Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn
Đằng sau những nụ cười

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:00' 11-03-2024
Dung lượng: 5.0 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:00' 11-03-2024
Dung lượng: 5.0 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
ĐẰNG SAU NHỮNG NỤ CƯỜI
Tác giả: Khánh Ly
Hồi Ký
Công ty TNHH Sách Phương Nam phát hành
Nhà Xuất Bản Văn Học
Đóng Gói: Cuibap
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
1
THAY LỜI TỰA
Viết. Với tôi, nghĩa là ghi lại những sự việc mắt thấy tai nghe. Vui,
buồn, sướng, khổ, giàu, nghèo. Tất cả đều là sự thật từ trái tim, tự đáy lòng
tôi. Đó là vì trách nhiệm. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm... với tôi. Chỉ là
những chuyện lẩm cẩm, nhỏ nhặt của một người đàn bà bình thường. Và tôi
tránh tuyệt đối cái việc được viết của mình làm tổn hại cho người khác.
Sở dĩ tôi chỉ thích viết về những gì tầm thường nhất mà lại hay xảy ra
nhất ở bất cứ gia đình Việt Nam nào, là bởi vì khả năng của một người... ít
học như tôi chỉ cho phép tôi làm được đến như thế mà thôi. Mà quả tình thật,
tôi cũng không muốn, không dám sờ mó tới đời tư của ai. Tôi có hơn gì ai
đâu? Đôi khi còn tệ hơn người khác nữa ấy chứ. Thế cho nên, tôi chỉ thích
ghi nhận lên trên giấy những điều tôi biết rất rõ về tôi, nghĩa là những cái
xấu nhất của mình, để... may ra nó bớt xấu đi chăng.
Người đời thường hay thích đề cập tới những điều ngoài tầm với, những
chuyện “đội đá vá trời”. Nên hay bỏ quên hoặc khinh thường những gì họ
cho là nhỏ nhặt không đáng nói đến. Song cái gần chúng ta nhiều nhất, trói
buộc chúng ta nhiều nhất, làm phiền, làm khổ chúng ta nhiều nhất mà chúng
ta phải nghĩ đến nhiều nhất. Hỡi ơi, lại chính là những cái nhỏ nhất. Thế mới
biết... nói là một chuyện, ai nói thánh, ai nói tướng gì cũng được. Làm, lại là
chuyện khác.
Tôi vốn hèn mọn như cỏ dại, chữ nghĩa không đầy một cái lá. Nhưng...
bia đá còn biết đau thì nói gì là cỏ dại. Tôi cũng có những niềm vui, nỗi buồn
của riêng tôi. Hát một tình khúc, làm một bài thơ. Trước hết là để giải tỏa bớt
nỗi sầu thiên cổ của chính mình, sau nữa là để tìm, để tặng người... tri kỷ. Vô
lý trời đất rộng bao la, bao nhiêu tỉ người, không có lấy một người cùng cảnh
ngộ để chia sớt với mình? Dù là những điều hèn mọn nhất.
Đời sống ở đây dễ làm cho tôi... điên. Hoặc trở thành bệnh hoạn. Cả hai
điều, tôi đều không muốn. Chúa cho tôi một giọng hát, dù không ra gì. Đó là
một... ân sủng. Bạn bè cho tôi một cơ hội, mảnh đất nhỏ nhoi trên báo, để tôi
có dịp ghi lại những gì đến và đi trong đời sống tôi. Đó là một hạnh phúc. Dĩ
nhiên, không phải bất cứ bài nào cũng được mọi người thích. Không phải bất
cứ bài viết nào của tôi cũng được mọi người khen. Tuy vậy tôi không thể
làm khác hơn được là bởi vì... con người tôi như thế. Tôi hay mọi người, đều
có những cái tốt hay xấu. Đều có đầy đủ Hỉ - Nộ - Ái - Ố - Ai – Lạc - Dục.
Có điều, nói rất thật thà, tôi sợ làm điều xấu, tôi sợ xấu hổ khi nhìn mặt mình
trong gương. Đôi khi tôi nghĩ: Đó cũng chưa hẳn là điều tốt. Nhưng tôi vẫn
sợ và vẫn tránh, cố sức tránh để khỏi phải ân hận, để không phải né tránh cái
nhìn của người đối diện.
Tôi là một người có nhiều khuyết điểm. Không thù, giận ai, không dám
hại ai (dù chỉ là ý nghĩ trong đầu). Không dám mong sự dữ cho bất cứ ai.
Khi không làm được điều gì cho ai, tôi áy náy không yên đến độ quay ra
giận chính mình. Tôi chưa bao giờ hơn thua với bạn bè. Ai muốn hơn, cứ tự
nhiên. Ai muốn chửi, cũng cứ tự nhiên. Chẳng bao giờ tôi có ý kiến. Tôi
nghe nhiều, rất nhiều nhưng hình như những điều đó không liên quan gì đến
tôi. Bởi tôi chỉ được nghe qua người này hay người nọ. Thế thì tại sao tôi
phải để ý. Sự im lặng cũng dễ gây ngộ nhận. Nhưng con người tôi vốn như
thế. Như cuộc đời vốn không thể khác. Đó là những khuyết điểm của tôi, làm
tôi luôn luôn bị thiệt thòi. Mà tôi cũng... lạ thật. Có nhiều người chửi tôi,
ngồi đâu chửi đó, cái gì cũng mang tôi ra, như một bằng cớ để mọi người tin.
Nhưng rồi sau đó lại gặp tôi sau điện thoại rất âu yếm, rất ngọt ngào, rất tay
bắt mặt mừng. Tôi cũng cười. Tôi ngu chăng? Không. Tôi không ngu tí nào
cả. Chỉ vì những điều đó, những người đó đã vốn như thế. Tôi biết hết nhưng
không bao giờ nói ra. Tại tôi... muốn ngu mà thôi. Ngu để được bình an vì
không có gì hạnh phúc cho bằng một con người được sống trong sự bình an.
Tôi ăn cái gì, tôi được cái gì khi hơn thua với người khác. Ai ghét tôi người
đó khổ chứ tôi không khổ. Vì ghét, nên họ cứ phải nghĩ đến tôi hoài, phải
tìm trăm mưu ngàn kế để hạ tôi. Do đó họ khổ, cái tâm họ khổ vì cứ phải
nghĩ đến người họ... không yêu. Trong khi đó tôi rất... nhẹ nhàng vì tôi...
không biết. Và tôi... chưa bao giờ cần biết.
Tôi sống rất là... hồn nhiên. Hồn nhiên đến độ làm nhiều người bực mình.
Thì tôi vốn thế. Lòng tôi như chiếc bánh đã bóc ra cho người thấy hết rồi,
không có gì phải che đậy, giấu giếm. Trong gia đình, với chồng. Ngoài xã
hội, với bạn bè, với khán thính giả. Tôi sống hết lòng. Người cho tôi một.
Tôi trả lại mười. Từ 32 năm qua, tôi sống như thế. Tôi chỉ duy nhất... phụ
một người. Người đó đã chết.
Tôi không gần được giới trí thức hay những người thường tự vỗ ngực
khoe mình. Tôi không gần được những người giàu có, danh vọng. Bởi tôi
sống giang hồ từ nhỏ. Tôi thường hãnh diện với chính mình về điều đó. Sống
gần giới giang hồ nên tôi không thích những người... chơi bẩn. Và bạn tôi
toàn những người chạy gạo từng ngày. Nhưng tôi kính phục và quý mến họ.
Mẹ tôi thường phàn nàn về cách ăn mặc giản dị của tôi. 32 năm tôi không
thay đổi. Mẹ tôi lại phàn nàn tiếp, vì sao tôi thương bạn hơn anh em ruột thịt.
Lúc tôi khổ sở, không tiền trả tiền nhà, tôi có thấy anh trên, em dưới nào
đâu? Làm sao mẹ tôi biết và hiểu được nỗi cơ cực của vợ chồng tôi? Nhưng
tôi biết nói thế nào cho mẹ tôi hiểu? Tôi không nói gì cả. Tôi vốn thế.
Mẹ tôi, người sinh ra tôi còn không bắt tôi sống khác đi được, huống chi
là ai. Thì thế đấy, tôi có sao nói vậy nhưng không bao giờ nói bậy. Không
nói bậy thì không làm bậy. Tôi cũng chưa bao giờ tự nhận mình là người lịch
sự, chính vì thế trên sân khấu, hay trong các bài viết trên báo, tôi đã nói rõ
rằng tôi là một người vô học và ăn nói đôi khi rất là... cà chớn. Có điều gì lỗi
lầm, xin bà con, cô bác bỏ lỗi cho.
Nhưng mà những điều tôi nói hay viết dù không phải ai cũng thích, song
cũng có người... không ghét. Đó là những người thích... có sao nói vậy,
những người không hề đòi hỏi những điều quá khả năng của tôi. Bởi đời
sống ở đây quá nặng nề với những... ý đồ vĩ đại, nên đôi lúc, cái lẩm cẩm,
đàn bà cà chớn của tôi đem đến ít phút thoải mái trong... phòng tắm.
Chú Mai Thảo của tôi bảo viết một bài trên báo Văn. Tôi dạ nhưng... vờ
quên. Ông Nguyễn Xuân Hoàng kêu viết, cũng một bài ở Thế Kỷ 21. Tôi
cũng dạ rồi thôi luôn. Lý do, tôi không dám, tôi không xứng đáng được chen
chân, góp mặt. Cũng bởi tôi kính trọng và quí mến những người nghĩ đến tôi,
cho nên không dám đưa cái văn bằng duy nhất của tôi ra (bằng quốc tịch ấy
mà). Sợ làm hai ông mất mặt và những người khác không vui khi có tên tôi
bên cạnh. Như thế cũng có thể gọi là biết điều đấy chứ.
Thường thường, ở những nước văn minh, người ta thường hay khuyến
khích những... mầm non, ở bất cứ lãnh vực nào. Riêng tôi, tôi thấy người
mình hơi khắt khe, hơi... ác với nhau đó. Ác nhiều hơn là khắt khe. Vì ác
khác mà khắt khe khác. Dĩ nhiên là không phải mọi người ở đây đều như thế.
Song người ác nhiều hơn và hay... khoe cái ác của mình, một cách hãnh diện.
Đó chính là nỗi khổ tâm của họ, bởi những người có cái tâm độc ác, sẽ
không bao giờ sung sướng, hạnh phúc cả. Nếu không thế, chẳng hóa ra ông
trời bất công lắm ru.
Chính vì nhiều người không sống với nhau bằng sự tử tế, ngày về mới...
bóng chim tăm cá. Phải chi. Ừ phải chi... Ôi nói ra thì vô cùng, mà lại bị...
chửi là... ca sĩ mà cũng bày đặt nói chuyện nước non. Nhiều khi tôi có cảm
tưởng mình là người... ngoại quốc xa lạ trong cộng đồng mình. Là sao? Rất
nhiều lần, trên tàu bay, tôi bị hỏi: “Mày là người ở đâu đến...” Lúc đầu tôi
hùng dũng trả lời: “Tao từ Việt Nam”.
Nếu bây giờ tôi nói tôi là... người Mỹ. Cũng đúng thôi. Vì tôi đang mang
quốc tịch Mỹ. Tôi nhớ là tôi đã khóc rất lớn, khóc một cách tận tình, làm mọi
người ngạc nhiên, khi giơ tay tuyên thệ, thề bảo vệ xứ sở này. Tôi đã từ bỏ,
chối bỏ nguồn gốc của mình. Bài quốc ca Mỹ vang lên như những mũi đinh
nhọn hoắt đâm thẳng vào tim tôi.
Tôi muốn được mãi mãi làm một người VIỆT NAM... NGUYÊN VẸN
HÌNH HÀI... trong cái cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Một cộng đồng
biết thương nhau bằng trái tim Việt Nam, thì tôi cũng sẽ không phải, không
đến nỗi phải yêu thương cuộc đời bằng chính trái tim... của tôi “MỖI NGÀY
TÔI CHỌN NGỒI THẬT YÊN. NHÌN RÕ QUÊ HƯƠNG, NGỒI NGHĨ
LẠI MÌNH. TÔI CHỢT BIẾT RẰNG VÌ SAO TÔI SỐNG. VÌ ĐẤT NƯỚC
CẦN MỘT TRÁI TIM”. Tôi ở đây và tôi cũng cần một trái tim.
2
Vì Sao Tôi Hát Nhạc Tiền Chiến
Hát trở lại những ca khúc thời Tiền chiến, nói như nhạc sĩ Nguyễn Hiền
là bình minh của nhạc Việt Nam, đối với tôi, còn là một sự trở về, tìm lại
chính mình. Một thời đã qua, qua rất nhanh mà tôi không làm sao có thể
quên được dẫu nỗi nhớ về đó, luôn luôn làm tôi đau lòng và chảy nước mắt.
Ngày xưa... ngày xưa... Bất cứ chuyện gì đã xảy ra, dù chỉ mới ngày hôm
qua, thường được bắt đầu bằng hai chữ: Ngày xưa. Tưởng chừng như một
câu chuyện thần thoại, cái ngày xưa ấy thoạt nghe có vẻ xưa lắm nhưng thật
ra nó mới xảy ra cách đây... 40 năm và cái chuyện thần thoại đó là chuyện có
thật. Tôi là người trong chuyện, bây giờ tôi kể lại chuyện đó nhưng sẽ không
có bóng dáng của bà Tiên hay ông Bụt...
Trước ngày theo mẹ di cư vào Nam, thành phố Hà Nội tưng bừng với một
hội chợ lớn. Tôi không nhớ rõ địa điểm là do ai tổ chức, hình như do người
Pháp thì phải. Bởi lúc đó, người Hà Nội không gọi là hội chợ mà gọi là
Kermesse. Cũng như tất cả các hội chợ ngày nay, với đủ tất cả trò chơi cho
trẻ con và người lớn, tôi nhớ một sân khấu nhỏ được dựng lên cho một cuộc
thi hát, kiểu tuyển lựa ca sĩ bây giờ. Lúc đó tôi được 9 tuổi. Mẹ ở xa, bà nội
tôi thì hoàn toàn không biết gì về cái gọi là Kermesse bởi bà tôi vốn chân
quê, không biết chữ. Làm sao tôi lọt được vào trong, tôi đi với ai, một thằng
nhỏ cùng phố tên Đồng, và làm cách nào tôi có thể leo lên sân khấu để... hát.
Hôm đó tôi hát bài “Thơ ngây”. Tôi không biết tác giả là ai vì tôi học lóm từ
những cửa hàng trên con phố Hàng Bông những ngày cuối tuần trên đường
từ nội trú về nhà bà nội. Tôi chẳng được giải gì cả.
Sau đó tôi vào Sài Gòn. Một Sài Gòn thật xa lạ đầy quyến rũ với các ly đá
nhân xi rô xanh, đỏ và tờ giấy một đồng xé làm hai mà vẫn xài được, mỗi
nửa gọi là năm cắc. Năm 1956, dượng tôi nhận việc tại Đà Lạt, gia đình
chúng tôi ở khu Chi Lăng, trước đó được gọi là Saint Benoit, nơi đó có
những biệt thự được xây cất giống hệt nhau. Gia đình tôi ở căn đầu tiên cạnh
con đường đất nhỏ đưa đến hồ Chi Lăng. Cũng đầu đường đó nhìn qua nhà
tôi là hotel Chi Lăng có cái giếng giả xây đằng trước. Từ nhà, tôi đi bộ
khoảng một cây số hơn tới trường tiểu học Phan Chu Trinh.
Lúc đó, tôi không biết đọc tiếng Việt nên không đọc báo nhưng do đâu
mà tôi biết được là ở Sài Gòn có một cuộc tuyển lựa ca sĩ nhi đồng và ai là
người ghi tên cho tôi, thú thật tôi không nhớ. Song nhiều phần là ở bác tôi,
bác Tuất là chị ruột của mẹ tôi. Bác trai là nhạc sĩ, bác sử dụng trompet hình
như trong ban quân nhạc ở Hà Nội. Chị ruột tôi cũng hát, tên chị là Lệ Yến,
hai người chị họ con bác Tuất cũng hát. Một chị là vợ ông Võ Lương, giám
đốc trường Huấn luyện cảnh sát, chị Kim Lan hiện giờ ở Đức. Còn một chị
Tuyết là vợ ông Thẩm Nghĩa Bôi.
Nghĩ lại là nhiều phần tôi đã nhờ gia đình bác Tuất ghi tên cho tôi đi dự
cuộc tuyển lựa ca sĩ nhi đồng khoảng cuối năm 1956. Làm thế nào mà một
con bé mới 11, 12 tuổi dám làm quen và xin quá giang một xe chở bắp cải về
Sài Gòn, tôi nằm ngủ còng queo phía sau với những chiếc bắp cải, rồi từ bến
xe tôi tới nhà bác tôi. Ai cho tôi tiền để ăn dọc đường và về tới nhà bác Tuất,
tôi không thể nhớ nổi.
Nơi có buổi tuyển lựa hôm đó là rạp Norodom do đài Pháp Á tổ chức. Tôi
ghi danh với tên thật là Lệ Mai. Bài hát tôi chọn là bài “Từ giã kinh thành”
nhưng bị bác. Lý do tôi còn nhỏ quá để hát một bài quá buồn, chỉ dành cho
người lớn... “Ra đi một sớm buồn, sương mờ chập chùng buông...” thể điệu
Boston. Ban giám khảo cho tôi hát bài “Ngày trở về” của nhạc sĩ Phạm Duy.
Tôi mặc cái quần sọc trắng, cái áo sơ mi ca rô của anh tôi, cắt tóc tém như
con trai và tôi hát. Và tôi chiếm hạng nhì sau thần đồng Quốc Thắng.
Sau buổi hát, bác Tuất gái bắt tôi phải về Đà Lạt ngay, mẹ và dượng tôi
đang nổi trận lôi đình với đứa con gái bất trị gan liền tướng quân. Tôi lại ra
bến xe rau tìm đúng ông tài xế tốt bụng, nằm co ro sau xe giữa đống hàng
hóa cần chuyển từ Sài Gòn về Đà Lạt.
Không cần phải kể lại, bất cứ ai trong chúng ta cũng biết cách trừng phạt
con cái ngày xưa ở Việt Nam. Tôi chui xuống rãnh nước cạnh nhà ngồi khóc.
Lúc đó tôi mới khóc, không phải vì đau mà là tủi, tôi nhớ bố tôi, ông đang ở
đâu, còn sống hay đã chết như mẹ nói. Ông rất yêu tôi, ông sẽ không bao giờ
đánh tôi vì chính ông đã từng ôm tôi và hát. Ông đánh đàn mandoline hát bài
“Chiều vàng” của Nguyễn Văn Khánh, “Con thuyền không bến” của Đặng
Thế Phong. Bố tôi chưa bao giờ đánh tôi, ông sẽ không bao giờ. Trái tim non
dại của tôi không ngớt vang lên tiếng gọi xót xa... Bố ơi... Bố ơi...
Tôi chỉ thần tượng bố tôi, thế cho nên những điệu nhạc, những lời bài hát
đã từ lúc nào xuyên vào tim tôi và ở lại đó. Tôi yêu tiếp những gì mà bố tôi
đã yêu, trên hết là nhạc, bởi qua nhạc tôi như nhìn lại khuôn mặt của bố
mình mà tôi biết rằng trên cõi thế, chẳng bao giờ tôi còn có thể gặp lại ông
nữa. Ở một nơi nào đó, chắc bố tôi cũng không nghĩ rằng những bài tình ca
ông hát trên bước đường ly loạn đã vô tình trở thành định mệnh. Một định
mệnh đẹp đẽ nhưng nghiệt ngã dành cho đứa con gái xấu xí ông yêu thương
nhất.
Trên sân khấu Anh Vũ ngày nào, ban ngày là quán cơm xã hội, với “Biệt
ly” của Dzoãn Mẫn; “Lá thư”, “Gửi gió cho mây ngàn bay”, “Chuyển bến”
của Đoàn Chuẩn – Từ Linh; “Chiều vàng”, “Con thuyền không bến”, tiếng
hát của tôi chắc phải u uẩn lắm mới khiến cho ông Trung úy Không quân
Lưu Kim Cương để ý. Ông khen tôi nhỏ mà biết chọn bài, ông khuyên tôi
hãy cố gắng với những gì đã chọn lựa. Lúc đó mọi người chưa biết tôi là ai.
Chưa mấy người để ý đến tôi. Họ đang chạy theo những thần tượng thời đó.
Tôi mới 16 tuổi.
Những tình khúc người ta gọi là Tiền chiến đã gắn liền với tôi trong suốt
năm năm trời ở Đà Lạt và sẽ mãi mãi về sau. Tôi vẫn luôn thắc mắc tự hỏi ở
thời buổi loạn lạc, nhiễu nhương, thiếu thốn đói khổ, bằng vào những
nguyên tố nào, các nhạc sĩ lại có thể gởi lại cho đời sau những tình khúc đẹp
đẽ, trong sáng, lãng mạn mà vẫn thánh thiện. Một nét đẹp không hề vương
một chút đời thường. Đẹp trên tất cả các vẻ đẹp, trong lành hơn cả nước
mưa. Có buồn nhưng rất nhẹ, vừa đủ cho người hát và người nghe cảm nhận
được nỗi buồn. Một nỗi buồn tự nhiên không son phấn.
Nhạc Tiền chiến tuyệt vời hơn nữa là ở bất cứ tuổi nào, bất cứ nơi nào,
một mình hay nhiều người, cứ hễ cất lên tiếng hát, chúng ta đều cảm thấy
lòng dịu lại ấm áp và bình an. Không có bóng đêm u tối, ghê rợn. Không có
bóng dáng của tuyệt vọng, không có những đau đớn dìm con người vào nỗi
chết. Nhạc Tiền chiến ngọt ngào dịu dàng. Giã biệt cũng là những giã biệt
nhẹ nhàng.
Từ 1967 được biết đến qua nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tôi vẫn tiếp tục yêu
“Biệt ly”, “Suối mơ”, “Anh đến thăm em một chiều mưa”, “Lá thư”, “Lá đổ
muôn chiều”, “Hà Nội 49”. Phải nói rằng những tình khúc Tiền chiến là mối
tình đầu của đời tôi mà đã là tình đầu, dẫu có thêm một kiếp sống nữa tôi vẫn
không quên. Tôi lại còn tiếc sợ mình không còn lại nhiều thời gian để được
hát. Chưa bao giờ tôi cảm thấy là đủ. Lúc nào cũng thèm được hát và nỗi say
mê chỉ tăng dần theo thời gian và tuổi đời.
Trong tôi, nỗi say mê được hát lớn nhất, vậy mà tôi lại hết sức ngần ngại
trong việc nhận lời hát lại những bài tình ca tôi rất yêu. Nửa muốn nhận, nửa
muốn từ chối, tôi sợ, đúng tôi sợ. Vì rằng đã lâu, tôi có ít dịp trình bày lại
những tình khúc Tiền chiến. Hát sao được trong không khí của buổi dạ vũ
khi người tham dự chỉ thực sự muốn giải trí sau một tuần lễ làm việc căng
thẳng, sở trường của tôi là nhạc Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công
Phụng, Ngô Thụy Miên cạnh những bài hát có tính cách phổ thông dễ dãi.
Nhạc Tiền chiến tạm vắng bóng trên những sàn nhảy, sân khấu, sòng bài.
Tôi sợ vì nhạc lý tôi vốn rất yếu, lại không quen bị gò bó trong một khuôn
khổ nhất định của dàn đàn dây, thường đòi hỏi người hát kỹ thuật cao, nhạc
lý giỏi, song cái chủ đề Tiền chiến lại quá hấp dẫn. Mối tình đầu phiêu bạt
bấy lâu, bỗng chốc có cơ hội hồi sinh, có thể mang lại cái nhịp đập êm ái
bình an cho trái tim của mọi người, qua bao nhiêu sóng gió. Đây là cơ duyên
may mắn trong ánh hoàng hôn đời người. Tôi phải cố gắng vượt qua sợ hãi
với cơ duyên may mắn. Đi tìm lại chính mình.
Tôi đặt tôi dưới sự điều khiển của người nhạc sĩ trẻ Thomas Ngô. Tôi bảo
anh tôi dốt nhạc lắm, hãy giúp cho tôi nếu không xuất sắc lắm bên cạnh các
chị Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao, Thanh Lan, Thái Hiền ít ra tôi cũng
làm tròn được bài hát. Không đến nỗi phụ lòng các thính giả. Không đến nỗi
rớt lên, rớt xuống làm phiền lòng các nhạc sĩ... Thomas Ngô cười bảo tôi:
“Chị cứ khiêm nhường thế, dẫu lơi nhịp chị vẫn nhảy vào bắt kịp lại như
thường.” “Không, đừng nói thế, khiêm nhường là một đức tính tốt nhưng ở
đây chị thực sự cần sự giúp đỡ của Ngô và cả ban nhạc.” Tôi cười tiếp: “Chị
dốt nhưng không ngu và chị rất biết vâng lời dẫu Ngô nhỏ hơn chị”.
Không khí trang nghiêm nhưng không quá cứng, Thomas Ngô vung tay,
tiếng nhạc trỗi lên, các nhạc sĩ dường như quên đi chính mình. Nỗi say mê
biểu hiện trên từng khuôn mặt, từng ngón tay và cả chân thân là nhạc. Tất cả
chìm vào, hòa tan trong tiếng nhạc... “Biệt ly, sóng trên dòng sông ôi còi tàu
như xé đôi lòng...” Tôi cất tiếng hát và như thấy lòng mình òa vỡ tiếng nấc
nghẹn ngào... “Người yêu đương cách xa đành sống vui cùng gió sương...”
Sự trở về kỷ niệm, tìm lại chính mình bao giờ cũng trân trọng. Nếu không
cuộc sống còn có ý nghĩa gì. Bao nhiêu năm qua, tôi luôn khắc khoải với
những tìm kiếm vô vọng... Tối buông màn sương pha muối, xót xa lòng thêm
trăm mối. Gió thu xưa không quên về, cớ sao mà người cứ đi... Người đã đi
vào thiên thu mang theo cả tình tôi một thời nồng nàn đằm thắm. Có phải
chăng những người muôn năm trước đã thay chúng ta, viết cho chúng ta
những ca khúc tuyệt vời. Người dẫu đã thiên thu nhưng gởi lại trong tâm hồn
chúng ta giọt nước mắt hạnh phúc lấp lánh, lấp lánh ngời sáng mãi đến ngàn
sau. Tôi ghi lại đây tâm sự riêng và cảm nghĩ của mình, nói lên sự biết ơn tất
cả nhạc sĩ kính mến của hai thập niên 40, 50.
3
Khoảng Trời Yêu Thương
Mấy hôm rồi, một mình tôi ở nhà, một mình tôi hưởng cái lành lạnh
buồn buồn, nhẩm lại bài hát mới “Có chút lệ nhòa trong phút hôn nhau, có
những vực bờ chôn theo tình đầu. Có tiếng thở dài dưới gió thu đông. Có nỗi
bùi ngùi bay đi thầm lặng.” Trời buồn, một mình buồn, bài hát buồn, tôi chợt
thấy lênh đênh lãng đãng, tôi trôi dần về kỷ niệm.
Cuộc đời tôi, mỗi bước đi qua, mỗi kỷ niệm. Vui buồn hay thương đau
cũng như nhau, cũng là kỷ niệm làm lòng mình ấm lại trong những ngày
chớm thu. Tôi đang bước về khoảng trời yêu thương nhất của một thời, tình
yêu còn mới như trang giấy, mới viết một chữ yêu. Đà Lạt của năm 1962.
Bắt đầu cho tôi những ngày sống thần tiên. Tôi yêu cái thành phố - đi dăm
phút lại gặp nhau, trên những con dốc, những mái nhà ngói nhỏ thấp thoáng
cao thấp trên những sườn đồi. Con gái Đà Lạt má đỏ, môi hồng, da trắng tóc
dài giản dị mà duyên dáng nhẹ nhàng như con gái Huế. Những chiều nắng
vàng, tôi trốn bạn bè lên đồi Cù, nằm một mình dưới gốc thông, lắng nghe
gió thổi mơn man trên tóc trên da, có lúc đi bộ vòng vòng trước vườm ươm
cây cạnh hồ Xuân Hương, có lúc một mình ngồi uống ly café sữa nóng tại
nhà thủy tạ đợi chiều xuống. Rồi lại một mình đón xe đò về nhà. Đi xe đò, xe
lam ở Đà Lạt cũng là một cái thú. Dù đi một mình hay với bạn bè.
Tôi yêu Đà Lạt như yêu Huế, yêu bờ sông Thạch Hãn. Rời Sài Gòn lên
Đà Lạt, lúc đó tôi 16 tuổi. Quyết định một mình và ra đi một mình. Tôi bắt
đầu hát trong night club ở Đà Lạt ngày 15-11-1962. Cái nhà hàng nằm ngay
bên cạnh đường đi trại Hầm. Cũng từ ngày đó tôi tự coi tôi như người Đà
Lạt, người của Đà Lạt. Không có một nơi nào của Đà Lạt mà tôi không đặt
chân đến. Không có tiệm ăn nào, món ăn nào ở Đà Lạt mà tôi không nếm
qua. Từ Mekong, Sanghai, đến tiệm Mì Quảng Ngọc Diệp có phòng tắm
nước nóng, bà bún riêu, bán mắm cà chợ Hòa Bình, bao nhiêu năm sau dù đã
rời xa Đà Lạt tôi vẫn ghé thăm mỗi khi trở lại. Phở Ngọc Lan, cơm thịt đông,
dưa chua Bắc Hương, café Tùng... Gần như ngày nào tôi cũng có mặt. Cái
thành phố lên cao xuống thấp, nhỏ như bàn tay, mọi người đều quen biết
nhau. Bây giờ người đã chết, người còn sống với bao nhiêu trách nhiệm bổn
phận của gia đình. Nhắc nhớ là một chuyện không nên. Dù lòng tôi, tận
trong thâm tâm tôi, tôi không hề quên. Có điều tự nhủ. Số phận. Mỗi người
một phần số. “Dòng đời trôi quanh co có khi xui người lỗi hẹn hò”. Tất cả
chỉ còn là kỷ niệm một thời, còn mãi những mộng mơ...
Giờ tuổi đã lớn, con cái đã lớn, có những chiều mưa buồn một mình như
chiều hôm nay, tôi chợt thấy lại sống trong những kỷ niệm tôi đã đào sâu
chôn cất bao nhiêu năm... Tôi đã tự nhủ với lòng rằng tất cả chỉ là định
mệnh, trời đã cho ta thế, ta nhận thế. Tôi đã hài lòng, an phận với hạnh phúc
gia đình đơn sơ như hôm nay.
Lẽ ra tôi không nên viết những điều này lên báo. Nhưng khổ nỗi, tôi chỉ
có thể viết được những điều tôi nghĩ, không thể khác hơn... Có những lúc
cơn nhớ nhà nổi lên bất tử. Đang ngồi tự nhiên la lớn... Trời ơi nhớ nhà quá,
nhớ Đà Lạt quá, nhớ Huế quá...
Tôi ở Đà Lạt 5 năm, ai kêu ai rủ về Sài Gòn cũng lắc. Đà Lạt với tôi là
nhất. Đà Lạt như chỗ ẩn náu thần tiên, người Đà Lạt thân thiết yêu thương
tôi. Nhưng sau cùng tôi phải cắn răng bỏ Đà Lạt ra đi, để bước vào một định
mệnh khác. Một hạnh phúc. Một bất hạnh khác. Sau đó nhiều lần tôi trở về
thăm Đà Lạt như đứa con xa về nhà, không xa lạ như một người khách bất
chợt trên đường ghé qua. Lần sau cùng tôi và một người của Đà Lạt về thăm
nhà nhưng cây cầu La Ngà đã gãy, chúng tôi phải trở về. Từ đó tôi không
bao giờ thấy lại người đó của Đà Lạt và cũng không bao giờ hy vọng về nhà
nữa. Những đêm ngồi một mình đến 4 giờ sáng, nhiều lúc quạnh quẽ cô đơn,
tôi nhớ Đà Lạt biết đến chừng nào. Nhất là café Tùng, bến xe đò Minh Trung
và con đường hun hút thông reo qua hồ Than Thở đến trường Võ Bị. Từ ở
đó, cuộc đời tôi qua nhiều khúc quanh, từ ở đó nơi đêm đêm tôi hát “Đời ca
hát ngày tháng cho người mua vui.” Nơi tôi khóc ngày mới đến, tôi khóc
ngày ra đi, tôi đã tiếc nuối không được trở lại để sống cho niềm mơ ước của
mình một lần.
Có còn bao giờ không em. Còn có bao giờ không anh. Có nỗi bùi ngùi
bay đi thầm lặng, có ai nghe thấy tiếng thổn thức đó chăng? Hay chỉ mình
tôi, tôi nghe tiếng tôi thở dài trong đêm với Đà Lạt, với niềm mơ ước của tôi.
4
Hôm Nay Thức Dậy
“Hôm nay thức dậy không còn thấy mọi người, không còn thấy mặt
người. Vây phủ quanh đời nói tiếng yêu thương” (Trịnh Công Sơn). Hôm
nay thức dậy. Một mình. Bao nhiêu mệt mỏi của một cuối tuần. Bây giờ mới
thấm. Tôi như người mộng du. Ở San José, mở mắt dậy, tưởng ở nhà. Về đây
rồi. Còn tưởng sáng San José 6, 7 giờ sáng khi mọi người thức dậy, các con
đi học thì tôi... ngủ. 3 giờ chiều mới mở mắt. Ngày hay đêm. Ở đâu đây.
Chẳng biết. Chẳng cần biết. Mấy chục năm như thế rồi. Giờ đã gần cuối đời.
Có cần thiết phải thay đổi một... thói quen. Một thói quen mọi người cho là...
xấu. Khó chịu. Nhưng đáng yêu với tôi. Thói quen nào cũng đáng yêu. Yêu
người, thương áo quen hơi ngọt ngào. Yêu đêm tối có nỗi cô lẻ mênh mông.
Hơi áo người yêu. Tôi không chia cho ai. Đêm tối bao la kia. Không ai chia
cho tôi. “Một người điên trong thành phố.” (Trịnh Công Sơn).
Đi. Về. Rồi lại đi, về. Cứ như thế. Chẳng cần biết nơi mình đến trời có
xanh? Nơi mình về trời có vui? Những thành phố giống nhau đến nhàm
chán. Những khuôn mặt da trắng, tóc vàng, mắt xanh... nhìn hoài nhìn mãi.
Tôi đi ngơ ngác, chán chường với một điểm hy vọng nhỏ nhoi. Đến với
người mình còn yêu. Còn yêu mình.
Trời đã vào Thu. Cơn mưa bất chợt phủ trùm thành phố. Vẫn tìm đến như
đã tìm đến nhau. Mưa ngoài trời. Mưa trong lòng, trong mắt, trong cả môi
cười. Đến với nhau. Lòng như đại dương. Tình như non cao. Giữa đời suối
khe. Mưa nữa đi. Lạnh thêm chút nữa. Cho lòng thêm chút ấm. Vẫn chưa đủ,
vẫn còn xa quá. Bao nhiêu cho đủ. Bao nhiêu cho vừa. Xuân. Không thấy
Xuân vui. Hạ không thấy lòng bớt nhớ những chiều qua phố xưa. Thu. Nỗi
nhớ nhiều hơn. Nhớ nhiều quá. Yêu nhiều quá những cơn mưa phùn Đà Lạt,
những con dốc nhấp nhô, mái nhà ngói đỏ phơi mình giữa màu xanh của lá.
Chưa lạnh lắm nhưng đủ để thu mình ở một góc nhỏ café Tùng. Hơi nóng từ
ly café chuyền qua ấm dần hai tay giá lạnh. Thú vị lắm. Ngồi ở nhà thủy tạ,
một mình nhìn mưa bay trên hồ Xuân Hương. Mưa bay dịu dàng. Nỗi buồn
cũng dịu dàng. Trong cơn điên dịu dàng. Mướn taxi chạy xuống phi trường
Liên Khương. Không đón đưa ai. Đến để nhìn mọi người đưa đón nhau.
Xem vui buồn đến đâu. Chạy lên phi trường Cam Ly, cũng chẳng đến đưa ai.
Phi trường vắng lặng. Phi đạo nằm xoải im lìm chờ đợi. Như một người chờ
một người. Người không đến thì ta đi. Phi đạo nằm lại. Tiếp tục chờ đợi.
Nắng. Mưa. Ngày. Đêm. Phi đạo Cam Ly vẫn còn đó.
Bốn mùa buồn. Bốn mùa chờ đợi. Một chờ đợi dịu dàng. Nhớ Sài Gòn.
Chạy ra chợ Hòa Bình rinh một sọt chuối Laba. Nhảy lên xe đò Minh Trung.
Đi ghé Định Quán ăn cơm thịt heo quay. Xe ghé Định Quán cũng lại cơm.
Tới Sài Gòn chỉ ở lại một ngày. Làm một vòng Sài Gòn Chợ Lớn. Phân phát
hết sọt chuối. Lại nhảy lên xe Minh Trung về lại hồ Than Thở. Nhưng không
thở than.
Một thời 20 rất bụi đời, rất vỉa hè. Đến như gió. Đi như gió. Từ đâu tới.
Đi về đâu. Không biết. Không cần biết. Đáng yêu biết bao những ngày tháng
sống lãng đãng như mây trời, biển khơi. Phà khói thuốc vào sương mù Đà
Lạt. Buổi sáng thức dậy, ngửi mùi thơm của thông. Nghe thông reo nhè nhẹ.
Mặc áo len cổ tròn, quàng cổ, quần jean, thế là... xuống phố. Có lúc đi giữa
mưa vẫn nghe tiếng chân mình rộn rã reo vui trên mặt đường loang nước. Ở
ngã tư. Xe đò, xe lam từ hướng Chi Lăng chạy ra. Bước lên xe ngồi xuống.
Bao giờ tôi cũng ngồi ngoái lại trường tiểu học Phan Chu Trinh nằm bên kia
đường. Tôi đã học ở đây năm 1956. Xe qua nhà vãng lai dành cho các sĩ
quan Không Quân nghỉ mát. Qua ga xe lửa. Tiệm phở ở ga ăn cũng khá. Đổ
một con dốc. Rồi một con dốc nhỏ nữa, qua nhà thương Soyer, trường
Yersin. Xe cứ chạy. Bên trái là sân vận động, sân tennis. Khách sạn Palace.
Đường rẽ lên nhà thờ chính tòa Đà Lạt. Bên phải là hồ Xuân Hương. Vòng
theo một bùng binh. Ngang qua khu quân vụ thị trấn, xe đò lên dốc. Vào bến
đậu ngay cạnh café Tùng. Vào làm một ly đã. Mọi chuyện tính sau. Ngày
nào cũng thế, năm nào cũng thế. Không thay đổi.
Không ai có thể “bẩy” tôi ra khỏi Đà Lạt lúc đó, dù là ông Cương khểnh,
dù là ông Trịnh Công Sơn. “Sợi tóc em bồng trôi nhanh. Trôi nhanh.” Mỗi
người một đời nhỏ nhoi, mỗi người một góc trời nhỏ nhoi. Sơn không biết gì
về tôi. Tôi không biết gì về Sơn. Không cần thiết. Sơn không bao giờ hỏi.
Tôi không bao giờ hỏi. Một người hát nhạc một người. Anh Sơn và Mai.
Tôi chỉ thực sự là tôi. Thực sự hạnh phúc khi được hát. Sau này nhạc anh
Sơn. Đó là Trịnh Công Sơn. Không bao giờ hối tiếc. Sau này có ông Trầm
Tử Thiêng. Tôi không bao giờ hối tiếc. Trong đời, tôi cũng đã gây nên nhiều
lầm lỡ. Ân hận hối tiếc đã nhiều. Những vấp ngã ít người tránh khỏi. Nhiều
hay ít mà thôi. Song trời đưa đẩy tôi gặp Sơn. Trời cho tôi những ngày đẹp
đẽ đáng yêu nhất. Tôi không bao giờ hối tiếc. Nếu có kiếp sau. Tôi cũng xin
gặp lại Sơn, như đã gặp. Ở Đà Lạt. Ở Việt Nam. Ở trong đời.
Mùa Đông cũng đã gần kề. Mùa Đông Đà Lạt như mùa Thu kéo dài.
Thêm chút lửa ấm từ lò sưởi ngọt ngào mùi gỗ thông. Đêm Đà Lạt bao giờ
cũng lạnh. Hơn, kém một tí cũng không cho ta thấy rõ mùa đang chuyển.
Bốn mùa xoay quanh những thói đáng yêu... Hương café thơm ngát qua bao
nhiêu suối khe đồi núi. Dốc tháp, dốc cao. Mái nhà ngói đỏ và mùi thơm của
gỗ thông. Tôi yêu Đà Lạt vô chừng. Như một người tình. Hơn một người
tình. Tôi rời Đà Lạt không ngờ, như khi đến. Rời xa mà vẫn yêu. Yêu nhiều
hơn vì trong cái yêu có cái tiếc nuối mặc dù sự việc rời bỏ Đà Lạt năm 1967
đã đưa tôi đến một đổi thay, đến một hạnh phúc may mắn không bao giờ tôi
dám nghĩ đến. Năm 1964 khi Trịnh Công Sơn rủ tôi về Sài Gòn đi hát với
anh. Tôi từ chối. Không phải vì không yêu nhạc Sơn. Nhưng lúc đó tôi yêu
Đà Lạt hơn. Cái lối sống xô bồ, ồn ào mánh mung của Sài Gòn không hợp
với tôi. Trong khi đó Đà Lạt là thiên đường. Êm ả, trong sáng. Sài Gòn đó
không có một chỗ đứng nào cho tôi. Là một người không hề có một chút
tham vọng. Thích an phận, bằng lòng với những điều mình có. Một đứa con
gái tầm thường như tôi. Những ngày tháng ở Đà Lạt đã là một an ủi quá đủ
rồi. Với làm chi những điều quá xa vời. Cũng không hề mơ ước một đổi
thay. Hơn thế nữa con người tôi, tâm hồn tôi hợp với Đà Lạt hơn. Thế mà rồi
tôi đã rời xa nơi chốn đã cho tôi biết bao ngày tháng đẹp đẽ trong sáng.
Một ngày của năm 1967. Tôi đến Nha Trang. Vùng biển xanh, cát trắng.
Không một chuẩn bị nào cho nơi chốn mới. Thì cũng đến hát là cùng. Vẫn
còn cơ hội để không trở lại Sài Gòn. Một vài tháng phù du đủ làm đời tôi nổi
sóng. Nha Trang không có gì quyến rũ. Nh...
Tác giả: Khánh Ly
Hồi Ký
Công ty TNHH Sách Phương Nam phát hành
Nhà Xuất Bản Văn Học
Đóng Gói: Cuibap
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
1
THAY LỜI TỰA
Viết. Với tôi, nghĩa là ghi lại những sự việc mắt thấy tai nghe. Vui,
buồn, sướng, khổ, giàu, nghèo. Tất cả đều là sự thật từ trái tim, tự đáy lòng
tôi. Đó là vì trách nhiệm. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm... với tôi. Chỉ là
những chuyện lẩm cẩm, nhỏ nhặt của một người đàn bà bình thường. Và tôi
tránh tuyệt đối cái việc được viết của mình làm tổn hại cho người khác.
Sở dĩ tôi chỉ thích viết về những gì tầm thường nhất mà lại hay xảy ra
nhất ở bất cứ gia đình Việt Nam nào, là bởi vì khả năng của một người... ít
học như tôi chỉ cho phép tôi làm được đến như thế mà thôi. Mà quả tình thật,
tôi cũng không muốn, không dám sờ mó tới đời tư của ai. Tôi có hơn gì ai
đâu? Đôi khi còn tệ hơn người khác nữa ấy chứ. Thế cho nên, tôi chỉ thích
ghi nhận lên trên giấy những điều tôi biết rất rõ về tôi, nghĩa là những cái
xấu nhất của mình, để... may ra nó bớt xấu đi chăng.
Người đời thường hay thích đề cập tới những điều ngoài tầm với, những
chuyện “đội đá vá trời”. Nên hay bỏ quên hoặc khinh thường những gì họ
cho là nhỏ nhặt không đáng nói đến. Song cái gần chúng ta nhiều nhất, trói
buộc chúng ta nhiều nhất, làm phiền, làm khổ chúng ta nhiều nhất mà chúng
ta phải nghĩ đến nhiều nhất. Hỡi ơi, lại chính là những cái nhỏ nhất. Thế mới
biết... nói là một chuyện, ai nói thánh, ai nói tướng gì cũng được. Làm, lại là
chuyện khác.
Tôi vốn hèn mọn như cỏ dại, chữ nghĩa không đầy một cái lá. Nhưng...
bia đá còn biết đau thì nói gì là cỏ dại. Tôi cũng có những niềm vui, nỗi buồn
của riêng tôi. Hát một tình khúc, làm một bài thơ. Trước hết là để giải tỏa bớt
nỗi sầu thiên cổ của chính mình, sau nữa là để tìm, để tặng người... tri kỷ. Vô
lý trời đất rộng bao la, bao nhiêu tỉ người, không có lấy một người cùng cảnh
ngộ để chia sớt với mình? Dù là những điều hèn mọn nhất.
Đời sống ở đây dễ làm cho tôi... điên. Hoặc trở thành bệnh hoạn. Cả hai
điều, tôi đều không muốn. Chúa cho tôi một giọng hát, dù không ra gì. Đó là
một... ân sủng. Bạn bè cho tôi một cơ hội, mảnh đất nhỏ nhoi trên báo, để tôi
có dịp ghi lại những gì đến và đi trong đời sống tôi. Đó là một hạnh phúc. Dĩ
nhiên, không phải bất cứ bài nào cũng được mọi người thích. Không phải bất
cứ bài viết nào của tôi cũng được mọi người khen. Tuy vậy tôi không thể
làm khác hơn được là bởi vì... con người tôi như thế. Tôi hay mọi người, đều
có những cái tốt hay xấu. Đều có đầy đủ Hỉ - Nộ - Ái - Ố - Ai – Lạc - Dục.
Có điều, nói rất thật thà, tôi sợ làm điều xấu, tôi sợ xấu hổ khi nhìn mặt mình
trong gương. Đôi khi tôi nghĩ: Đó cũng chưa hẳn là điều tốt. Nhưng tôi vẫn
sợ và vẫn tránh, cố sức tránh để khỏi phải ân hận, để không phải né tránh cái
nhìn của người đối diện.
Tôi là một người có nhiều khuyết điểm. Không thù, giận ai, không dám
hại ai (dù chỉ là ý nghĩ trong đầu). Không dám mong sự dữ cho bất cứ ai.
Khi không làm được điều gì cho ai, tôi áy náy không yên đến độ quay ra
giận chính mình. Tôi chưa bao giờ hơn thua với bạn bè. Ai muốn hơn, cứ tự
nhiên. Ai muốn chửi, cũng cứ tự nhiên. Chẳng bao giờ tôi có ý kiến. Tôi
nghe nhiều, rất nhiều nhưng hình như những điều đó không liên quan gì đến
tôi. Bởi tôi chỉ được nghe qua người này hay người nọ. Thế thì tại sao tôi
phải để ý. Sự im lặng cũng dễ gây ngộ nhận. Nhưng con người tôi vốn như
thế. Như cuộc đời vốn không thể khác. Đó là những khuyết điểm của tôi, làm
tôi luôn luôn bị thiệt thòi. Mà tôi cũng... lạ thật. Có nhiều người chửi tôi,
ngồi đâu chửi đó, cái gì cũng mang tôi ra, như một bằng cớ để mọi người tin.
Nhưng rồi sau đó lại gặp tôi sau điện thoại rất âu yếm, rất ngọt ngào, rất tay
bắt mặt mừng. Tôi cũng cười. Tôi ngu chăng? Không. Tôi không ngu tí nào
cả. Chỉ vì những điều đó, những người đó đã vốn như thế. Tôi biết hết nhưng
không bao giờ nói ra. Tại tôi... muốn ngu mà thôi. Ngu để được bình an vì
không có gì hạnh phúc cho bằng một con người được sống trong sự bình an.
Tôi ăn cái gì, tôi được cái gì khi hơn thua với người khác. Ai ghét tôi người
đó khổ chứ tôi không khổ. Vì ghét, nên họ cứ phải nghĩ đến tôi hoài, phải
tìm trăm mưu ngàn kế để hạ tôi. Do đó họ khổ, cái tâm họ khổ vì cứ phải
nghĩ đến người họ... không yêu. Trong khi đó tôi rất... nhẹ nhàng vì tôi...
không biết. Và tôi... chưa bao giờ cần biết.
Tôi sống rất là... hồn nhiên. Hồn nhiên đến độ làm nhiều người bực mình.
Thì tôi vốn thế. Lòng tôi như chiếc bánh đã bóc ra cho người thấy hết rồi,
không có gì phải che đậy, giấu giếm. Trong gia đình, với chồng. Ngoài xã
hội, với bạn bè, với khán thính giả. Tôi sống hết lòng. Người cho tôi một.
Tôi trả lại mười. Từ 32 năm qua, tôi sống như thế. Tôi chỉ duy nhất... phụ
một người. Người đó đã chết.
Tôi không gần được giới trí thức hay những người thường tự vỗ ngực
khoe mình. Tôi không gần được những người giàu có, danh vọng. Bởi tôi
sống giang hồ từ nhỏ. Tôi thường hãnh diện với chính mình về điều đó. Sống
gần giới giang hồ nên tôi không thích những người... chơi bẩn. Và bạn tôi
toàn những người chạy gạo từng ngày. Nhưng tôi kính phục và quý mến họ.
Mẹ tôi thường phàn nàn về cách ăn mặc giản dị của tôi. 32 năm tôi không
thay đổi. Mẹ tôi lại phàn nàn tiếp, vì sao tôi thương bạn hơn anh em ruột thịt.
Lúc tôi khổ sở, không tiền trả tiền nhà, tôi có thấy anh trên, em dưới nào
đâu? Làm sao mẹ tôi biết và hiểu được nỗi cơ cực của vợ chồng tôi? Nhưng
tôi biết nói thế nào cho mẹ tôi hiểu? Tôi không nói gì cả. Tôi vốn thế.
Mẹ tôi, người sinh ra tôi còn không bắt tôi sống khác đi được, huống chi
là ai. Thì thế đấy, tôi có sao nói vậy nhưng không bao giờ nói bậy. Không
nói bậy thì không làm bậy. Tôi cũng chưa bao giờ tự nhận mình là người lịch
sự, chính vì thế trên sân khấu, hay trong các bài viết trên báo, tôi đã nói rõ
rằng tôi là một người vô học và ăn nói đôi khi rất là... cà chớn. Có điều gì lỗi
lầm, xin bà con, cô bác bỏ lỗi cho.
Nhưng mà những điều tôi nói hay viết dù không phải ai cũng thích, song
cũng có người... không ghét. Đó là những người thích... có sao nói vậy,
những người không hề đòi hỏi những điều quá khả năng của tôi. Bởi đời
sống ở đây quá nặng nề với những... ý đồ vĩ đại, nên đôi lúc, cái lẩm cẩm,
đàn bà cà chớn của tôi đem đến ít phút thoải mái trong... phòng tắm.
Chú Mai Thảo của tôi bảo viết một bài trên báo Văn. Tôi dạ nhưng... vờ
quên. Ông Nguyễn Xuân Hoàng kêu viết, cũng một bài ở Thế Kỷ 21. Tôi
cũng dạ rồi thôi luôn. Lý do, tôi không dám, tôi không xứng đáng được chen
chân, góp mặt. Cũng bởi tôi kính trọng và quí mến những người nghĩ đến tôi,
cho nên không dám đưa cái văn bằng duy nhất của tôi ra (bằng quốc tịch ấy
mà). Sợ làm hai ông mất mặt và những người khác không vui khi có tên tôi
bên cạnh. Như thế cũng có thể gọi là biết điều đấy chứ.
Thường thường, ở những nước văn minh, người ta thường hay khuyến
khích những... mầm non, ở bất cứ lãnh vực nào. Riêng tôi, tôi thấy người
mình hơi khắt khe, hơi... ác với nhau đó. Ác nhiều hơn là khắt khe. Vì ác
khác mà khắt khe khác. Dĩ nhiên là không phải mọi người ở đây đều như thế.
Song người ác nhiều hơn và hay... khoe cái ác của mình, một cách hãnh diện.
Đó chính là nỗi khổ tâm của họ, bởi những người có cái tâm độc ác, sẽ
không bao giờ sung sướng, hạnh phúc cả. Nếu không thế, chẳng hóa ra ông
trời bất công lắm ru.
Chính vì nhiều người không sống với nhau bằng sự tử tế, ngày về mới...
bóng chim tăm cá. Phải chi. Ừ phải chi... Ôi nói ra thì vô cùng, mà lại bị...
chửi là... ca sĩ mà cũng bày đặt nói chuyện nước non. Nhiều khi tôi có cảm
tưởng mình là người... ngoại quốc xa lạ trong cộng đồng mình. Là sao? Rất
nhiều lần, trên tàu bay, tôi bị hỏi: “Mày là người ở đâu đến...” Lúc đầu tôi
hùng dũng trả lời: “Tao từ Việt Nam”.
Nếu bây giờ tôi nói tôi là... người Mỹ. Cũng đúng thôi. Vì tôi đang mang
quốc tịch Mỹ. Tôi nhớ là tôi đã khóc rất lớn, khóc một cách tận tình, làm mọi
người ngạc nhiên, khi giơ tay tuyên thệ, thề bảo vệ xứ sở này. Tôi đã từ bỏ,
chối bỏ nguồn gốc của mình. Bài quốc ca Mỹ vang lên như những mũi đinh
nhọn hoắt đâm thẳng vào tim tôi.
Tôi muốn được mãi mãi làm một người VIỆT NAM... NGUYÊN VẸN
HÌNH HÀI... trong cái cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Một cộng đồng
biết thương nhau bằng trái tim Việt Nam, thì tôi cũng sẽ không phải, không
đến nỗi phải yêu thương cuộc đời bằng chính trái tim... của tôi “MỖI NGÀY
TÔI CHỌN NGỒI THẬT YÊN. NHÌN RÕ QUÊ HƯƠNG, NGỒI NGHĨ
LẠI MÌNH. TÔI CHỢT BIẾT RẰNG VÌ SAO TÔI SỐNG. VÌ ĐẤT NƯỚC
CẦN MỘT TRÁI TIM”. Tôi ở đây và tôi cũng cần một trái tim.
2
Vì Sao Tôi Hát Nhạc Tiền Chiến
Hát trở lại những ca khúc thời Tiền chiến, nói như nhạc sĩ Nguyễn Hiền
là bình minh của nhạc Việt Nam, đối với tôi, còn là một sự trở về, tìm lại
chính mình. Một thời đã qua, qua rất nhanh mà tôi không làm sao có thể
quên được dẫu nỗi nhớ về đó, luôn luôn làm tôi đau lòng và chảy nước mắt.
Ngày xưa... ngày xưa... Bất cứ chuyện gì đã xảy ra, dù chỉ mới ngày hôm
qua, thường được bắt đầu bằng hai chữ: Ngày xưa. Tưởng chừng như một
câu chuyện thần thoại, cái ngày xưa ấy thoạt nghe có vẻ xưa lắm nhưng thật
ra nó mới xảy ra cách đây... 40 năm và cái chuyện thần thoại đó là chuyện có
thật. Tôi là người trong chuyện, bây giờ tôi kể lại chuyện đó nhưng sẽ không
có bóng dáng của bà Tiên hay ông Bụt...
Trước ngày theo mẹ di cư vào Nam, thành phố Hà Nội tưng bừng với một
hội chợ lớn. Tôi không nhớ rõ địa điểm là do ai tổ chức, hình như do người
Pháp thì phải. Bởi lúc đó, người Hà Nội không gọi là hội chợ mà gọi là
Kermesse. Cũng như tất cả các hội chợ ngày nay, với đủ tất cả trò chơi cho
trẻ con và người lớn, tôi nhớ một sân khấu nhỏ được dựng lên cho một cuộc
thi hát, kiểu tuyển lựa ca sĩ bây giờ. Lúc đó tôi được 9 tuổi. Mẹ ở xa, bà nội
tôi thì hoàn toàn không biết gì về cái gọi là Kermesse bởi bà tôi vốn chân
quê, không biết chữ. Làm sao tôi lọt được vào trong, tôi đi với ai, một thằng
nhỏ cùng phố tên Đồng, và làm cách nào tôi có thể leo lên sân khấu để... hát.
Hôm đó tôi hát bài “Thơ ngây”. Tôi không biết tác giả là ai vì tôi học lóm từ
những cửa hàng trên con phố Hàng Bông những ngày cuối tuần trên đường
từ nội trú về nhà bà nội. Tôi chẳng được giải gì cả.
Sau đó tôi vào Sài Gòn. Một Sài Gòn thật xa lạ đầy quyến rũ với các ly đá
nhân xi rô xanh, đỏ và tờ giấy một đồng xé làm hai mà vẫn xài được, mỗi
nửa gọi là năm cắc. Năm 1956, dượng tôi nhận việc tại Đà Lạt, gia đình
chúng tôi ở khu Chi Lăng, trước đó được gọi là Saint Benoit, nơi đó có
những biệt thự được xây cất giống hệt nhau. Gia đình tôi ở căn đầu tiên cạnh
con đường đất nhỏ đưa đến hồ Chi Lăng. Cũng đầu đường đó nhìn qua nhà
tôi là hotel Chi Lăng có cái giếng giả xây đằng trước. Từ nhà, tôi đi bộ
khoảng một cây số hơn tới trường tiểu học Phan Chu Trinh.
Lúc đó, tôi không biết đọc tiếng Việt nên không đọc báo nhưng do đâu
mà tôi biết được là ở Sài Gòn có một cuộc tuyển lựa ca sĩ nhi đồng và ai là
người ghi tên cho tôi, thú thật tôi không nhớ. Song nhiều phần là ở bác tôi,
bác Tuất là chị ruột của mẹ tôi. Bác trai là nhạc sĩ, bác sử dụng trompet hình
như trong ban quân nhạc ở Hà Nội. Chị ruột tôi cũng hát, tên chị là Lệ Yến,
hai người chị họ con bác Tuất cũng hát. Một chị là vợ ông Võ Lương, giám
đốc trường Huấn luyện cảnh sát, chị Kim Lan hiện giờ ở Đức. Còn một chị
Tuyết là vợ ông Thẩm Nghĩa Bôi.
Nghĩ lại là nhiều phần tôi đã nhờ gia đình bác Tuất ghi tên cho tôi đi dự
cuộc tuyển lựa ca sĩ nhi đồng khoảng cuối năm 1956. Làm thế nào mà một
con bé mới 11, 12 tuổi dám làm quen và xin quá giang một xe chở bắp cải về
Sài Gòn, tôi nằm ngủ còng queo phía sau với những chiếc bắp cải, rồi từ bến
xe tôi tới nhà bác tôi. Ai cho tôi tiền để ăn dọc đường và về tới nhà bác Tuất,
tôi không thể nhớ nổi.
Nơi có buổi tuyển lựa hôm đó là rạp Norodom do đài Pháp Á tổ chức. Tôi
ghi danh với tên thật là Lệ Mai. Bài hát tôi chọn là bài “Từ giã kinh thành”
nhưng bị bác. Lý do tôi còn nhỏ quá để hát một bài quá buồn, chỉ dành cho
người lớn... “Ra đi một sớm buồn, sương mờ chập chùng buông...” thể điệu
Boston. Ban giám khảo cho tôi hát bài “Ngày trở về” của nhạc sĩ Phạm Duy.
Tôi mặc cái quần sọc trắng, cái áo sơ mi ca rô của anh tôi, cắt tóc tém như
con trai và tôi hát. Và tôi chiếm hạng nhì sau thần đồng Quốc Thắng.
Sau buổi hát, bác Tuất gái bắt tôi phải về Đà Lạt ngay, mẹ và dượng tôi
đang nổi trận lôi đình với đứa con gái bất trị gan liền tướng quân. Tôi lại ra
bến xe rau tìm đúng ông tài xế tốt bụng, nằm co ro sau xe giữa đống hàng
hóa cần chuyển từ Sài Gòn về Đà Lạt.
Không cần phải kể lại, bất cứ ai trong chúng ta cũng biết cách trừng phạt
con cái ngày xưa ở Việt Nam. Tôi chui xuống rãnh nước cạnh nhà ngồi khóc.
Lúc đó tôi mới khóc, không phải vì đau mà là tủi, tôi nhớ bố tôi, ông đang ở
đâu, còn sống hay đã chết như mẹ nói. Ông rất yêu tôi, ông sẽ không bao giờ
đánh tôi vì chính ông đã từng ôm tôi và hát. Ông đánh đàn mandoline hát bài
“Chiều vàng” của Nguyễn Văn Khánh, “Con thuyền không bến” của Đặng
Thế Phong. Bố tôi chưa bao giờ đánh tôi, ông sẽ không bao giờ. Trái tim non
dại của tôi không ngớt vang lên tiếng gọi xót xa... Bố ơi... Bố ơi...
Tôi chỉ thần tượng bố tôi, thế cho nên những điệu nhạc, những lời bài hát
đã từ lúc nào xuyên vào tim tôi và ở lại đó. Tôi yêu tiếp những gì mà bố tôi
đã yêu, trên hết là nhạc, bởi qua nhạc tôi như nhìn lại khuôn mặt của bố
mình mà tôi biết rằng trên cõi thế, chẳng bao giờ tôi còn có thể gặp lại ông
nữa. Ở một nơi nào đó, chắc bố tôi cũng không nghĩ rằng những bài tình ca
ông hát trên bước đường ly loạn đã vô tình trở thành định mệnh. Một định
mệnh đẹp đẽ nhưng nghiệt ngã dành cho đứa con gái xấu xí ông yêu thương
nhất.
Trên sân khấu Anh Vũ ngày nào, ban ngày là quán cơm xã hội, với “Biệt
ly” của Dzoãn Mẫn; “Lá thư”, “Gửi gió cho mây ngàn bay”, “Chuyển bến”
của Đoàn Chuẩn – Từ Linh; “Chiều vàng”, “Con thuyền không bến”, tiếng
hát của tôi chắc phải u uẩn lắm mới khiến cho ông Trung úy Không quân
Lưu Kim Cương để ý. Ông khen tôi nhỏ mà biết chọn bài, ông khuyên tôi
hãy cố gắng với những gì đã chọn lựa. Lúc đó mọi người chưa biết tôi là ai.
Chưa mấy người để ý đến tôi. Họ đang chạy theo những thần tượng thời đó.
Tôi mới 16 tuổi.
Những tình khúc người ta gọi là Tiền chiến đã gắn liền với tôi trong suốt
năm năm trời ở Đà Lạt và sẽ mãi mãi về sau. Tôi vẫn luôn thắc mắc tự hỏi ở
thời buổi loạn lạc, nhiễu nhương, thiếu thốn đói khổ, bằng vào những
nguyên tố nào, các nhạc sĩ lại có thể gởi lại cho đời sau những tình khúc đẹp
đẽ, trong sáng, lãng mạn mà vẫn thánh thiện. Một nét đẹp không hề vương
một chút đời thường. Đẹp trên tất cả các vẻ đẹp, trong lành hơn cả nước
mưa. Có buồn nhưng rất nhẹ, vừa đủ cho người hát và người nghe cảm nhận
được nỗi buồn. Một nỗi buồn tự nhiên không son phấn.
Nhạc Tiền chiến tuyệt vời hơn nữa là ở bất cứ tuổi nào, bất cứ nơi nào,
một mình hay nhiều người, cứ hễ cất lên tiếng hát, chúng ta đều cảm thấy
lòng dịu lại ấm áp và bình an. Không có bóng đêm u tối, ghê rợn. Không có
bóng dáng của tuyệt vọng, không có những đau đớn dìm con người vào nỗi
chết. Nhạc Tiền chiến ngọt ngào dịu dàng. Giã biệt cũng là những giã biệt
nhẹ nhàng.
Từ 1967 được biết đến qua nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tôi vẫn tiếp tục yêu
“Biệt ly”, “Suối mơ”, “Anh đến thăm em một chiều mưa”, “Lá thư”, “Lá đổ
muôn chiều”, “Hà Nội 49”. Phải nói rằng những tình khúc Tiền chiến là mối
tình đầu của đời tôi mà đã là tình đầu, dẫu có thêm một kiếp sống nữa tôi vẫn
không quên. Tôi lại còn tiếc sợ mình không còn lại nhiều thời gian để được
hát. Chưa bao giờ tôi cảm thấy là đủ. Lúc nào cũng thèm được hát và nỗi say
mê chỉ tăng dần theo thời gian và tuổi đời.
Trong tôi, nỗi say mê được hát lớn nhất, vậy mà tôi lại hết sức ngần ngại
trong việc nhận lời hát lại những bài tình ca tôi rất yêu. Nửa muốn nhận, nửa
muốn từ chối, tôi sợ, đúng tôi sợ. Vì rằng đã lâu, tôi có ít dịp trình bày lại
những tình khúc Tiền chiến. Hát sao được trong không khí của buổi dạ vũ
khi người tham dự chỉ thực sự muốn giải trí sau một tuần lễ làm việc căng
thẳng, sở trường của tôi là nhạc Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công
Phụng, Ngô Thụy Miên cạnh những bài hát có tính cách phổ thông dễ dãi.
Nhạc Tiền chiến tạm vắng bóng trên những sàn nhảy, sân khấu, sòng bài.
Tôi sợ vì nhạc lý tôi vốn rất yếu, lại không quen bị gò bó trong một khuôn
khổ nhất định của dàn đàn dây, thường đòi hỏi người hát kỹ thuật cao, nhạc
lý giỏi, song cái chủ đề Tiền chiến lại quá hấp dẫn. Mối tình đầu phiêu bạt
bấy lâu, bỗng chốc có cơ hội hồi sinh, có thể mang lại cái nhịp đập êm ái
bình an cho trái tim của mọi người, qua bao nhiêu sóng gió. Đây là cơ duyên
may mắn trong ánh hoàng hôn đời người. Tôi phải cố gắng vượt qua sợ hãi
với cơ duyên may mắn. Đi tìm lại chính mình.
Tôi đặt tôi dưới sự điều khiển của người nhạc sĩ trẻ Thomas Ngô. Tôi bảo
anh tôi dốt nhạc lắm, hãy giúp cho tôi nếu không xuất sắc lắm bên cạnh các
chị Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao, Thanh Lan, Thái Hiền ít ra tôi cũng
làm tròn được bài hát. Không đến nỗi phụ lòng các thính giả. Không đến nỗi
rớt lên, rớt xuống làm phiền lòng các nhạc sĩ... Thomas Ngô cười bảo tôi:
“Chị cứ khiêm nhường thế, dẫu lơi nhịp chị vẫn nhảy vào bắt kịp lại như
thường.” “Không, đừng nói thế, khiêm nhường là một đức tính tốt nhưng ở
đây chị thực sự cần sự giúp đỡ của Ngô và cả ban nhạc.” Tôi cười tiếp: “Chị
dốt nhưng không ngu và chị rất biết vâng lời dẫu Ngô nhỏ hơn chị”.
Không khí trang nghiêm nhưng không quá cứng, Thomas Ngô vung tay,
tiếng nhạc trỗi lên, các nhạc sĩ dường như quên đi chính mình. Nỗi say mê
biểu hiện trên từng khuôn mặt, từng ngón tay và cả chân thân là nhạc. Tất cả
chìm vào, hòa tan trong tiếng nhạc... “Biệt ly, sóng trên dòng sông ôi còi tàu
như xé đôi lòng...” Tôi cất tiếng hát và như thấy lòng mình òa vỡ tiếng nấc
nghẹn ngào... “Người yêu đương cách xa đành sống vui cùng gió sương...”
Sự trở về kỷ niệm, tìm lại chính mình bao giờ cũng trân trọng. Nếu không
cuộc sống còn có ý nghĩa gì. Bao nhiêu năm qua, tôi luôn khắc khoải với
những tìm kiếm vô vọng... Tối buông màn sương pha muối, xót xa lòng thêm
trăm mối. Gió thu xưa không quên về, cớ sao mà người cứ đi... Người đã đi
vào thiên thu mang theo cả tình tôi một thời nồng nàn đằm thắm. Có phải
chăng những người muôn năm trước đã thay chúng ta, viết cho chúng ta
những ca khúc tuyệt vời. Người dẫu đã thiên thu nhưng gởi lại trong tâm hồn
chúng ta giọt nước mắt hạnh phúc lấp lánh, lấp lánh ngời sáng mãi đến ngàn
sau. Tôi ghi lại đây tâm sự riêng và cảm nghĩ của mình, nói lên sự biết ơn tất
cả nhạc sĩ kính mến của hai thập niên 40, 50.
3
Khoảng Trời Yêu Thương
Mấy hôm rồi, một mình tôi ở nhà, một mình tôi hưởng cái lành lạnh
buồn buồn, nhẩm lại bài hát mới “Có chút lệ nhòa trong phút hôn nhau, có
những vực bờ chôn theo tình đầu. Có tiếng thở dài dưới gió thu đông. Có nỗi
bùi ngùi bay đi thầm lặng.” Trời buồn, một mình buồn, bài hát buồn, tôi chợt
thấy lênh đênh lãng đãng, tôi trôi dần về kỷ niệm.
Cuộc đời tôi, mỗi bước đi qua, mỗi kỷ niệm. Vui buồn hay thương đau
cũng như nhau, cũng là kỷ niệm làm lòng mình ấm lại trong những ngày
chớm thu. Tôi đang bước về khoảng trời yêu thương nhất của một thời, tình
yêu còn mới như trang giấy, mới viết một chữ yêu. Đà Lạt của năm 1962.
Bắt đầu cho tôi những ngày sống thần tiên. Tôi yêu cái thành phố - đi dăm
phút lại gặp nhau, trên những con dốc, những mái nhà ngói nhỏ thấp thoáng
cao thấp trên những sườn đồi. Con gái Đà Lạt má đỏ, môi hồng, da trắng tóc
dài giản dị mà duyên dáng nhẹ nhàng như con gái Huế. Những chiều nắng
vàng, tôi trốn bạn bè lên đồi Cù, nằm một mình dưới gốc thông, lắng nghe
gió thổi mơn man trên tóc trên da, có lúc đi bộ vòng vòng trước vườm ươm
cây cạnh hồ Xuân Hương, có lúc một mình ngồi uống ly café sữa nóng tại
nhà thủy tạ đợi chiều xuống. Rồi lại một mình đón xe đò về nhà. Đi xe đò, xe
lam ở Đà Lạt cũng là một cái thú. Dù đi một mình hay với bạn bè.
Tôi yêu Đà Lạt như yêu Huế, yêu bờ sông Thạch Hãn. Rời Sài Gòn lên
Đà Lạt, lúc đó tôi 16 tuổi. Quyết định một mình và ra đi một mình. Tôi bắt
đầu hát trong night club ở Đà Lạt ngày 15-11-1962. Cái nhà hàng nằm ngay
bên cạnh đường đi trại Hầm. Cũng từ ngày đó tôi tự coi tôi như người Đà
Lạt, người của Đà Lạt. Không có một nơi nào của Đà Lạt mà tôi không đặt
chân đến. Không có tiệm ăn nào, món ăn nào ở Đà Lạt mà tôi không nếm
qua. Từ Mekong, Sanghai, đến tiệm Mì Quảng Ngọc Diệp có phòng tắm
nước nóng, bà bún riêu, bán mắm cà chợ Hòa Bình, bao nhiêu năm sau dù đã
rời xa Đà Lạt tôi vẫn ghé thăm mỗi khi trở lại. Phở Ngọc Lan, cơm thịt đông,
dưa chua Bắc Hương, café Tùng... Gần như ngày nào tôi cũng có mặt. Cái
thành phố lên cao xuống thấp, nhỏ như bàn tay, mọi người đều quen biết
nhau. Bây giờ người đã chết, người còn sống với bao nhiêu trách nhiệm bổn
phận của gia đình. Nhắc nhớ là một chuyện không nên. Dù lòng tôi, tận
trong thâm tâm tôi, tôi không hề quên. Có điều tự nhủ. Số phận. Mỗi người
một phần số. “Dòng đời trôi quanh co có khi xui người lỗi hẹn hò”. Tất cả
chỉ còn là kỷ niệm một thời, còn mãi những mộng mơ...
Giờ tuổi đã lớn, con cái đã lớn, có những chiều mưa buồn một mình như
chiều hôm nay, tôi chợt thấy lại sống trong những kỷ niệm tôi đã đào sâu
chôn cất bao nhiêu năm... Tôi đã tự nhủ với lòng rằng tất cả chỉ là định
mệnh, trời đã cho ta thế, ta nhận thế. Tôi đã hài lòng, an phận với hạnh phúc
gia đình đơn sơ như hôm nay.
Lẽ ra tôi không nên viết những điều này lên báo. Nhưng khổ nỗi, tôi chỉ
có thể viết được những điều tôi nghĩ, không thể khác hơn... Có những lúc
cơn nhớ nhà nổi lên bất tử. Đang ngồi tự nhiên la lớn... Trời ơi nhớ nhà quá,
nhớ Đà Lạt quá, nhớ Huế quá...
Tôi ở Đà Lạt 5 năm, ai kêu ai rủ về Sài Gòn cũng lắc. Đà Lạt với tôi là
nhất. Đà Lạt như chỗ ẩn náu thần tiên, người Đà Lạt thân thiết yêu thương
tôi. Nhưng sau cùng tôi phải cắn răng bỏ Đà Lạt ra đi, để bước vào một định
mệnh khác. Một hạnh phúc. Một bất hạnh khác. Sau đó nhiều lần tôi trở về
thăm Đà Lạt như đứa con xa về nhà, không xa lạ như một người khách bất
chợt trên đường ghé qua. Lần sau cùng tôi và một người của Đà Lạt về thăm
nhà nhưng cây cầu La Ngà đã gãy, chúng tôi phải trở về. Từ đó tôi không
bao giờ thấy lại người đó của Đà Lạt và cũng không bao giờ hy vọng về nhà
nữa. Những đêm ngồi một mình đến 4 giờ sáng, nhiều lúc quạnh quẽ cô đơn,
tôi nhớ Đà Lạt biết đến chừng nào. Nhất là café Tùng, bến xe đò Minh Trung
và con đường hun hút thông reo qua hồ Than Thở đến trường Võ Bị. Từ ở
đó, cuộc đời tôi qua nhiều khúc quanh, từ ở đó nơi đêm đêm tôi hát “Đời ca
hát ngày tháng cho người mua vui.” Nơi tôi khóc ngày mới đến, tôi khóc
ngày ra đi, tôi đã tiếc nuối không được trở lại để sống cho niềm mơ ước của
mình một lần.
Có còn bao giờ không em. Còn có bao giờ không anh. Có nỗi bùi ngùi
bay đi thầm lặng, có ai nghe thấy tiếng thổn thức đó chăng? Hay chỉ mình
tôi, tôi nghe tiếng tôi thở dài trong đêm với Đà Lạt, với niềm mơ ước của tôi.
4
Hôm Nay Thức Dậy
“Hôm nay thức dậy không còn thấy mọi người, không còn thấy mặt
người. Vây phủ quanh đời nói tiếng yêu thương” (Trịnh Công Sơn). Hôm
nay thức dậy. Một mình. Bao nhiêu mệt mỏi của một cuối tuần. Bây giờ mới
thấm. Tôi như người mộng du. Ở San José, mở mắt dậy, tưởng ở nhà. Về đây
rồi. Còn tưởng sáng San José 6, 7 giờ sáng khi mọi người thức dậy, các con
đi học thì tôi... ngủ. 3 giờ chiều mới mở mắt. Ngày hay đêm. Ở đâu đây.
Chẳng biết. Chẳng cần biết. Mấy chục năm như thế rồi. Giờ đã gần cuối đời.
Có cần thiết phải thay đổi một... thói quen. Một thói quen mọi người cho là...
xấu. Khó chịu. Nhưng đáng yêu với tôi. Thói quen nào cũng đáng yêu. Yêu
người, thương áo quen hơi ngọt ngào. Yêu đêm tối có nỗi cô lẻ mênh mông.
Hơi áo người yêu. Tôi không chia cho ai. Đêm tối bao la kia. Không ai chia
cho tôi. “Một người điên trong thành phố.” (Trịnh Công Sơn).
Đi. Về. Rồi lại đi, về. Cứ như thế. Chẳng cần biết nơi mình đến trời có
xanh? Nơi mình về trời có vui? Những thành phố giống nhau đến nhàm
chán. Những khuôn mặt da trắng, tóc vàng, mắt xanh... nhìn hoài nhìn mãi.
Tôi đi ngơ ngác, chán chường với một điểm hy vọng nhỏ nhoi. Đến với
người mình còn yêu. Còn yêu mình.
Trời đã vào Thu. Cơn mưa bất chợt phủ trùm thành phố. Vẫn tìm đến như
đã tìm đến nhau. Mưa ngoài trời. Mưa trong lòng, trong mắt, trong cả môi
cười. Đến với nhau. Lòng như đại dương. Tình như non cao. Giữa đời suối
khe. Mưa nữa đi. Lạnh thêm chút nữa. Cho lòng thêm chút ấm. Vẫn chưa đủ,
vẫn còn xa quá. Bao nhiêu cho đủ. Bao nhiêu cho vừa. Xuân. Không thấy
Xuân vui. Hạ không thấy lòng bớt nhớ những chiều qua phố xưa. Thu. Nỗi
nhớ nhiều hơn. Nhớ nhiều quá. Yêu nhiều quá những cơn mưa phùn Đà Lạt,
những con dốc nhấp nhô, mái nhà ngói đỏ phơi mình giữa màu xanh của lá.
Chưa lạnh lắm nhưng đủ để thu mình ở một góc nhỏ café Tùng. Hơi nóng từ
ly café chuyền qua ấm dần hai tay giá lạnh. Thú vị lắm. Ngồi ở nhà thủy tạ,
một mình nhìn mưa bay trên hồ Xuân Hương. Mưa bay dịu dàng. Nỗi buồn
cũng dịu dàng. Trong cơn điên dịu dàng. Mướn taxi chạy xuống phi trường
Liên Khương. Không đón đưa ai. Đến để nhìn mọi người đưa đón nhau.
Xem vui buồn đến đâu. Chạy lên phi trường Cam Ly, cũng chẳng đến đưa ai.
Phi trường vắng lặng. Phi đạo nằm xoải im lìm chờ đợi. Như một người chờ
một người. Người không đến thì ta đi. Phi đạo nằm lại. Tiếp tục chờ đợi.
Nắng. Mưa. Ngày. Đêm. Phi đạo Cam Ly vẫn còn đó.
Bốn mùa buồn. Bốn mùa chờ đợi. Một chờ đợi dịu dàng. Nhớ Sài Gòn.
Chạy ra chợ Hòa Bình rinh một sọt chuối Laba. Nhảy lên xe đò Minh Trung.
Đi ghé Định Quán ăn cơm thịt heo quay. Xe ghé Định Quán cũng lại cơm.
Tới Sài Gòn chỉ ở lại một ngày. Làm một vòng Sài Gòn Chợ Lớn. Phân phát
hết sọt chuối. Lại nhảy lên xe Minh Trung về lại hồ Than Thở. Nhưng không
thở than.
Một thời 20 rất bụi đời, rất vỉa hè. Đến như gió. Đi như gió. Từ đâu tới.
Đi về đâu. Không biết. Không cần biết. Đáng yêu biết bao những ngày tháng
sống lãng đãng như mây trời, biển khơi. Phà khói thuốc vào sương mù Đà
Lạt. Buổi sáng thức dậy, ngửi mùi thơm của thông. Nghe thông reo nhè nhẹ.
Mặc áo len cổ tròn, quàng cổ, quần jean, thế là... xuống phố. Có lúc đi giữa
mưa vẫn nghe tiếng chân mình rộn rã reo vui trên mặt đường loang nước. Ở
ngã tư. Xe đò, xe lam từ hướng Chi Lăng chạy ra. Bước lên xe ngồi xuống.
Bao giờ tôi cũng ngồi ngoái lại trường tiểu học Phan Chu Trinh nằm bên kia
đường. Tôi đã học ở đây năm 1956. Xe qua nhà vãng lai dành cho các sĩ
quan Không Quân nghỉ mát. Qua ga xe lửa. Tiệm phở ở ga ăn cũng khá. Đổ
một con dốc. Rồi một con dốc nhỏ nữa, qua nhà thương Soyer, trường
Yersin. Xe cứ chạy. Bên trái là sân vận động, sân tennis. Khách sạn Palace.
Đường rẽ lên nhà thờ chính tòa Đà Lạt. Bên phải là hồ Xuân Hương. Vòng
theo một bùng binh. Ngang qua khu quân vụ thị trấn, xe đò lên dốc. Vào bến
đậu ngay cạnh café Tùng. Vào làm một ly đã. Mọi chuyện tính sau. Ngày
nào cũng thế, năm nào cũng thế. Không thay đổi.
Không ai có thể “bẩy” tôi ra khỏi Đà Lạt lúc đó, dù là ông Cương khểnh,
dù là ông Trịnh Công Sơn. “Sợi tóc em bồng trôi nhanh. Trôi nhanh.” Mỗi
người một đời nhỏ nhoi, mỗi người một góc trời nhỏ nhoi. Sơn không biết gì
về tôi. Tôi không biết gì về Sơn. Không cần thiết. Sơn không bao giờ hỏi.
Tôi không bao giờ hỏi. Một người hát nhạc một người. Anh Sơn và Mai.
Tôi chỉ thực sự là tôi. Thực sự hạnh phúc khi được hát. Sau này nhạc anh
Sơn. Đó là Trịnh Công Sơn. Không bao giờ hối tiếc. Sau này có ông Trầm
Tử Thiêng. Tôi không bao giờ hối tiếc. Trong đời, tôi cũng đã gây nên nhiều
lầm lỡ. Ân hận hối tiếc đã nhiều. Những vấp ngã ít người tránh khỏi. Nhiều
hay ít mà thôi. Song trời đưa đẩy tôi gặp Sơn. Trời cho tôi những ngày đẹp
đẽ đáng yêu nhất. Tôi không bao giờ hối tiếc. Nếu có kiếp sau. Tôi cũng xin
gặp lại Sơn, như đã gặp. Ở Đà Lạt. Ở Việt Nam. Ở trong đời.
Mùa Đông cũng đã gần kề. Mùa Đông Đà Lạt như mùa Thu kéo dài.
Thêm chút lửa ấm từ lò sưởi ngọt ngào mùi gỗ thông. Đêm Đà Lạt bao giờ
cũng lạnh. Hơn, kém một tí cũng không cho ta thấy rõ mùa đang chuyển.
Bốn mùa xoay quanh những thói đáng yêu... Hương café thơm ngát qua bao
nhiêu suối khe đồi núi. Dốc tháp, dốc cao. Mái nhà ngói đỏ và mùi thơm của
gỗ thông. Tôi yêu Đà Lạt vô chừng. Như một người tình. Hơn một người
tình. Tôi rời Đà Lạt không ngờ, như khi đến. Rời xa mà vẫn yêu. Yêu nhiều
hơn vì trong cái yêu có cái tiếc nuối mặc dù sự việc rời bỏ Đà Lạt năm 1967
đã đưa tôi đến một đổi thay, đến một hạnh phúc may mắn không bao giờ tôi
dám nghĩ đến. Năm 1964 khi Trịnh Công Sơn rủ tôi về Sài Gòn đi hát với
anh. Tôi từ chối. Không phải vì không yêu nhạc Sơn. Nhưng lúc đó tôi yêu
Đà Lạt hơn. Cái lối sống xô bồ, ồn ào mánh mung của Sài Gòn không hợp
với tôi. Trong khi đó Đà Lạt là thiên đường. Êm ả, trong sáng. Sài Gòn đó
không có một chỗ đứng nào cho tôi. Là một người không hề có một chút
tham vọng. Thích an phận, bằng lòng với những điều mình có. Một đứa con
gái tầm thường như tôi. Những ngày tháng ở Đà Lạt đã là một an ủi quá đủ
rồi. Với làm chi những điều quá xa vời. Cũng không hề mơ ước một đổi
thay. Hơn thế nữa con người tôi, tâm hồn tôi hợp với Đà Lạt hơn. Thế mà rồi
tôi đã rời xa nơi chốn đã cho tôi biết bao ngày tháng đẹp đẽ trong sáng.
Một ngày của năm 1967. Tôi đến Nha Trang. Vùng biển xanh, cát trắng.
Không một chuẩn bị nào cho nơi chốn mới. Thì cũng đến hát là cùng. Vẫn
còn cơ hội để không trở lại Sài Gòn. Một vài tháng phù du đủ làm đời tôi nổi
sóng. Nha Trang không có gì quyến rũ. Nh...
 





