân một người bằng sơn màu. Tấm truyền
thần dựng kín cả mặt tường hậu. Xin mở một dấu ngoặc để than
thở vài câu về cái công trình thuộc về mỹ thuật này. Nhất định
tấm truyền thân đây không phải là vẽ. Thời này, muốn truyền ai,
nhất là những người giàu, thích hệt ảnh màu, thì mấy ông thợ vẽ
lười vẽ đã phát minh ra một cách làm việc, vừa đỡ tốn công, vừa
giống in như ảnh. Có gì đâu. Các ông nhận ảnh của khách hàng,
đem chụp lại vào kính, rồi phóng cho to ra. Quần áo và các thứ
trang trí, ai muốn thế nào, các ông cho được như thế tuốt. Vì đã
có sẵn những mẫu cũ. Chỉ cần khách trả một món tiền ngang với
giá trị những thứ làm tăng giá trị con người vẽ. Còn cái mặt,
đáng lẽ truyền khó và lâu nhất mới giống thì các ông có ở ảnh
rồi. Chỉ còn việc lấy thuốc màu, tô cho nước da hồng, cho đôi môi
đỏ. Rồi phết một lượt quang dầu lên trên. Thế là chu. Giống ảnh
không chê được! Và bền cố hỉ!
Bức truyền thần bày trong nhà này là chân dung một ông.
Thường thì các ông đi mượn vẽ hay bắt bẻ người thợ vẽ đã vẽ
không giống mình trong ảnh mà mình thuê phóng, chứ không
bao giờ quan tâm đến việc ảnh có giống mình hiện tại, tức là lúc
mình đến đưa nó cho người ta vẽ hay không. Bởi vì bao giờ các
ông cũng chọn cái ảnh đã chụp bất cứ vào năm nào, miễn là nó
đẹp nhất. Nghĩa là nó phải đáp ứng đủ ba tiêu chuẩn: mặt mũi
trắng béo, quần áo bảnh chọe, và đáng điệu oai vệ. Nếu khi chụp,
người thợ ảnh đã có thói quen về một thứ mỹ thuật nào đó, biết
xóa hết trong kính đã rửa những nét nhăn nheo trên mặt, để khi
in ra giấy, cái mặt ấy được chỉnh lý, cải biên nhiều nhiều, cho
xinh đẹp nhiều nhiều, thì khi ngắm ảnh, khách hàng càng khen
nhiều nhiều.
Cái ông trong tấm truyền thần này, mặt ngửa lên. Rõ rằng là
người tự hào hơn cả một người có cái gì đáng tự hào. Vẻ mặt tự
hào của ông này lại đi đến mức độ có thể gọi là vênh váo. Ông ta
đã dùng một vật trang trí nhân tạo, làm cảnh cho đôi mắt, để
mình được ngờ là học giả. Đó là cặp kính trắng tròn, lớn, gọng đồi
mồi. Ria ông ta cũng làm cảnh cho miệng ông. Vật trang trí này
tuy thiên nhiên, nhưng không khỏi không được đặt vào đó công
lao động sáng tạo. Nó đen nhánh, hai bên đối nhau. Đầu ria
hướng phía nhân trung thì rậm và to, nhưng đuôi ria quẫy ra
phía cạnh mép thì cắt nhọn hoắt và uốn vểnh lên. Thuở này, gọi
kiểu râu này là râu Tây, dù nó mọc trên môi bất cứ người nước
nào. Đáng lẽ một nạm râu chổi sể còn phải đâm thẳng từ cằm
ông ta xuống nữa mới hợp lý. Nhưng Tây cạo nó đi, thì ông ta
cũng cạo nó đi. Cho nên đôi môi mỏng và cái cằm lẹm của ông, vì
phải theo thời, mà không được ngụy trang. Tóc ông ta cũng đen
như râu. Rẽ giữa. Hai bên chải lật hai múi, gồ và cong như hai cái
cổng tò vò.
Tóm lại, ông này, mặt phình và nhẵn như mặt một cậu con
trai, nhưng lại lạc vào đó hai con nong nóc ở trên mép. Khó lòng
mà đoán được ông ta bao nhiêu tuổi.
Ông ta mặc Âu phục. À, ra nếu ông ta để râu cằm, thì làm sao
ta nhìn thấy được cái cổ cồn là bóng lộn và cái ca-vát màu cánh
trà, gài vào sơ mi bằng chiếc ghim có đầu bằng hạt ngọc xanh. Ở
lỗ khuyết ve áo len màu tím, có đeo lủng lẳng cái vuốt hổ trắng
bịt vàng, lòng thòng một cái dây vàng, chui vào miệng cái túi
con ở áo ngực bên phải. Đây là dây đồng hồ. Để người ngoài hiểu
ngầm rằng nó thả vào trong túi một chiếc đồng hồ quả quýt, và
tất nhiên, cũng bằng vàng. Trên ngực này của áo ông ta đeo hai
cái để ai cũng phải chú ý. Một cái hình chữ nhật, ngang độ hai
đốt, dọc độ ba đốt ngón tay, màu kem, giữa là một dòng năm chữ
nho, tô đỏ, đủ cả nét rất rõ. Đó là tấm bài ngà. Và năm chữ là Hàn
lâm viện đãi chiếu. Cạnh thẻ ngà, là cái mà thời ấy gọi là mền-đay.
Mền-đay này là thứ có miếng vải sọc xanh và vàng, đeo toòng
teng một cái đầu rồng ngoác mồm bằng kim khí. Đó là tấm An-
nam long bội tinh của vua ban.
Vậy thì, ái chà chà! Nhà này là nhà của một vị rất danh giá và
rất đáng kính trọng. Vì có quan tước và có công với triều đình.
Nhưng chắc chắn lão ta không là quan thật. Vì mặc Tây, chứ
không vận phẩm phục. Vả lại, cái Hàm đãi chiếu là thứ hàm
hạng bét, mà ngay một chức quan hạng bét cũng được đối ngay
với một hàm cao hơn nhiều. Các bạn muốn biết lão ta là ai làm
nghề ngỗng gì, xin đọc những chữ đề ở dưới bức truyền thần:
Monsieur TRAN ĐUC THUA
dit ALBERT THUA
Medecin annamite brevete de la Chine
Journaliste Concessionnaire Amateur
Membre de la Chambre des Representants du peuple du Tonkin
Han lam vien Dai chieu
Decore du Dragon d'Annam
Decede le 20 du 2e mois de la 12e annee
du regne Bao Đai
Vậy đây là một nhà cứu dân độ thế, một nhà doanh nghiệp,
một tay ngôn luận, một nghị sĩ, đã đội nhiều ơn mưa móc. Và cái
biệt thự này là cố cư của ông ta. Xin nhận rằng người thật đúng
thế thật. Nhưng nhà không phải là cố cư. Vì tôi quên chưa nói
nhà này không ở được. Nó chỉ có tầng gác là rỗng, còn tầng dưới
thì lèn đặc những đất thó. Và tôi cũng quên, không nói ngay từ
trên kia, là nhà này bé thôi, chỉ rộng có một thước mốt, dài hai
thước, và cao một thước hai. Nó xây ở giữa đồng.
Vậy nó là cái mả?
Phải. Mả ông Trần Đức Thừa, tức An-be Thừa, thầy thuốc Annam đỗ bằng của nước Trung Hoa, nhà báo, chủ đồn điền, chủ
tàu thủy, nghị viên viện Nhân dân đại biểu Bắc kỳ, Hàn lâm viện
đãi chiếu, thưởng thụ An-nam long bội tinh, tạ thế ngày 20
tháng thứ 2 năm thứ 12 triều vua Bảo Đại. Dịch theo minh tinh
bằng tiếng Pháp trên kia là như thế.
Mả ông An-be Thừa nằm giữa một khu năm sào, vuông vắn,
xung quanh bao vây bằng tường gạch cao ba thước. Có cái cổng
xây mái kiểu mái nhà táng. Dưới mái, đắp một dòng chữ Pháp,
gần giống với những chữ: CIMETIÈRE DE FAMILLE. Nghĩa là
nghĩa trang gia đình. Hẳn là yết thị cho người ngoài đừng chôn
ẩu xị vào đó. Bên niên hiệu, đề Long phi Đinh sửu niên. Bên lạc
khoản ghi Thế nghị Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân Thái thường
tự khanh. Tuần phủ chi sự Lê Văn Bản bái văn.
Đôi câu đối này, một vế ý nói Nghị trường vắng tiếng từ nay,
những tư tưởng nhân đạo, những trang báo nảy lửa đã vang
động đến cửu trùng, đổi nắng hạn thành mưa Âu móc Á. Một vế
ý nói âm phủ muốn chừng thiếu thầy thuốc giỏi, hai mươi năm
xây dụng cơ đồ, làm giàu cho nhà, cho nước, nêu tấm gương sáng
về Pháp - Nam thân thiện.
Câu đối là thứ văn chương xa xỉ phẩm để thù tạc. Khen ngợi
người chết không biết cãi và không biết ngượng, câu đối được
mặc sức nói huênh hoang. Huống hồ chữ nghĩa của một vị đại
khoa, nghĩ ra để “lạy và than” người “bạn thân” đã khuất, thì
phần văn chương nhất định được coi là cần thiết hơn sự thật.
- Sung sướng quá! sống ở nhà đẹp, chết ở nhà cũng đẹp!
Người thèm tiền nói thế. Nhưng người thèm ruộng thì mỉa:
- Chỗ này còn chôn được khối người họ Trần mới chật hết đất!
*
* *
Nhưng nghĩa trang này đã chôn thêm ai đâu? Từ Bảo Đại thập
nhị niên tới nay, Cũng mới chỉ có thon lỏn có mỗi một ngôi trong
khu vực mênh mông này.
Thế thì người trong gia đình ấy đâu? Không có ai, hay chưa có
ai chết? Chưa có ai chết, hay đã có người chết mà chôn ở chỗ
khác? Cái đó khó lòng mà đoán được. Lý do thế nào, chốc nữa ta
sẽ rõ. Còn như trong gia đình có những ai thì ta có thể biết được
một cách tương đối đúng. Tương đối thôi.
Ngày ông An-be Thừa chết không kể một nghìn cáo phó in
giấy riêng, bay như bươm bướm ra khắp bốn phương trong nước,
báo tin buồn cho các cụ, các quan, các ông, các bà, thân bằng cố
hữu, còn có cáo phó thuê đăng trên tất cả các báo hằng ngày ở Hà
thành. Thì những hôm cữu còn quàn trong nhà, ngày đầu tiên,
lần lượt có ba người con trai, trạc mười lăm mười sáu tuổi trở lại,
đến nhận là con ông và xin mũ gậy. Ngày hôm thứ hai, buổi
sáng, một thiếu phụ, mặt mũi hiền lành, dắt đứa con độ lên hai
tuổi đến, xin cho cả hai mẹ con được mặc đại tang. Vì bà ta nói cả
bà lẫn con đều là con ông An-be. Không ai hiểu là tại làm sao. Lại
đến buổi chiều, một bà độ ngót bốn mươi, vừa đến cổng, đã bù lu
bù loa lên: “Ới anh ơi là anh ơi, anh đi đâu anh bỏ tôi!”. Rồi ngồi
xổm bên quan tài, quệt nước mũi vào gót chân, bà ta tự giới
thiệu: “Tôi là ma-đam An-be Thừa!”
Và vân vân.
Tất cả những nhân vật tự xưng là vợ, là con ông Thừa, hẳn là
vợ con phi pháp, đều chưa một lần nào gặp những người gọi là
vợ, là con hợp pháp của ông. Họ cũng chưa một lần nào gặp mặt
nhau. Cho nên tất cả cùng làm cho nhau ngơ ngác. Và, sau khi họ
cãi nhau không đến nỗi kịch liệt lắm, thì những người lạ mặt bị
một thứ tiếng the thé dọa kiện đền danh giá, mắng chửi cho
thêm vài câu, và bị đuổi đi hết.
Song, có một bà thân hình gầy đét đến, không làm ai ngơ ngác
tí nào, còn làm cho nhiều người e ngại nữa. Bà này tóc đã hoa
râm, chân đi tập tễnh. Đôi mắt đau có che bằng mảnh the thâm,
rủ từ khăn xuống kín một nửa mặt. Bà mặc cái váy cũn cỡn và cái
áo dài nâu bỏ xóng tràng. Bà đến nhà ông An-be vào lúc năm giờ
sáng, trước lễ chuyển cữu hai giờ đồng hồ. Vừa đến cổng, bà đã
nước mắt ròng ròng. Bà không chào hỏi ai, đi thẳng tuột vào chỗ
thờ, vắt miếng the che mắt lên khăn để nhìn cho rõ, rồi ôm áo
quan vật vã khóc: “Thầy thằng Mão ơi!”. Bà kể lể là giận nhưng
vẫn thương. Đến khi thấy đông người đứng quanh, bà chuyển
những lời tâm sự với người chết sang những lời xói móc người
sống. Đứng cạnh bà là một người thanh niên lẹm cằm, tức là
Mão, con bà. Tóc Mão để sù, bồng lên. Mặt Mão đầy nốt trứng cá.
Tay Mão đút trong túi quần, hình như thủ một cái gì đó, hung
hăng nhìn mọi người. Rõ rằng là Mão đứng đó để yểm hộ cho mẹ,
sẵn sàng ứng chiến với ai dám gây sự với mẹ hoặc với mình.
Bà này là vợ cưới lần thứ nhất của ông Thừa. Và Mão là con thứ
nhất còn sống của ông ta. Song, họ chỉ là vợ cái con cột trên lý
luận thôi. Thực tế, họ đã bị ông Thừa ruồng bỏ từ lâu. Muốn dứt
khoát với những người mà ông coi như chướng ngại vật, cản trở
hạnh phúc của ông, ông nhờ pháp luật vịn vào cớ vợ hư, con đốn,
để ly dị vợ và từ con. Không có chứng cớ rõ rằng, pháp luật đành
chịu bất lực. Vì vậy, ông phải tự lực đuổi hai mẹ con Mão ra khỏi
nhà.
Từ hơn hai chục năm nay, ông Thừa ở với người vợ khác.
Người này là Tây lai - chứ không phải đầm lai, vì không mặc đầm
- tên là Ma-ri. Ma-ri đã lần lượt đẻ ở nhà ông tám lần, nhưng còn
lại hai trai và ba gái, năm nay con út đã mười lăm tuổi. Cả năm cô
cậu đều đặt tên Tây hết. Hai trai là Pôn Thừa, và Giăng Thừa. Ba
gái là Rô-da-lin Thừa, Ma-gơ-rít Thừa và Ca-mê-li-a Thừa. Cả
năm cô cậu đều học trường Tây, trường Lít-xê. Đến năm ba tiểu
thư choai choai, thu hút được nhiều bạn trai, thì bọn bạn gái của
Pôn và Giăng xui các cô đặt biệt hiệu Việt Nam. Rô-da-lin lấy tên
là Bạch Hường, Ma-gơ-rít là Kim Cúc, Ca-mê-li-a là Trà Mi. Người
ngoài, những kẻ hiếu sự, thường đem việc ông Thừa đặt tên Tây
cho con, có dính tiếng Thừa vào sau tên tiếng Tây, để đánh năm
cái dấu hỏi khá lớn. Họ thì thầm rằng tại sao không có đứa nào
lấy họ Trần, và đứa nào cũng “thừa”. Ý họ tán rằng những đứa
con này đều là con thừa, do Tây đúc cốt. Ông Thừa chỉ làm việc
tráng men thôi. Rất hả hê về dư luận này, bà mẹ Mão thêm một ý
kiến đanh thép. Bà vin vào tiêu chuẩn cụ thể là máu mủ ông
Thừa thì phải lẹm cằm. Bà tựa vào cái thứ kinh nghiệm chủ
nghĩa ấy để gây chiến tranh lạnh với bà Ma-ri. Cho đến năm bọn
con của người Tây lai lớn lộc ngộc, đứa nào cũng ngỗ nghịch,
hung hăng, thì bà đâm hoảng, đành ngậm miệng mà vĩnh viễn
chịu cái tai nạn xâm lăng. Bây giờ, nghe tin ông Thừa chết, bà
mới đến nhà ông, để khóc ông một tiếng. Thôi thì nghĩa tử là
nghĩa tận. Dù sao cũng ăn ở cho phải đạo làm vợ.
Mão là con trai, nên cứng hơn mẹ. Hắn không chịu nước ức.
Thỉnh thoảng hắn đón đường, gặp bố, để vòi tiền. Nhưng thấy
hắn lêu lổng, hư đốn quá, không bao giờ ông Thừa thí cho một
xu. Hắn dọa giết Ma-ri, giết lũ con riêng của ông và giết ông. Ông
sợ quá, phải đi trình cẩm.
Không hiểu vì sao lần này ông Thừa ốm, Mão lại biết tin. Hắn
nhân lúc nhà vắng người, lọt vào được với ông. Hắn bắt ông chia
của. Nhưng ông còn đủ sức để chửi hắn và đuổi hắn ra khỏi
ngoài, ông ra lệnh cho gia nhân từ nay phải cấm cửa hắn. Nếu
hắn cứ xồng xộc vào, thì lập tức phải đi báo đội sếp. Ông lại bắt
Pôn và Giăng luôn luôn ở cạnh ông để canh cho ông.
Từ hôm Mão đến, ông Thừa bực mình, đâm ra ốm nặng thêm.
Bà Ma-ri không dám dùng đơn của đốc-tờ Pi-ca là bác sĩ của gia
đình nữa, mà mời ông thầy Cắm-xềnh ở Quảng Đông mới sang,
để xem mạch bốc thuốc cho ông. Rồi cả bác sĩ Tây, bác sĩ Ta, lẫn
ông lang Tàu, ông lang Ta, đều cam đoan rằng bệnh ông không
can gì, chỉ vì ông nghĩ ngại phiền uất, nên có vẻ nặng mà thôi. Bà
Ma-ri đến cả điện ở nhà cô Bé Tý Hàng Bạc để cầu và xin thẻ. Ngài
dạy bản mệnh vững. Bà càng yên lòng.
Song, ông Thừa chết, chết một cách đột ngột. Hôm ấy bà Ma-ri
đi lễ, Pôn và Giăng đã không nghe lời bố mà canh cho bố, lại nghe
lời bạn gái nó rủ đi đánh cá ngựa. Thế là Mão lọt được vào trong
nhà. Hắn vào buồng ông Thừa, khóa trái cửa lại. Hắn ở đấy độ
mười phút rồi ra. Nhưng vừa mới đến cổng, bất thình lình, hắn
gặp bà Ma-ri về. Biết là có sự chẳng lành, bà hô hoán lên, sai
người bắt Mão lại, nhốt hắn vào nhà ô tô.
Lúc bấy giờ, trên giường bệnh, ông An-be đang phì phò thở
rốc. Chân tay ông co quắp, mặt mũi ông nhăn nhó. Trông y như
người đương dùng hết sức lực để đánh nhau. Bà Ma-ri lay gọi,
nhưng ông bất tỉnh. Bà bật đèn lên, thấy chăn đệm xô lệch và
miệng ông méo xệch, môi dưới lại rơm rớm máu. Ông không cựa
được và cũng không nói được. Rồi độ năm phút sau, chân tay vẫn
co quắp, mặt vẫn nhăn nhó, miệng vẫn méo xệch, ông lịm dần.
Bà Ma-ri bật ra tiếng khóc. Từ giờ phút này, ông là người thiên
cổ, là bạn trăm năm của bà có một phần năm thời gian.
Nghi là Mão giết ông An-be, song bà Ma-ri vẫn giữ được nghị
lực. Tuy một mặt bà lo tang lễ sao cho xứng đáng, tuy một mặt
bà định trình tòa khám nghiệm tử thi của chồng, nhưng bà
không quên sai các con bà lục soát nhiều lần rất kỹ trong buồng,
để tìm chùm chìa khóa két. Song, cuộc khám nghiệm không tìm
ra dấu vết khả nghi. Trên da thịt không có một thương tích.
Trong máu không có một chất gì có thể ngờ là thuốc độc. Không
có hiện tượng để kết luận rằng đây là vụ giết người, tự sát hay
bức tử. “Sở dĩ ở môi dưới của người chết có tí máu, là vì trước khi
thở hơi cuối cùng, trong một trường hợp nào đó, và vì một lý do
nào đó, ví dụ vì lý do tắt thở bất ngờ và trong trường hợp người
ốm đã mê man loạn óc, thì có thể là tự mình mím miệng để
chính răng cửa của mình cắn vào thịt. Chỗ sây sát của môi là do
răng gây nên. Bề ngang bề dọc của vết thương và bề ngang bề dọc
của răng đã được đo và khớp với nhau rất đúng”.
Vì vậy, việc ông An-be Thừa chết, theo biên bản của tòa,
không phải là một vụ án bí mật có thể viết thành truyện trinh
thám ly kỳ. Vả lại, bà Ma-ri cũng mong nó như thế thôi. Để khỏi
gây ra dư luận, để khỏi mấy ông nhà báo đến điều tra, phỏng
vấn, và dọa phóng đại để làm tiền. Lôi thôi và phiền phức lắm.
Nhưng khi tìm khắp buồng, thì bà vẫn không thấy chùm chìa
khóa. Việc mất trộm này mới là hệ trọng! Bà đoán chắc rằng Mão
đã cố cướp chùm chìa khóa ở trong túi áo ông An-be. Mà ông thì
nhất định chống giữ. Cho nên môi ông mới mím chặt, mặt ông
mới nhăn nhó và chân tay ông mới co quắp. Chùm chìa khóa ấy,
ông vẫn bảo với bà là phải để ông giữ. Ông sợ giao cho bà thì,
chiều nuông lũ con, bà mở két, lấy tiền cho chúng nó tiêu xài,
vung phí hết.
Mất chùm chìa khóa là mất cả. Tiền ở trong két, chúc thư, văn
tự cũng ở trong két. Không thể nào những thứ này lại lọt vào tay
Mão. Nhưng, trong lúc ông An-be vừa nằm xuống, tang gia bối
rối, thì bà là chủ nhà, càng phải bình tĩnh. Bà đã giam Mão lại
một nơi rồi. Thế là yên trí. Người còn ở trong nhà, thì chìa khóa
chưa thể ra ngoài. Mai kia, đòn hội chợ của nhà săng-tan sẽ giúp
bà lấy lại được. Bây giờ, bà phải để hết tâm lo lắng ma chay cho
ông. Kẻo thiên hạ người ta trông vào.
Nhưng bà Ma-ri có được để hết tâm trí vào việc lo lắng ma
chay cho ông An-be đâu. Chốc chốc lại một vợ, chốc chốc lại một
con của ông đến khóc lóc, xin khăn áo, xin mũ gậy. Bà đã cương
quyết được với bọn này, thì thình lình bà mẹ của Mão tới. Và
cũng không hiểu là làm thế nào, cũng lúc này, Mão ra thoát nhà
xe, chạy đến chỗ thờ, đứng cạnh mẹ hắn.
Nhìn thấy Mão, bà Ma-ri không lo hắn sinh sự, đánh hay giết
người, bằng lo hắn mang chùm chìa khóa ra khỏi nhà. Bà sai Pôn
và Giăng phải cởi áo sô, bỏ mũ nùn rơm ra, cố sống cố chết, lấy lại
cho kỳ được. Pôn và Giăng rình khởi thế công. Mão cũng ngầm
giữ thế thủ. Lúc nào tay hắn cũng thu thu trong túi quần, hình
như sẵn sàng rút khí giới ra để nghênh chiến.
Từ lúc bà mẹ Mão thấy có con đứng cạnh, thì bà được vững
tâm. Bà không kể lể, nói cạnh nói khóe bà Ma-ri nữa. Bà có thể để
không cần làm chiến tranh lạnh. Và bà Ma-ri cũng muốn gây ra
chiến tranh nóng, để trong lúc loạn xạ, hai con bà có dịp xông
vào Mão, cố cướp lại chùm chìa khóa. Bà bỏ mũ mấn, cởi áo sô
bằng vải màn, và tụt cái quần chúc bâu xổ gấu. Bà búi tóc ngược
lên, gài cho thật chặt.
Khi hai bên đối phương đã tự nguyện tự giác đánh nhau, thì
chiến tranh dễ bùng nổ thôi. Bắt đầu là những lời lăng mạ trực
tiếp. Bà mẹ Mão chửi bà Ma-ri là con đĩ lang ben. Bà Ma-ri chửi bà
mẹ Mão là con nhà thổ. Hai bà cùng đổ lẫn tội cho nhau là cướp
chồng của mình. Thế là giai đoạn quân sự kế tục giai đoạn chính
trị ngay. Chiến tranh được dàn ra hai trận tuyến. Một trận tuyến
là hai bà. Ở đây, có những tiếng soàn soạt vải bị xé. Trên thực tế,
hai bà không ai cầm khí giới, nên không có việc đổ máu. Nhưng
trên lý luận, tai người ngoài có nghe thấy những tiếng khí và
tiếng máu. Kịch liệt hơn là ở trận tuyến bọn thanh niên. Pôn và
Giăng có lợi thế, là đứng hẳn lên trên mặt áo quan cho cao. Hai
anh em nhảy vào Mão. Vật lộn khá lâu. Cuối cùng, vì biết một
mình không địch nổi với hai đứa, Mão làm kế thoát thân. Hắn
không dùng tay để chống với Pôn và Giăng, mà dùng tay để thọc
vào túi quần. Ai cũng tưởng hắn rút dao ra đâm. Chẳng hóa ra
hắn rút chùm chìa khóa, rồi quăng ra thật xa. Tiếng loẻng xoẻng
như reo. Có lẽ cả bà Ma-ri lẫn các con của bà cũng như reo ở trong
bụng. Tức thì, cả ba người bỏ địch đấy, chạy đến góc nhà vồ lấy
chùm chìa khóa. Bà mẹ Mão vừa thở, vừa ngồi vấn lại khăn. Còn
Mão thì đứng sát lưng vào tường để giữ thế thủ, rồi đút tọt một
cái gì cầm ở trong tay vào miệng. Pôn đâm nghi, chạy lại phía
Mão. Bất thình lình, một vật nữa ở tay Mão rơi xuống đất. Mão
vội vàng cúi xuống nhặt, và lại đút tỏm vào miệng. Vật ấy, mọi
người đã trông thấy, nó nhỏ như hạt ngô, cũng màu vàng như
màu ngô, nhưng óng ánh. Pôn ôm lấy Mão. Giăng bóp cổ Mão.
Cuộc xô xát lại tiếp diễn.
*
* *
Trong nhà trong ồn ào là thế, nhưng vì cửa đóng kín, lại cách
nhà ngoài một cái sân dài, nên khách khứa tịnh không ai nghe
thấy tiếng gì. Các cụ tuần, cụ án, các quan phủ, quan huyện các
quan nghị, quan hàn, vốn quan liêu đã đành, cho đến các ông
chủ thầu, chủ báo, nhà văn, các ông lang, các bạn bè ông An-be,
các bạn bè bà Ma-ri, các bạn bè của Pôn, của Giăng, các bạn bè của
Rô-da-lin, của Ma-gơ-rít và của Ca-mê-li-a không ai biết gì hết.
Rô-da-lin và Ma-gơ-rít, vì lớn tuổi và thạo đời, được cắt vào việc
tiếp khách. Hai cô vẫn đánh phấn, bôi son, chải tóc bóng nhẫy
như ngày thường. Hai cô còn thấy mình đẹp hơn ngày thường, vì
mặc toàn đồ trắng bằng voan, chứ không bằng vải màn như mẹ.
Quần áo trắng làm nổi nước da trắng những phấn. Lắm lúc soi
mình vào gương, hai cô hãnh diện và tự hào, thấy mình không
khác gì những cô đầm khoác tay người yêu vào nhà thờ làm lễ
cưới. Hai cô gióng giả người nhà pha nước, lấy thuốc lá, lấy trầu,
như những cô gái đảm đương và quán xuyến.
Khách đứng hoặc ngồi thành từng bọn, theo nghề nghiệp của
họ. Khách quý được mời vào buồng đặc biệt. Họ nói chuyện với
nhau về nghề nghiệp, về sinh hoạt hàng ngày. Ít người nhắc đến
ông An-be. Nhiều người nhắc đến việc làm ăn, đến canh mạt
chược hoặc chầu hát tối hôm trước. Ít người để ý đến kẻ khác giới
của mình. Nhưng nhiều người giới nam để ý đến những người
giới nữ, nhất là đến hai chị em cô Rô-da-lin và Ma-gơ-rít nhí
nhảnh. Nhà văn Thanh Xuân đã nhân dịp này, tặng được hai
Nàng Thơ một bài cú Đường luật, mà ông làm đã lâu, nhưng
chưa đưa tận tay. Cụ án Trần cũng quên tuổi mình mà nói giỡn
rất lâu với hai cô, như với bạn.
Song, tuy hai cô tiếp khách văn có vẻ niềm nở, chu đáo, mà
không phải trong bụng không có điều gì băn khoăn. Hai cô biết là
trong nhà có con mẹ nhà thổ và thằng du côn, thì thế nào, cũng
xảy ra chuyện lôi thôi, không khéo thì có án mạng. Nhưng nếu
hai cô chỉ băn khoăn về việc này, thì tất nhiên thỉnh thoảng phải
lắng tai hoặc để mắt vào phía trong. Hai cô chỉ lắng tai và để mắt
ra phía ngoài cổng. Cho đến bảy giờ kém bảy phút, một chiếc xe
cao su đỗ xịch ở hè, một người Pháp bụng tròn, khệ nệ chống batoong đi vào, thì hai cô mới mừng rỡ. Hai cô đon đả đón, nhoẻn
miệng, nhún cẳng, bắt tay và mời vào. Đây là trạng sư Rô-măng,
ân nhân của gia đình, được ông An-be bao để thầu tất cả các việc
thuộc về pháp luật của ông. Người Pháp vào buồng khách đặc
biệt. Tất cả tiếng ồn ào bằng ngôn ngữ Việt Nam đều im lặng.
Dân thuộc địa đứng cả dậy để tỏ lòng kính trọng quan bảo hộ.
Người da trắng được đưa đến ngồi cùng bàn với các quan cụ da
vàng. Cô Ma-ga-rít giới thiệu từng vị. Cô cũng kéo ghế ngồi ở đó
và sai người mở rượu bia.
Cô Rô-da-lin ở nhà ngoài. Cô vẫn chưa hết băn khoăn, chốc
chốc cô lại nhìn ra cổng. Đám ma cha cô có một người Pháp đi
đưa, đã là giá trị lắm rồi. Nhưng cô chưa thỏa mãn. Gia đình quen
thân với rất nhiều quý quan. Những vị này đã nhận được cáo phó
cả rồi. Thế nào ông đốc tờ Pi-a, bác sĩ riêng của nhà, chẳng đến.
Thế nào ông cẩm mật thám Pha-lăng-xô chẳng đến. Song, cô
mong nhất một người Pháp nữa, đã hẹn là thế nào cũng đến.
Người này là một công chức trẻ ở sở Lục Lộ, người bạn cởi mở
đầu tiên trong đời con gái của cô. Đưa cha đến chỗ ở cuối cùng, cô
buồn lắm. Có chàng cùng đi, thì cô vui. Vắng chàng trong lúc
này, cô chịu sao nổi trống trải gấp đôi ở trong lòng. Cô mong
từng phút từng giây. Có chiếc xe nhà sơn màu cánh dán nào sắp
tới, cô cũng hồi hộp. Thấy không phải người mình mong đợi, cô
lại thở dài, bụng trách ngầm ai lỗi hẹn.
Song, ý trung nhân của Rô-da-lin không lỗi hẹn. Người Pháp
thầy cãi đến được hơn ba phút, thì người Pháp Lục lộ đến. Cô gái
mừng rơn, chạy ra, nói cười rối rít. Miệng chúm chím, cô đi song
song với bạn thân ái, đưa hắn vào trong buồng đặc biệt. Rồi cô
sực nhớ rằng trong nhà trong đương có chuyện rắc rối, không
khéo thì phải hoãn giờ chuyển cữu. Sai lời là phụ lòng quý khách.
Nghĩ vậy, cô vội vàng bỏ bạn, chạy vào. Cô định dọa dẫm mọi
người ở trong nhà là có hai ông Tây đến đưa đám, thì đúng bảy
giờ, thế nào cũng phải chuyển cữu. Để người trên phải chờ đợi, là
bất nhã.
Lúc ấy là bảy giờ kém một phút. Cô Rô-da-lin gõ cửa mạnh để
gọi, nhưng ở phía trong, không có tiếng trả lời. Cô sốt cả lòng cả
ruột. Phen này thì mất hết sĩ diện. Từ ngoài cổng đi vào người
chủ hiệu đòn đám ma, đã lừng lững dẫn hai mươi phu đòn đương
tiến vào. Cô giơ cổ tay, nhìn chiếc đồng hồ vàng nhỏ xíu: kém ba
giây nữa là đúng bảy giờ. Ruột cô như mớ bòng bong. Rồi kém
hai giây, một giây nữa. Rồi đúng bảy giờ. Cô thở dài đánh thượt.
Bỗng tiếng khóa kêu lạch xạch: hai cánh cửa mở toang. Hai lá
màn đen từ từ kéo cao lên, như màn sân khấu. Lửa nến trong
buồng tối lấp lánh như sao. Người mặc trắng đứng lố nhố, nhưng
im phăng phắc. Thật là không ngờ. Cô Rô-da-lin hởi lòng hởi dạ.
*
* *
Nguyên là ban nãy, Mão bị Pôn ôm và Giăng bóp cổ, thì hắn
đau và nghẹt thở. Hắn phải há miệng lè lưỡi. Cái vật ngậm ở
trong suýt nữa rơi xuống đất. Thì may làm sao, một giọng ồm
ồm của người chú họ ông Thừa, vẫn gọi là cụ điều Hai, nói to:
- Thôi! Đôi bên! Không được đánh nhau nữa! Đến giờ ch...
 





