TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU VỀ WEBSITE HỌC LIỆU

    Kính gửi quý thầy cô và các em học sinh thân mến,Trang học liệu điện tử của Thư viện Tiểu học Tân Đông Hiệp là một nền tảng số tích hợp chất lượng, chuyên nghiệp, được thiết kế để phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu của thầy cô cùng các em học sinh. Giao diện trang web hiện đại, dễ điều hướng, tận dụng các yếu tố công nghệ như trích dẫn khoa học, phân loại theo lĩnh vực (Văn học, Toán học, Khoa học tự nhiên, Lịch sử…), và cho phép truy cập tài liệu nhanh chóng theo từ khóa, thể loại hoặc độ tuổi phù hợp. Hệ thống hỗ trợ tải về các file PDF, bài giảng minh họa, video minh họa dạng đồ họa, giúp người sử dụng dễ dàng tiếp cận tri thức, học liệu hỗ trợ giảng dạy – học tập mọi lúc, mọi nơi. Dưới sự phối hợp của các thầy cô giáo giàu nhiệt huyết, giàu kinh nghiệm sư phạm và luôn cập nhật phương pháp giảng dạy tiên tiến, học sinh toàn trường được khuyến khích phát triển toàn diện từ nhận thức khoa học đến kỹ năng tự học, sáng tạo. Nhờ nền tảng học liệu số này, việc tiếp cận thông tin trở nên minh bạch, hiệu quả và có hệ thống, khuyến khích việc phát triển tư duy logic, phân tích phản biện và khám phá tri thức một cách bài bản, sâu sắc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Screenshot_1309.png 35_Phieu_Bai_tap_cuoi_tuan_Mon_Toan_Lop_2_Bo_sach_Canh_dieu.jpg GiaoantrinhchieuMonToan2Hocki1Bosachcanhdieu.jpg KehoachbaidayDaoducLop3BosachKetnoitrithuc2022tieuhocvn.jpg TiengViet4KetnoiTuan5Bai9Tiet3LuyentuvacauDongtuTrang41.jpg ClipartKey_135275.png TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet3Trang31.jpg ClipartKey_191402.png TiengViet4KetnoiTuan7Bai16Tiet1va2TruocngayxaqueTrang66.jpg TiengViet3KetnoiTuan5Bai9DocDihocvuisaotrang43.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai6Tiet12DocNghesitrongTrang26.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai5Tiet1DocthanlanxanhvatackeTrang23.jpg TiengViet3KetnoiTuan3Bai6Tiet1Doc_NhatkitapboiTrang26.jpg Motvaibienphaptochuctrochoihoctaptrongmondaoduclop2.jpg Thumbnail_Ca_chua.png

    TẠP CHÍ THƯ VIỆN

    LIÊN KẾT LIÊN THƯ VIỆN

    💕💕Thư viện chính là kho báu, nơi mỗi cuốn sách là một viên ngọc quý." – Anonymous💕Đọc sách làm cho tâm hồn ta tinh tế, trí tuệ ta sáng suốt và nhân cách ta vững vàng." – Anonymous💕

    Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn

    dong-rac-cu-tron-bo

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 07h:20' 16-03-2024
    Dung lượng: 13.7 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Mục lục
    TẬP MỘT
    §1. Một ngôi nhà của một người
    §2. Con bò lạc
    §3. Cu-li cút-kít
    §4. Ma-ri
    §5. Lại một nghề nữa không có ghi ở trong lòng minh tinh
    §6. Mặc cả với con cái của một người đã dày công tu nhân tích
    đức
    §7. Một cuộc diễn kịch: ngoài sân khấu và trong hậu trường
    §8. Tin bất thường
    §9. Những mặt bất thường
    §10. Việc bất thường
    §11. Vỡ lòng
    TẬP HAI
    §1. Một gia đình Hà Nội
    §2. Gió lọt
    §3. Xuống chó
    §4. Anh hùng mạt lộ
    §5. Một bậc thầy
    §6. Lại một bậc thầy
    §7. Động rừng
    §8. TYL
    §9. Bồi dưỡng tư tưởng
    §10. Nỗi lòng
    §11. Một việc đã rồi
    §12. Nhà con...
    §13. Chồng chị, chồng tôi
    §14. Thưa rằng
    §15. Em với chị
    §16. Cha mẹ với con
    §17. Bệnh viện với bệnh nhân
    §18. Tôn giáo với kẻ có tội
    §19. Khoa học với sự sống chết
    §20. Sở Mật thám với những việc phải thám
    §21. Thần Công lý với người chết oan
    §22. Để kết thúc
    TẬP BA
    §1. Bà Hàn và ông Hàn

    §2. Mười năm về trước
    §3. Hàng về
    §4. Một con ma còn sống
    §5. Cha ốm nặng về ngay
    §6. Đường danh
    §7. Thử lửa
    §8. Chuyến tàu vét
    §9. Những cái thối cứu được cái thơm
    §10. Quen mui thấy mùi đánh mãi
    §11. Anh Xi
    §12. Thế thì ai là kẻ có tội
    §13. Vợ con
    §14. Khi gương đã soi
    TẬP BỐN
    §1. Vấn đề đồn điền
    §2. Xuy-dan
    §3. Một người quản lý tốt nhất
    §4. Nợ nước thù nhà
    §5. Đầu voi đuôi chuột
    §6. Cuộc giao tranh
    §7. Trận quyết liệt
    §8. Khao thất bại
    §9. Những ngày đầu trong cuộc kinh doanh
    §10. Mại bản cậu
    §11. Người học trò đắc đạo
    §12. Để được giáp riêng mặt rồng
    §13. Cuộc cạnh tranh
    §14. Tai bay vạ gió
    §15. Vinh dự cái con rồng
    §16. Giá bà cụ còn sống
    §17. Chiếc xe xuống dốc
    §18. Dốc còn sâu
    §19. Một cuộc gặp gỡ tình cờ
    §20. Để đi cho nhẹ nhàng
    §21. Trong những giờ phút sắp lên tiên
    CHÚ THÍCH

    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    I
    MỘT NGÔI NHÀ CỦA MỘT NGƯỜI

    N

    gôi nhà này bè bè, thô thô như một anh chàng to ngang mà
    lùn. Đó là tại khi xây dựng, không có kiểu vẽ trước? Hay tại
    toán thợ nề quê mùa nào đó, muốn khoe là tay cừ mỹ thuật? Họ
    đem nhồi nhét, trộn hổ lốn vào trong tác phẩm cỏn con này tất
    cả những cái họ đã nhìn qua loa thấy ở nhà kiểu Tàu, ở nhà kiểu
    Tây làm theo thời trung cổ, thời hiện đại? Hay tại tiền khoán nhà
    thì to mà tài thợ thì nhỏ? Cho nên để nuốt món đó cho khỏi hóc,
    họ đành liều lĩnh, phóng tay làm cho cái nhà trở thành không ra
    lối lăng gì.
    Thôi mặc kệ. Ta tìm hiểu làm gì cái điều không lợi cho ta ấy?
    Nhà này dù đẹp, dù khéo, dù xinh, hay lố lăng, kệch cỡm, lòe loẹt,
    thì nó cũng là một sự kiện đã rồi.
    Nhà có hai tầng. Tầng gác dẹt đen đét như bụng người nhịn
    đói. Vì ở phía trước, có chừa ra một cái sân rộng. Ở hai tường hai
    bên, trên bộ của chóp sơn xanh, có đắp một cái gờ dài. Gờ là mặt
    hổ phù dang hai chân trước. Mặt hổ phù có đủ cả mắt, mũi,
    miệng, răng, râu. Chân hổ phù có năm móng cong và nhọn. Mặt,
    mũi, miệng, răng, râu và móng, đều bôi đen, vàng, đỏ, nâu,
    trắng, tím. Mình hổ phù trổ vây mặt nguyệt, nhỏ li ti, mỗi mặt
    nguyệt tô một màu sặc sỡ khác nhau. Xin nói thêm, cửa đây là
    cửa chớp giả, mà ngay thời Dân chủ cộng hòa này, ta còn trông
    thấy ở nhiều nhà trong thị xã Hải Dương. Không mở được vì nó
    đắp bằng vữa. Nhưng ở cửa chớp thật bằng gỗ, hàng răng lắp vào
    khung thế nào, thì ở cửa chớp giả này, cũng y hệt như thế. Lại có

    đủ cả từng ấy chiếc bản lề, cũng đắp bằng vữa, nhuộm đúng màu
    sắt. Phía trước mặt tầng dưới, dưới ba cái mái cong, nổi lên
    những dòng ngói ống kiểu tàu sơn tím, có ba cửa tò vò, nhưng lại
    xây bịt kín. Lèo cửa bộ giữa chạy nho sóc, hai bộ bên chạy qua
    điệp. Để lên gác, một cái thang cuốn xây áp vào tường, gồm
    chừng hai chục bậc. Thang có mái, là một con rồng uốn tròn,
    đứng bằng mười chân, dính vào bậc, tức là tay vịn. Ba mặt sân
    gác có ba hàng bao lơn, mỗi cái bao lơn nặn hình con tiện, mỗi
    con tiện sơn một màu khác nhau. Ở một góc sân gác, dựng một
    cái giàn xây, với hàng xà ngang xi-măng xếp đều tăm tắp, như
    kiểu giàn dây leo ở công viên các thành phố. Mái gác trát nhân
    bằng vữa màu gạch. Trên đường bờ chính giữa, gắn một chiếc
    đồng hồ giả, kim ngắn chỉ thẳng lên con số 12, nhưng kim dài
    nằm ngang với con số 3. Những con số đều viết chữ La-mã. Trên
    đỉnh đồng hồ, có nhoi lên cái cổ nậm rượu, dưới thắt cổ bồng,
    trên phình ra, rồi thon dần. Dọc đường bờ, bên phải và bên trái
    cái đồng hồ, đi bát tiên bằng xi-măng. Và ở hai đầu, hai con
    phượng ngậm cuốn thư, uốn quặt cái đuôi lại.
    Phía mặt gác trông ra sân, có ba bộ cửa. Hai bên tả hữu, là lối
    cửa bức bàn, cánh nào phần trên cũng là đường triện triết chi lá
    giát, và phần dưới, bịt kín, trổ bốn thứ cây mai, lan, cúc, trúc. Tôi
    quên không nói là nhà này không làm bằng tí gỗ nào, dù là các
    cánh cửa, toàn là xi-măng và vữa thôi. Chỉ trừ có cái cửa giữa gác,
    vì cần cho ánh sáng lọt vào trong, nên là kính. Cả một mặt kính
    lắp sau bức diềm y môn vữa màu đỏ. Tuy mưa nắng lâu ngày đã
    làm kính hơi mờ đi, nhưng ở ngoài trông vào vẫn rõ. Rõ là rỗng
    trơ. Trên sàn, không bày bàn ghế, tủ sập. Và trên tường, không
    treo hoành phi, câu đối. Chỉ có mỗi một cái. Cái này là tấm
    truyền thần bán thân một người bằng sơn màu. Tấm truyền
    thần dựng kín cả mặt tường hậu. Xin mở một dấu ngoặc để than

    thở vài câu về cái công trình thuộc về mỹ thuật này. Nhất định
    tấm truyền thân đây không phải là vẽ. Thời này, muốn truyền ai,
    nhất là những người giàu, thích hệt ảnh màu, thì mấy ông thợ vẽ
    lười vẽ đã phát minh ra một cách làm việc, vừa đỡ tốn công, vừa
    giống in như ảnh. Có gì đâu. Các ông nhận ảnh của khách hàng,
    đem chụp lại vào kính, rồi phóng cho to ra. Quần áo và các thứ
    trang trí, ai muốn thế nào, các ông cho được như thế tuốt. Vì đã
    có sẵn những mẫu cũ. Chỉ cần khách trả một món tiền ngang với
    giá trị những thứ làm tăng giá trị con người vẽ. Còn cái mặt,
    đáng lẽ truyền khó và lâu nhất mới giống thì các ông có ở ảnh
    rồi. Chỉ còn việc lấy thuốc màu, tô cho nước da hồng, cho đôi môi
    đỏ. Rồi phết một lượt quang dầu lên trên. Thế là chu. Giống ảnh
    không chê được! Và bền cố hỉ!
    Bức truyền thần bày trong nhà này là chân dung một ông.
    Thường thì các ông đi mượn vẽ hay bắt bẻ người thợ vẽ đã vẽ
    không giống mình trong ảnh mà mình thuê phóng, chứ không
    bao giờ quan tâm đến việc ảnh có giống mình hiện tại, tức là lúc
    mình đến đưa nó cho người ta vẽ hay không. Bởi vì bao giờ các
    ông cũng chọn cái ảnh đã chụp bất cứ vào năm nào, miễn là nó
    đẹp nhất. Nghĩa là nó phải đáp ứng đủ ba tiêu chuẩn: mặt mũi
    trắng béo, quần áo bảnh chọe, và đáng điệu oai vệ. Nếu khi chụp,
    người thợ ảnh đã có thói quen về một thứ mỹ thuật nào đó, biết
    xóa hết trong kính đã rửa những nét nhăn nheo trên mặt, để khi
    in ra giấy, cái mặt ấy được chỉnh lý, cải biên nhiều nhiều, cho
    xinh đẹp nhiều nhiều, thì khi ngắm ảnh, khách hàng càng khen
    nhiều nhiều.
    Cái ông trong tấm truyền thần này, mặt ngửa lên. Rõ rằng là
    người tự hào hơn cả một người có cái gì đáng tự hào. Vẻ mặt tự
    hào của ông này lại đi đến mức độ có thể gọi là vênh váo. Ông ta
    đã dùng một vật trang trí nhân tạo, làm cảnh cho đôi mắt, để

    mình được ngờ là học giả. Đó là cặp kính trắng tròn, lớn, gọng đồi
    mồi. Ria ông ta cũng làm cảnh cho miệng ông. Vật trang trí này
    tuy thiên nhiên, nhưng không khỏi không được đặt vào đó công
    lao động sáng tạo. Nó đen nhánh, hai bên đối nhau. Đầu ria
    hướng phía nhân trung thì rậm và to, nhưng đuôi ria quẫy ra
    phía cạnh mép thì cắt nhọn hoắt và uốn vểnh lên. Thuở này, gọi
    kiểu râu này là râu Tây, dù nó mọc trên môi bất cứ người nước
    nào. Đáng lẽ một nạm râu chổi sể còn phải đâm thẳng từ cằm
    ông ta xuống nữa mới hợp lý. Nhưng Tây cạo nó đi, thì ông ta
    cũng cạo nó đi. Cho nên đôi môi mỏng và cái cằm lẹm của ông, vì
    phải theo thời, mà không được ngụy trang. Tóc ông ta cũng đen
    như râu. Rẽ giữa. Hai bên chải lật hai múi, gồ và cong như hai cái
    cổng tò vò.
    Tóm lại, ông này, mặt phình và nhẵn như mặt một cậu con
    trai, nhưng lại lạc vào đó hai con nong nóc ở trên mép. Khó lòng
    mà đoán được ông ta bao nhiêu tuổi.
    Ông ta mặc Âu phục. À, ra nếu ông ta để râu cằm, thì làm sao
    ta nhìn thấy được cái cổ cồn là bóng lộn và cái ca-vát màu cánh
    trà, gài vào sơ mi bằng chiếc ghim có đầu bằng hạt ngọc xanh. Ở
    lỗ khuyết ve áo len màu tím, có đeo lủng lẳng cái vuốt hổ trắng
    bịt vàng, lòng thòng một cái dây vàng, chui vào miệng cái túi
    con ở áo ngực bên phải. Đây là dây đồng hồ. Để người ngoài hiểu
    ngầm rằng nó thả vào trong túi một chiếc đồng hồ quả quýt, và
    tất nhiên, cũng bằng vàng. Trên ngực này của áo ông ta đeo hai
    cái để ai cũng phải chú ý. Một cái hình chữ nhật, ngang độ hai
    đốt, dọc độ ba đốt ngón tay, màu kem, giữa là một dòng năm chữ
    nho, tô đỏ, đủ cả nét rất rõ. Đó là tấm bài ngà. Và năm chữ là Hàn
    lâm viện đãi chiếu. Cạnh thẻ ngà, là cái mà thời ấy gọi là mền-đay.
    Mền-đay này là thứ có miếng vải sọc xanh và vàng, đeo toòng
    teng một cái đầu rồng ngoác mồm bằng kim khí. Đó là tấm An-

    nam long bội tinh của vua ban.
    Vậy thì, ái chà chà! Nhà này là nhà của một vị rất danh giá và
    rất đáng kính trọng. Vì có quan tước và có công với triều đình.
    Nhưng chắc chắn lão ta không là quan thật. Vì mặc Tây, chứ
    không vận phẩm phục. Vả lại, cái Hàm đãi chiếu là thứ hàm
    hạng bét, mà ngay một chức quan hạng bét cũng được đối ngay
    với một hàm cao hơn nhiều. Các bạn muốn biết lão ta là ai làm
    nghề ngỗng gì, xin đọc những chữ đề ở dưới bức truyền thần:
    Monsieur TRAN ĐUC THUA
    dit ALBERT THUA
    Medecin annamite brevete de la Chine
    Journaliste Concessionnaire Amateur
    Membre de la Chambre des Representants du peuple du Tonkin
    Han lam vien Dai chieu
    Decore du Dragon d'Annam
    Decede le 20 du 2e mois de la 12e annee
    du regne Bao Đai
    Vậy đây là một nhà cứu dân độ thế, một nhà doanh nghiệp,
    một tay ngôn luận, một nghị sĩ, đã đội nhiều ơn mưa móc. Và cái
    biệt thự này là cố cư của ông ta. Xin nhận rằng người thật đúng
    thế thật. Nhưng nhà không phải là cố cư. Vì tôi quên chưa nói
    nhà này không ở được. Nó chỉ có tầng gác là rỗng, còn tầng dưới
    thì lèn đặc những đất thó. Và tôi cũng quên, không nói ngay từ
    trên kia, là nhà này bé thôi, chỉ rộng có một thước mốt, dài hai
    thước, và cao một thước hai. Nó xây ở giữa đồng.
    Vậy nó là cái mả?
    Phải. Mả ông Trần Đức Thừa, tức An-be Thừa, thầy thuốc Annam đỗ bằng của nước Trung Hoa, nhà báo, chủ đồn điền, chủ
    tàu thủy, nghị viên viện Nhân dân đại biểu Bắc kỳ, Hàn lâm viện

    đãi chiếu, thưởng thụ An-nam long bội tinh, tạ thế ngày 20
    tháng thứ 2 năm thứ 12 triều vua Bảo Đại. Dịch theo minh tinh
    bằng tiếng Pháp trên kia là như thế.
    Mả ông An-be Thừa nằm giữa một khu năm sào, vuông vắn,
    xung quanh bao vây bằng tường gạch cao ba thước. Có cái cổng
    xây mái kiểu mái nhà táng. Dưới mái, đắp một dòng chữ Pháp,
    gần giống với những chữ: CIMETIÈRE DE FAMILLE. Nghĩa là
    nghĩa trang gia đình. Hẳn là yết thị cho người ngoài đừng chôn
    ẩu xị vào đó. Bên niên hiệu, đề Long phi Đinh sửu niên. Bên lạc
    khoản ghi Thế nghị Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân Thái thường
    tự khanh. Tuần phủ chi sự Lê Văn Bản bái văn.
    Đôi câu đối này, một vế ý nói Nghị trường vắng tiếng từ nay,
    những tư tưởng nhân đạo, những trang báo nảy lửa đã vang
    động đến cửu trùng, đổi nắng hạn thành mưa Âu móc Á. Một vế
    ý nói âm phủ muốn chừng thiếu thầy thuốc giỏi, hai mươi năm
    xây dụng cơ đồ, làm giàu cho nhà, cho nước, nêu tấm gương sáng
    về Pháp - Nam thân thiện.
    Câu đối là thứ văn chương xa xỉ phẩm để thù tạc. Khen ngợi
    người chết không biết cãi và không biết ngượng, câu đối được
    mặc sức nói huênh hoang. Huống hồ chữ nghĩa của một vị đại
    khoa, nghĩ ra để “lạy và than” người “bạn thân” đã khuất, thì
    phần văn chương nhất định được coi là cần thiết hơn sự thật.
    - Sung sướng quá! sống ở nhà đẹp, chết ở nhà cũng đẹp!
    Người thèm tiền nói thế. Nhưng người thèm ruộng thì mỉa:
    - Chỗ này còn chôn được khối người họ Trần mới chật hết đất!
    *
    * *
    Nhưng nghĩa trang này đã chôn thêm ai đâu? Từ Bảo Đại thập

    nhị niên tới nay, Cũng mới chỉ có thon lỏn có mỗi một ngôi trong
    khu vực mênh mông này.
    Thế thì người trong gia đình ấy đâu? Không có ai, hay chưa có
    ai chết? Chưa có ai chết, hay đã có người chết mà chôn ở chỗ
    khác? Cái đó khó lòng mà đoán được. Lý do thế nào, chốc nữa ta
    sẽ rõ. Còn như trong gia đình có những ai thì ta có thể biết được
    một cách tương đối đúng. Tương đối thôi.
    Ngày ông An-be Thừa chết không kể một nghìn cáo phó in
    giấy riêng, bay như bươm bướm ra khắp bốn phương trong nước,
    báo tin buồn cho các cụ, các quan, các ông, các bà, thân bằng cố
    hữu, còn có cáo phó thuê đăng trên tất cả các báo hằng ngày ở Hà
    thành. Thì những hôm cữu còn quàn trong nhà, ngày đầu tiên,
    lần lượt có ba người con trai, trạc mười lăm mười sáu tuổi trở lại,
    đến nhận là con ông và xin mũ gậy. Ngày hôm thứ hai, buổi
    sáng, một thiếu phụ, mặt mũi hiền lành, dắt đứa con độ lên hai
    tuổi đến, xin cho cả hai mẹ con được mặc đại tang. Vì bà ta nói cả
    bà lẫn con đều là con ông An-be. Không ai hiểu là tại làm sao. Lại
    đến buổi chiều, một bà độ ngót bốn mươi, vừa đến cổng, đã bù lu
    bù loa lên: “Ới anh ơi là anh ơi, anh đi đâu anh bỏ tôi!”. Rồi ngồi
    xổm bên quan tài, quệt nước mũi vào gót chân, bà ta tự giới
    thiệu: “Tôi là ma-đam An-be Thừa!”
    Và vân vân.
    Tất cả những nhân vật tự xưng là vợ, là con ông Thừa, hẳn là
    vợ con phi pháp, đều chưa một lần nào gặp những người gọi là
    vợ, là con hợp pháp của ông. Họ cũng chưa một lần nào gặp mặt
    nhau. Cho nên tất cả cùng làm cho nhau ngơ ngác. Và, sau khi họ
    cãi nhau không đến nỗi kịch liệt lắm, thì những người lạ mặt bị
    một thứ tiếng the thé dọa kiện đền danh giá, mắng chửi cho
    thêm vài câu, và bị đuổi đi hết.

    Song, có một bà thân hình gầy đét đến, không làm ai ngơ ngác
    tí nào, còn làm cho nhiều người e ngại nữa. Bà này tóc đã hoa
    râm, chân đi tập tễnh. Đôi mắt đau có che bằng mảnh the thâm,
    rủ từ khăn xuống kín một nửa mặt. Bà mặc cái váy cũn cỡn và cái
    áo dài nâu bỏ xóng tràng. Bà đến nhà ông An-be vào lúc năm giờ
    sáng, trước lễ chuyển cữu hai giờ đồng hồ. Vừa đến cổng, bà đã
    nước mắt ròng ròng. Bà không chào hỏi ai, đi thẳng tuột vào chỗ
    thờ, vắt miếng the che mắt lên khăn để nhìn cho rõ, rồi ôm áo
    quan vật vã khóc: “Thầy thằng Mão ơi!”. Bà kể lể là giận nhưng
    vẫn thương. Đến khi thấy đông người đứng quanh, bà chuyển
    những lời tâm sự với người chết sang những lời xói móc người
    sống. Đứng cạnh bà là một người thanh niên lẹm cằm, tức là
    Mão, con bà. Tóc Mão để sù, bồng lên. Mặt Mão đầy nốt trứng cá.
    Tay Mão đút trong túi quần, hình như thủ một cái gì đó, hung
    hăng nhìn mọi người. Rõ rằng là Mão đứng đó để yểm hộ cho mẹ,
    sẵn sàng ứng chiến với ai dám gây sự với mẹ hoặc với mình.
    Bà này là vợ cưới lần thứ nhất của ông Thừa. Và Mão là con thứ
    nhất còn sống của ông ta. Song, họ chỉ là vợ cái con cột trên lý
    luận thôi. Thực tế, họ đã bị ông Thừa ruồng bỏ từ lâu. Muốn dứt
    khoát với những người mà ông coi như chướng ngại vật, cản trở
    hạnh phúc của ông, ông nhờ pháp luật vịn vào cớ vợ hư, con đốn,
    để ly dị vợ và từ con. Không có chứng cớ rõ rằng, pháp luật đành
    chịu bất lực. Vì vậy, ông phải tự lực đuổi hai mẹ con Mão ra khỏi
    nhà.
    Từ hơn hai chục năm nay, ông Thừa ở với người vợ khác.
    Người này là Tây lai - chứ không phải đầm lai, vì không mặc đầm
    - tên là Ma-ri. Ma-ri đã lần lượt đẻ ở nhà ông tám lần, nhưng còn
    lại hai trai và ba gái, năm nay con út đã mười lăm tuổi. Cả năm cô
    cậu đều đặt tên Tây hết. Hai trai là Pôn Thừa, và Giăng Thừa. Ba
    gái là Rô-da-lin Thừa, Ma-gơ-rít Thừa và Ca-mê-li-a Thừa. Cả

    năm cô cậu đều học trường Tây, trường Lít-xê. Đến năm ba tiểu
    thư choai choai, thu hút được nhiều bạn trai, thì bọn bạn gái của
    Pôn và Giăng xui các cô đặt biệt hiệu Việt Nam. Rô-da-lin lấy tên
    là Bạch Hường, Ma-gơ-rít là Kim Cúc, Ca-mê-li-a là Trà Mi. Người
    ngoài, những kẻ hiếu sự, thường đem việc ông Thừa đặt tên Tây
    cho con, có dính tiếng Thừa vào sau tên tiếng Tây, để đánh năm
    cái dấu hỏi khá lớn. Họ thì thầm rằng tại sao không có đứa nào
    lấy họ Trần, và đứa nào cũng “thừa”. Ý họ tán rằng những đứa
    con này đều là con thừa, do Tây đúc cốt. Ông Thừa chỉ làm việc
    tráng men thôi. Rất hả hê về dư luận này, bà mẹ Mão thêm một ý
    kiến đanh thép. Bà vin vào tiêu chuẩn cụ thể là máu mủ ông
    Thừa thì phải lẹm cằm. Bà tựa vào cái thứ kinh nghiệm chủ
    nghĩa ấy để gây chiến tranh lạnh với bà Ma-ri. Cho đến năm bọn
    con của người Tây lai lớn lộc ngộc, đứa nào cũng ngỗ nghịch,
    hung hăng, thì bà đâm hoảng, đành ngậm miệng mà vĩnh viễn
    chịu cái tai nạn xâm lăng. Bây giờ, nghe tin ông Thừa chết, bà
    mới đến nhà ông, để khóc ông một tiếng. Thôi thì nghĩa tử là
    nghĩa tận. Dù sao cũng ăn ở cho phải đạo làm vợ.
    Mão là con trai, nên cứng hơn mẹ. Hắn không chịu nước ức.
    Thỉnh thoảng hắn đón đường, gặp bố, để vòi tiền. Nhưng thấy
    hắn lêu lổng, hư đốn quá, không bao giờ ông Thừa thí cho một
    xu. Hắn dọa giết Ma-ri, giết lũ con riêng của ông và giết ông. Ông
    sợ quá, phải đi trình cẩm.
    Không hiểu vì sao lần này ông Thừa ốm, Mão lại biết tin. Hắn
    nhân lúc nhà vắng người, lọt vào được với ông. Hắn bắt ông chia
    của. Nhưng ông còn đủ sức để chửi hắn và đuổi hắn ra khỏi
    ngoài, ông ra lệnh cho gia nhân từ nay phải cấm cửa hắn. Nếu
    hắn cứ xồng xộc vào, thì lập tức phải đi báo đội sếp. Ông lại bắt
    Pôn và Giăng luôn luôn ở cạnh ông để canh cho ông.

    Từ hôm Mão đến, ông Thừa bực mình, đâm ra ốm nặng thêm.
    Bà Ma-ri không dám dùng đơn của đốc-tờ Pi-ca là bác sĩ của gia
    đình nữa, mà mời ông thầy Cắm-xềnh ở Quảng Đông mới sang,
    để xem mạch bốc thuốc cho ông. Rồi cả bác sĩ Tây, bác sĩ Ta, lẫn
    ông lang Tàu, ông lang Ta, đều cam đoan rằng bệnh ông không
    can gì, chỉ vì ông nghĩ ngại phiền uất, nên có vẻ nặng mà thôi. Bà
    Ma-ri đến cả điện ở nhà cô Bé Tý Hàng Bạc để cầu và xin thẻ. Ngài
    dạy bản mệnh vững. Bà càng yên lòng.
    Song, ông Thừa chết, chết một cách đột ngột. Hôm ấy bà Ma-ri
    đi lễ, Pôn và Giăng đã không nghe lời bố mà canh cho bố, lại nghe
    lời bạn gái nó rủ đi đánh cá ngựa. Thế là Mão lọt được vào trong
    nhà. Hắn vào buồng ông Thừa, khóa trái cửa lại. Hắn ở đấy độ
    mười phút rồi ra. Nhưng vừa mới đến cổng, bất thình lình, hắn
    gặp bà Ma-ri về. Biết là có sự chẳng lành, bà hô hoán lên, sai
    người bắt Mão lại, nhốt hắn vào nhà ô tô.
    Lúc bấy giờ, trên giường bệnh, ông An-be đang phì phò thở
    rốc. Chân tay ông co quắp, mặt mũi ông nhăn nhó. Trông y như
    người đương dùng hết sức lực để đánh nhau. Bà Ma-ri lay gọi,
    nhưng ông bất tỉnh. Bà bật đèn lên, thấy chăn đệm xô lệch và
    miệng ông méo xệch, môi dưới lại rơm rớm máu. Ông không cựa
    được và cũng không nói được. Rồi độ năm phút sau, chân tay vẫn
    co quắp, mặt vẫn nhăn nhó, miệng vẫn méo xệch, ông lịm dần.
    Bà Ma-ri bật ra tiếng khóc. Từ giờ phút này, ông là người thiên
    cổ, là bạn trăm năm của bà có một phần năm thời gian.
    Nghi là Mão giết ông An-be, song bà Ma-ri vẫn giữ được nghị
    lực. Tuy một mặt bà lo tang lễ sao cho xứng đáng, tuy một mặt
    bà định trình tòa khám nghiệm tử thi của chồng, nhưng bà
    không quên sai các con bà lục soát nhiều lần rất kỹ trong buồng,
    để tìm chùm chìa khóa két. Song, cuộc khám nghiệm không tìm

    ra dấu vết khả nghi. Trên da thịt không có một thương tích.
    Trong máu không có một chất gì có thể ngờ là thuốc độc. Không
    có hiện tượng để kết luận rằng đây là vụ giết người, tự sát hay
    bức tử. “Sở dĩ ở môi dưới của người chết có tí máu, là vì trước khi
    thở hơi cuối cùng, trong một trường hợp nào đó, và vì một lý do
    nào đó, ví dụ vì lý do tắt thở bất ngờ và trong trường hợp người
    ốm đã mê man loạn óc, thì có thể là tự mình mím miệng để
    chính răng cửa của mình cắn vào thịt. Chỗ sây sát của môi là do
    răng gây nên. Bề ngang bề dọc của vết thương và bề ngang bề dọc
    của răng đã được đo và khớp với nhau rất đúng”.
    Vì vậy, việc ông An-be Thừa chết, theo biên bản của tòa,
    không phải là một vụ án bí mật có thể viết thành truyện trinh
    thám ly kỳ. Vả lại, bà Ma-ri cũng mong nó như thế thôi. Để khỏi
    gây ra dư luận, để khỏi mấy ông nhà báo đến điều tra, phỏng
    vấn, và dọa phóng đại để làm tiền. Lôi thôi và phiền phức lắm.
    Nhưng khi tìm khắp buồng, thì bà vẫn không thấy chùm chìa
    khóa. Việc mất trộm này mới là hệ trọng! Bà đoán chắc rằng Mão
    đã cố cướp chùm chìa khóa ở trong túi áo ông An-be. Mà ông thì
    nhất định chống giữ. Cho nên môi ông mới mím chặt, mặt ông
    mới nhăn nhó và chân tay ông mới co quắp. Chùm chìa khóa ấy,
    ông vẫn bảo với bà là phải để ông giữ. Ông sợ giao cho bà thì,
    chiều nuông lũ con, bà mở két, lấy tiền cho chúng nó tiêu xài,
    vung phí hết.
    Mất chùm chìa khóa là mất cả. Tiền ở trong két, chúc thư, văn
    tự cũng ở trong két. Không thể nào những thứ này lại lọt vào tay
    Mão. Nhưng, trong lúc ông An-be vừa nằm xuống, tang gia bối
    rối, thì bà là chủ nhà, càng phải bình tĩnh. Bà đã giam Mão lại
    một nơi rồi. Thế là yên trí. Người còn ở trong nhà, thì chìa khóa
    chưa thể ra ngoài. Mai kia, đòn hội chợ của nhà săng-tan sẽ giúp

    bà lấy lại được. Bây giờ, bà phải để hết tâm lo lắng ma chay cho
    ông. Kẻo thiên hạ người ta trông vào.
    Nhưng bà Ma-ri có được để hết tâm trí vào việc lo lắng ma
    chay cho ông An-be đâu. Chốc chốc lại một vợ, chốc chốc lại một
    con của ông đến khóc lóc, xin khăn áo, xin mũ gậy. Bà đã cương
    quyết được với bọn này, thì thình lình bà mẹ của Mão tới. Và
    cũng không hiểu là làm thế nào, cũng lúc này, Mão ra thoát nhà
    xe, chạy đến chỗ thờ, đứng cạnh mẹ hắn.
    Nhìn thấy Mão, bà Ma-ri không lo hắn sinh sự, đánh hay giết
    người, bằng lo hắn mang chùm chìa khóa ra khỏi nhà. Bà sai Pôn
    và Giăng phải cởi áo sô, bỏ mũ nùn rơm ra, cố sống cố chết, lấy lại
    cho kỳ được. Pôn và Giăng rình khởi thế công. Mão cũng ngầm
    giữ thế thủ. Lúc nào tay hắn cũng thu thu trong túi quần, hình
    như sẵn sàng rút khí giới ra để nghênh chiến.
    Từ lúc bà mẹ Mão thấy có con đứng cạnh, thì bà được vững
    tâm. Bà không kể lể, nói cạnh nói khóe bà Ma-ri nữa. Bà có thể để
    không cần làm chiến tranh lạnh. Và bà Ma-ri cũng muốn gây ra
    chiến tranh nóng, để trong lúc loạn xạ, hai con bà có dịp xông
    vào Mão, cố cướp lại chùm chìa khóa. Bà bỏ mũ mấn, cởi áo sô
    bằng vải màn, và tụt cái quần chúc bâu xổ gấu. Bà búi tóc ngược
    lên, gài cho thật chặt.
    Khi hai bên đối phương đã tự nguyện tự giác đánh nhau, thì
    chiến tranh dễ bùng nổ thôi. Bắt đầu là những lời lăng mạ trực
    tiếp. Bà mẹ Mão chửi bà Ma-ri là con đĩ lang ben. Bà Ma-ri chửi bà
    mẹ Mão là con nhà thổ. Hai bà cùng đổ lẫn tội cho nhau là cướp
    chồng của mình. Thế là giai đoạn quân sự kế tục giai đoạn chính
    trị ngay. Chiến tranh được dàn ra hai trận tuyến. Một trận tuyến
    là hai bà. Ở đây, có những tiếng soàn soạt vải bị xé. Trên thực tế,
    hai bà không ai cầm khí giới, nên không có việc đổ máu. Nhưng

    trên lý luận, tai người ngoài có nghe thấy những tiếng khí và
    tiếng máu. Kịch liệt hơn là ở trận tuyến bọn thanh niên. Pôn và
    Giăng có lợi thế, là đứng hẳn lên trên mặt áo quan cho cao. Hai
    anh em nhảy vào Mão. Vật lộn khá lâu. Cuối cùng, vì biết một
    mình không địch nổi với hai đứa, Mão làm kế thoát thân. Hắn
    không dùng tay để chống với Pôn và Giăng, mà dùng tay để thọc
    vào túi quần. Ai cũng tưởng hắn rút dao ra đâm. Chẳng hóa ra
    hắn rút chùm chìa khóa, rồi quăng ra thật xa. Tiếng loẻng xoẻng
    như reo. Có lẽ cả bà Ma-ri lẫn các con của bà cũng như reo ở trong
    bụng. Tức thì, cả ba người bỏ địch đấy, chạy đến góc nhà vồ lấy
    chùm chìa khóa. Bà mẹ Mão vừa thở, vừa ngồi vấn lại khăn. Còn
    Mão thì đứng sát lưng vào tường để giữ thế thủ, rồi đút tọt một
    cái gì cầm ở trong tay vào miệng. Pôn đâm nghi, chạy lại phía
    Mão. Bất thình lình, một vật nữa ở tay Mão rơi xuống đất. Mão
    vội vàng cúi xuống nhặt, và lại đút tỏm vào miệng. Vật ấy, mọi
    người đã trông thấy, nó nhỏ như hạt ngô, cũng màu vàng như
    màu ngô, nhưng óng ánh. Pôn ôm lấy Mão. Giăng bóp cổ Mão.
    Cuộc xô xát lại tiếp diễn.
    *
    * *
    Trong nhà trong ồn ào là thế, nhưng vì cửa đóng kín, lại cách
    nhà ngoài một cái sân dài, nên khách khứa tịnh không ai nghe
    thấy tiếng gì. Các cụ tuần, cụ án, các quan phủ, quan huyện các
    quan nghị, quan hàn, vốn quan liêu đã đành, cho đến các ông
    chủ thầu, chủ báo, nhà văn, các ông lang, các bạn bè ông An-be,
    các bạn bè bà Ma-ri, các bạn bè của Pôn, của Giăng, các bạn bè của
    Rô-da-lin, của Ma-gơ-rít và của Ca-mê-li-a không ai biết gì hết.
    Rô-da-lin và Ma-gơ-rít, vì lớn tuổi và thạo đời, được cắt vào việc
    tiếp khách. Hai cô vẫn đánh phấn, bôi son, chải tóc bóng nhẫy
    như ngày thường. Hai cô còn thấy mình đẹp hơn ngày thường, vì

    mặc toàn đồ trắng bằng voan, chứ không bằng vải màn như mẹ.
    Quần áo trắng làm nổi nước da trắng những phấn. Lắm lúc soi
    mình vào gương, hai cô hãnh diện và tự hào, thấy mình không
    khác gì những cô đầm khoác tay người yêu vào nhà thờ làm lễ
    cưới. Hai cô gióng giả người nhà pha nước, lấy thuốc lá, lấy trầu,
    như những cô gái đảm đương và quán xuyến.
    Khách đứng hoặc ngồi thành từng bọn, theo nghề nghiệp của
    họ. Khách quý được mời vào buồng đặc biệt. Họ nói chuyện với
    nhau về nghề nghiệp, về sinh hoạt hàng ngày. Ít người nhắc đến
    ông An-be. Nhiều người nhắc đến việc làm ăn, đến canh mạt
    chược hoặc chầu hát tối hôm trước. Ít người để ý đến kẻ khác giới
    của mình. Nhưng nhiều người giới nam để ý đến những người
    giới nữ, nhất là đến hai chị em cô Rô-da-lin và Ma-gơ-rít nhí
    nhảnh. Nhà văn Thanh Xuân đã nhân dịp này, tặng được hai
    Nàng Thơ một bài cú Đường luật, mà ông làm đã lâu, nhưng
    chưa đưa tận tay. Cụ án Trần cũng quên tuổi mình mà nói giỡn
    rất lâu với hai cô, như với bạn.
    Song, tuy hai cô tiếp khách văn có vẻ niềm nở, chu đáo, mà
    không phải trong bụng không có điều gì băn khoăn. Hai cô biết là
    trong nhà có con mẹ nhà thổ và thằng du côn, thì thế nào, cũng
    xảy ra chuyện lôi thôi, không khéo thì có án mạng. Nhưng nếu
    hai cô chỉ băn khoăn về việc này, thì tất nhiên thỉnh thoảng phải
    lắng tai hoặc để mắt vào phía trong. Hai cô chỉ lắng tai và để mắt
    ra phía ngoài cổng. Cho đến bảy giờ kém bảy phút, một chiếc xe
    cao su đỗ xịch ở hè, một người Pháp bụng tròn, khệ nệ chống batoong đi vào, thì hai cô mới mừng rỡ. Hai cô đon đả đón, nhoẻn
    miệng, nhún cẳng, bắt tay và mời vào. Đây là trạng sư Rô-măng,
    ân nhân của gia đình, được ông An-be bao để thầu tất cả các việc
    thuộc về pháp luật của ông. Người Pháp vào buồng khách đặc
    biệt. Tất cả tiếng ồn ào bằng ngôn ngữ Việt Nam đều im lặng.

    Dân thuộc địa đứng cả dậy để tỏ lòng kính trọng quan bảo hộ.
    Người da trắng được đưa đến ngồi cùng bàn với các quan cụ da
    vàng. Cô Ma-ga-rít giới thiệu từng vị. Cô cũng kéo ghế ngồi ở đó
    và sai người mở rượu bia.
    Cô Rô-da-lin ở nhà ngoài. Cô vẫn chưa hết băn khoăn, chốc
    chốc cô lại nhìn ra cổng. Đám ma cha cô có một người Pháp đi
    đưa, đã là giá trị lắm rồi. Nhưng cô chưa thỏa mãn. Gia đình quen
    thân với rất nhiều quý quan. Những vị này đã nhận được cáo phó
    cả rồi. Thế nào ông đốc tờ Pi-a, bác sĩ riêng của nhà, chẳng đến.
    Thế nào ông cẩm mật thám Pha-lăng-xô chẳng đến. Song, cô
    mong nhất một người Pháp nữa, đã hẹn là thế nào cũng đến.
    Người này là một công chức trẻ ở sở Lục Lộ, người bạn cởi mở
    đầu tiên trong đời con gái của cô. Đưa cha đến chỗ ở cuối cùng, cô
    buồn lắm. Có chàng cùng đi, thì cô vui. Vắng chàng trong lúc
    này, cô chịu sao nổi trống trải gấp đôi ở trong lòng. Cô mong
    từng phút từng giây. Có chiếc xe nhà sơn màu cánh dán nào sắp
    tới, cô cũng hồi hộp. Thấy không phải người mình mong đợi, cô
    lại thở dài, bụng trách ngầm ai lỗi hẹn.
    Song, ý trung nhân của Rô-da-lin không lỗi hẹn. Người Pháp
    thầy cãi đến được hơn ba phút, thì người Pháp Lục lộ đến. Cô gái
    mừng rơn, chạy ra, nói cười rối rít. Miệng chúm chím, cô đi song
    song với bạn thân ái, đưa hắn vào trong buồng đặc biệt. Rồi cô
    sực nhớ rằng trong nhà trong đương có chuyện rắc rối, không
    khéo thì phải hoãn giờ chuyển cữu. Sai lời là phụ lòng quý khách.
    Nghĩ vậy, cô vội vàng bỏ bạn, chạy vào. Cô định dọa dẫm mọi
    người ở trong nhà là có hai ông Tây đến đưa đám, thì đúng bảy
    giờ, thế nào cũng phải chuyển cữu. Để người trên phải chờ đợi, là
    bất nhã.
    Lúc ấy là bảy giờ kém một phút. Cô Rô-da-lin gõ cửa mạnh để

    gọi, nhưng ở phía trong, không có tiếng trả lời. Cô sốt cả lòng cả
    ruột. Phen này thì mất hết sĩ diện. Từ ngoài cổng đi vào người
    chủ hiệu đòn đám ma, đã lừng lững dẫn hai mươi phu đòn đương
    tiến vào. Cô giơ cổ tay, nhìn chiếc đồng hồ vàng nhỏ xíu: kém ba
    giây nữa là đúng bảy giờ. Ruột cô như mớ bòng bong. Rồi kém
    hai giây, một giây nữa. Rồi đúng bảy giờ. Cô thở dài đánh thượt.
    Bỗng tiếng khóa kêu lạch xạch: hai cánh cửa mở toang. Hai lá
    màn đen từ từ kéo cao lên, như màn sân khấu. Lửa nến trong
    buồng tối lấp lánh như sao. Người mặc trắng đứng lố nhố, nhưng
    im phăng phắc. Thật là không ngờ. Cô Rô-da-lin hởi lòng hởi dạ.
    *
    * *
    Nguyên là ban nãy, Mão bị Pôn ôm và Giăng bóp cổ, thì hắn
    đau và nghẹt thở. Hắn phải há miệng lè lưỡi. Cái vật ngậm ở
    trong suýt nữa rơi xuống đất. Thì may làm sao, một giọng ồm
    ồm của người chú họ ông Thừa, vẫn gọi là cụ điều Hai, nói to:
    - Thôi! Đôi bên! Không được đánh nhau nữa! Đến giờ ch...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách là cách đối thoại thầm lặng với những bộ óc vĩ đại nhất trong lịch sử." – René Descartes

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG HIỆP - TP. HỒ CHÍ MINH !