TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU VỀ WEBSITE HỌC LIỆU

    Kính gửi quý thầy cô và các em học sinh thân mến,Trang học liệu điện tử của Thư viện Tiểu học Tân Đông Hiệp là một nền tảng số tích hợp chất lượng, chuyên nghiệp, được thiết kế để phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu của thầy cô cùng các em học sinh. Giao diện trang web hiện đại, dễ điều hướng, tận dụng các yếu tố công nghệ như trích dẫn khoa học, phân loại theo lĩnh vực (Văn học, Toán học, Khoa học tự nhiên, Lịch sử…), và cho phép truy cập tài liệu nhanh chóng theo từ khóa, thể loại hoặc độ tuổi phù hợp. Hệ thống hỗ trợ tải về các file PDF, bài giảng minh họa, video minh họa dạng đồ họa, giúp người sử dụng dễ dàng tiếp cận tri thức, học liệu hỗ trợ giảng dạy – học tập mọi lúc, mọi nơi. Dưới sự phối hợp của các thầy cô giáo giàu nhiệt huyết, giàu kinh nghiệm sư phạm và luôn cập nhật phương pháp giảng dạy tiên tiến, học sinh toàn trường được khuyến khích phát triển toàn diện từ nhận thức khoa học đến kỹ năng tự học, sáng tạo. Nhờ nền tảng học liệu số này, việc tiếp cận thông tin trở nên minh bạch, hiệu quả và có hệ thống, khuyến khích việc phát triển tư duy logic, phân tích phản biện và khám phá tri thức một cách bài bản, sâu sắc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Screenshot_1309.png 35_Phieu_Bai_tap_cuoi_tuan_Mon_Toan_Lop_2_Bo_sach_Canh_dieu.jpg GiaoantrinhchieuMonToan2Hocki1Bosachcanhdieu.jpg KehoachbaidayDaoducLop3BosachKetnoitrithuc2022tieuhocvn.jpg TiengViet4KetnoiTuan5Bai9Tiet3LuyentuvacauDongtuTrang41.jpg ClipartKey_135275.png TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet3Trang31.jpg ClipartKey_191402.png TiengViet4KetnoiTuan7Bai16Tiet1va2TruocngayxaqueTrang66.jpg TiengViet3KetnoiTuan5Bai9DocDihocvuisaotrang43.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai6Tiet12DocNghesitrongTrang26.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai5Tiet1DocthanlanxanhvatackeTrang23.jpg TiengViet3KetnoiTuan3Bai6Tiet1Doc_NhatkitapboiTrang26.jpg Motvaibienphaptochuctrochoihoctaptrongmondaoduclop2.jpg Thumbnail_Ca_chua.png

    TẠP CHÍ THƯ VIỆN

    LIÊN KẾT LIÊN THƯ VIỆN

    💕💕Thư viện chính là kho báu, nơi mỗi cuốn sách là một viên ngọc quý." – Anonymous💕Đọc sách làm cho tâm hồn ta tinh tế, trí tuệ ta sáng suốt và nhân cách ta vững vàng." – Anonymous💕

    Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn

    100-mau-chuyen-co-dong-tay

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Phương
    Ngày gửi: 07h:25' 18-04-2024
    Dung lượng: 553.1 KB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    NGUYỄN LÂN



    100



    MẨU CHUYỆN CỔ ĐÔNG TÂY



    (In lần thứ hai)







    NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC



    1996



    Gõ và tạo ebook: tducchau (TVE)


    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com







    MỤC LỤC


    LỜI NÓI ĐẦU



    1. VÌ SỰ NGHIỆP, PHẢI SỐNG



    2. MỘT TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC SÁNG NGỜI



    3. ĐỨC ĐỘ CỦA MỘT VỊ ANH HÙNG



    4. VUA CŨNG CHỈ LÀ NGƯỜI



    5. PHẢI TỰ BIẾT MÌNH



    6. KHÔNG AI DÁM NHẬN LÀ BẬC HIỀN NHÂN



    7. QUYẾT CHÍ



    8. CÓ CHÍ TRỞ THÀNH HÙNG BIỆN



    9. MUA ĐƯỢC NGHĨA



    10. TÌNH VÀ NGHĨA



    11. VÌ NGHĨA QUÊN THÙ



    12. TRỌNG NGHĨA HƠN TIỀN TÀI



    13. CƠM PHIẾU MẪU



    14. NGƯỜI CHÍNH TRỰC



    15. CÂU TRẢ LỜI CƯƠNG TRỰC



    16. NGƯỜI CƯƠNG TRỰC KHÔNG SỢ CHẾT



    17. HÃY ĐƯA TÔI TRỞ VỀ HANG ĐÁ



    18. KHÔNG THIẾT VÀNG CHẲNG SỢ VOI



    19. LỜI NÓI THẲNG CỦA ANNIBAN



    20. NGUỒN GỐC TẾT MỒNG BA THÁNG BA



    21. THẾ NÀO LÀ TRI KỶ



    22. LƯỢNG CẢ BAO DUNG



    23. CỨU NGƯỜI ĐÃ KẾT ÁN CHẶT CHÂN MÌNH



    24. CỨU NGƯỜI ĐÂU PHẢI VÌ LỢI



    25. LIỀU CHẾT THEO THẦY HỌC ĐẠO



    26. DŨNG CẢM HƠN NGƯỜI



    27. MỘT EM BÉ GAN DẠ



    28. PHẢI CHĂNG LÀ TÀ THUẬT



    29. ALẾCHXĂNG ĐẠI ĐẾ SỐNG GIẢN DỊ



    30. TIN Ở BẠN



    31. CÙNG CHỊU KHÁT VỚI QUÂN LÍNH



    32. LÀM GƯƠNG CHO TƯỚNG SĨ



    33. NHƯỜNG GHẾ CHO LÍNH



    34. HẬU ĐÃI GIA QUYẾN KẺ ĐỊCH



    35. TRỌNG SÁCH



    36. CŨNG ƯỚC LÀ ĐIÔGIEN



    37. KHÔNG GIỮ ĐẠO ĐỨC ĐƯỢC TRỌN ĐỜI



    38. MỘT LỜI DÍ DỎM TAI HẠI



    39. NÓI NGỌT DỄ NGHE



    40. THẾ NÀO LÀ HẠNH PHÚC



    41. CÓ GIỎI GIANG GÌ ĐÂU



    42. ĐUA ĐÒI



    43. ĐÁNG KIẾP TÊN PHẢN BỘI



    44. BÀ MẸ BIẾT DẠY CON



    45. TÌM THẦY DẠY CON



    46. TỰ SÁT ĐỂ KHUYÊN CON



    47. CHÚNG KHẨU ĐỒNG TỪ



    48. CHỚ NÓI DỐI TRẺ



    49. THẾ NÀO LÀ HIẾU



    50. HIẾU VỚI MẸ



    51. CỨU MẸ BẰNG SỮA CỦA MÌNH



    52. VÌ HIẾU MÀ HẾT CÂM



    53. MẸ ĐÁNH KHÔNG ĐAU MÀ KHÓC



    54. NHÌN VẾT THƯƠNG NHỚ MẸ



    55. CẢM HÓA ĐƯỢC NGƯỜI MẸ KẾ ÁC NGHIỆT



    56. CON KHẢNG KHÁI, MẸ THẢO HIỀN



    57. THẾ MỚI LÀ ANH



    58. CHUNG TÌNH



    59. THỦY CHUNG



    60. XỨNG VỚI NGƯỜI CHỒNG ANH HÙNG



    61. CẢI TẠO ĐẤT NƯỚC BẰNG LUẬT



    62. MỘT NHÀ LÀM LUẬT CÔNG MINH VÀ DÂN
    CHỦ
    63. MỘT TỤC LỆ DÂN CHỦ


    64. NẾU KHÔNG AI BẰNG VUA



    65. NHƯỜNG NGÔI



    66. VIỆC CAI TRỊ TRONG NƯỚC NÊN THẾ NÀO



    67. VÌ TỔ QUỐC TRÊN HẾT



    68. QUÊN ĐAU KHỔ ĐỂ CỨU DÂN



    69. CỨU NƯỚC TRÊN HẾT



    70. SỢ CHÍNH QUYỀN HÀ KHẮC HƠN SỢ HỔ



    71. CHỈ CÓ THỂ DỰA VÀO SỨC MÌNH



    72. BÉ HẠT TIÊU



    73. CON CHẲNG GIỐNG CHA



    74. VỎ QUÝT DÀY CÓ MÓNG TAY NHỌN



    75. AI NGU



    76. CẦU CHO BẠO CHÚA SỐNG LÂU



    77. ĂN THUỐC BẤT TỬ MÀ LẠI CHẾT Ư



    78. ĐỐI XỬ VỚI BINH LÍNH



    79. KHÔNG THẮNG TRỘM



    80. ĐỐI XỬ VỚI ĐỊCH



    81. ĐÁNH THÌ ĐÁNH NHƯNG HÃY NGHE TÔI ĐÃ



    82. MỘT ÔNG QUAN THANH LIÊM



    83. HAI THỨ CỦA BÁU



    84. KHÔNG NHẬN CÁ TỨC LÀ CÓ CÁ ĂN LÂU DÀI



    85. NGƯỜI TÙ ĐƯỢC KÍNH TRỌNG



    86. CHỐNG XA XỈ



    87. TRỪ BỌN MÊ TÍN HẠI DÂN



    88. KHÔNG TIN TƯỚNG SỐ NỮA



    89. TÔ TẦN DẠY KHÉO



    90. CAN KHÉO



    91. LỜI KHEN CÓ SỨC THUYẾT PHỤC



    92. SỞ VƯƠNG MẤT CUNG



    93. NGƯỜI CHĂN CỪU QUÂN TỬ



    94. VÌ NƯỚC NHÀ CHỊU KHUẤT



    95. NGƯỜI LÁI TRÂU YÊU NƯỚC



    96. DÙNG ĐÀN KHUYÊN VUA



    97. NUỐT THAN ĐỂ TRẢ THÙ CHO CHỦ



    98. THA THỨ CHO TÊN PHẢN BỘI



    99. MẤT LÒNG DÂN THÌ MẤT NƯỚC



    100. BIA KỶ NIỆM CATÔNG






    LỜI NÓI ĐẦU




    Các cụ ta nói: “Ôn cố tri tân”, có nghĩa là ôn cái cũ biết được cái
    mới. Tôi rất tâm đắc câu đó, vì qua những gương sáng của lịch sử, ta
    soi vào sẽ biết được lẽ phải chăng, mà cố tự rèn luyện mình và giúp
    cho người khác tu dưỡng. Chính vì thế mà năm 1943, tôi đã soạn bộ
    sách Những trang sử vẻ vang để nêu lên những gương anh hùng của
    ông cha chúng ta.







    Ngày nay, những đảo lộn trong thế giới tác động sâu sắc đến các
    tầng lớp nhân dân ta, gây nên những tác hại lớn về mặt luân thường
    đạo lí, đến nỗi hằng ngày trên báo chí,… ta đọc thấy những tin đáng
    đau lòng, như con đánh chết mẹ, vợ đầu độc chồng, học trò chửi cô
    giáo, bè bạn chém giết nhau, nạn tham nhũng tràn lan, công dân
    phản Tổ quốc…







    Là một nhà giáo, tôi vô cùng lo lắng trước những ảnh hưởng xấu
    xa đối với thế hệ mới lớn lên.







    Đọc lại những trang sử cũ của nhân loại từ Đông sang Tây trong
    thời kì cổ đại, tôi thấy yên tâm và tin tưởng vào con người với những
    tấm gương chói lọi.







    Tôi thầm nghĩ: Những gương sáng đó sẽ giúp cho mỗi người khi
    soi vào có thể hoặc tu tỉnh, hoặc cố vươn lên những đỉnh cao của
    đạo làm người.






    Vì thế tôi soạn tập 100 mẩu chuyện cổ Đông Tây này, lựa chọn
    một trăm truyện kể về những mẫu người tiêu biểu trong cổ sử của Hi
    Lạp, La Mã và Trung Quốc, những cái nôi của văn minh nhân loại.







    Trong tập này, những người và tên đất Hi Lạp, La Mã, tôi xin
    dịch theo phiên âm tiếng Pháp, còn tên người và tên đất Trung Quốc
    thì tất nhiên phiên âm là những từ Hán – Việt.







    Để kết thúc Lời nói đầu ngắn ngủi và chân thành này tôi mong
    mỏi rằng các bạn độc giả thân mến sẽ có những ý nghĩ tương tự như
    những lời phát biểu sau đây của nhà sử học Hi Lạp Phulacơ khi viết
    về những tinh hoa của lịch sử:







    “Tôi khắc sâu vào tâm hồn tôi kỉ niệm và hình ảnh của những
    người đạo đức nhất, lừng lẫy nhất: nếu trong sự giao thiệp với những
    người tôi buộc phải cùng sống mà khiến tôi có những định kiến xấu
    xa, đồi bại, không xứng đáng với con người có danh dự, thì tôi cố
    gắng gạt đi, trừ bỏ đi; tôi sẽ làm cho tưởng mình êm dịu và trong
    sáng bằng cách nghĩ đến những mẫu mực trọn vẹn về đạo lí và đức
    độ”.







    Cuối cùng tôi xin tỏ lời chân thành cảm tạ đồng chí Từ Kính Đàm
    đã cho tôi mượn nhiều tư liệu quý.







    Tháng 8 năm 1991





    NGUYỄN LÂN


    1. VÌ SỰ NGHIỆP, PHẢI SỐNG




    Họ Tư Mã đời đời làm sử quan. Đến đời nhà Hán, Tư Mã Đàm
    làm Thái sư lệnh. Trên đường đi theo Hán Vũ Đế, Tư Mã Đàm mắc
    bệnh nặng. Trước khi từ trần, ông cầm tay con là Tư Mã Thiên mà
    dặn rằng:







    – Tổ tiên ta đời đời làm sử quan. Sau khi cha chết, thế nào con
    cũng phải nối nghiệp làm thái sử.







    Tư Mã Thiên là một người thông minh tuyệt vời, đã đọc thiên
    kinh vạn quyển và đã đi chu du khắp nước Trung Hoa, để hiểu biết
    non sông và nắm bắt mọi sự việc.







    Vâng lời cha, ông thay cha làm Thái sử lệnh và chuẩn bị viết bộ
    Sử kí, thực hiện hoài bão lớn lao của người cha.







    Năm 99 trước Công nguyên, Hán Vũ Đế sai quân vào đánh Hung
    nô. Một người quen biết Tư Mã Thiên là Lí Lăng đem năm nghìn quân
    vào biên giới Hung nô, bị tám vạn quân địch bao vây. Suốt mười
    ngày liền Lí Lăng chỉ huy cuộc chiến đâu, giết hơn vạn quân địch,
    nhưng cuối cùng, quân sĩ chết hầu hết lại bị chặn đường về, Lí Lăng
    phải hàng giặc. Vũ Đế nổi giận, muốn giết cả nhà Lí Lăng. Tư Mã
    Thiên biết tài đức của Lí Lăng, mạnh dạn tâu với nhà vua, bênh vực
    Lí Lăng.





    Vũ Đế càng giận, lại nghe lời bọn quần thần, sai bắt giam Tư Mã

    Thiên và giao cho pháp quan luận tội. Cuối cùng ông bị khép vào tội
    coi thường nhà vua và bị cung hình (tức là bị thiến). Hồi đó có phép
    lấy tiền chuộc tội: chỉ cần năm mươi vạn đồng tiền là chuộc được tội
    chết. Nhưng Tư Mã Thiên nghèo, thanh bạch, không có tiền chuộc,
    đành phải chịu hình phạt nhục nhã ấy.







    Uất ức quá, đã có lần ông định tự vẫn. Nhưng ông lại nhớ đến lời
    trối trăng của cha ông và nghĩ đến quyển Sử kí ông đương viết. Nên
    ông đành sống để không trái lời cha dặn và nhất là để hoàn thành sự
    nghiệp cao cả: ghi lại lịch sử của dân tộc kéo dài trên ba nghìn năm
    từ thời Hoàng Đế cho đến đời Hán Vũ Đế. Quyển Sử kí của ông là
    một bộ sử vĩ đại trong những bộ sử của nhân loại.






    2. MỘT TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC
    SÁNG NGỜI




    Vào thế kỉ thứ IV trước Công nguyên, có một người mà gương
    đạo đức còn sáng ngời mãi mãi trong lịch sử nhân loại. Đó là
    Phôxiông.







    Hồi nhỏ, ông từng được học các triết gia Phatông và Đênôcrát ở
    học đường Acađêmi. Theo lời dạy của các thầy, ông đã tự rèn luyện
    những đức tính đạo đức mà ông giữ đến trọn đời.







    Suốt đời, ngay những lúc chỉ huy một đạo quân hùng cường hay
    được cử đứng đầu Nhà nước, ông vẫn giữ được một cuộc sống đạm
    bạc đến mức khốn khổ, một tác phong giản dị và một đức liêm khiết
    tuyệt vời. Khi ông cầm quân ra trận, ông thường đi chân đất và nếu
    thấy ông khoác áo măng tô thì binh lính kháo nhau rằng trời rét lắm
    đấy.







    Người ta không thấy ông cười hay khóc, lúc nào mặt cũng đăm
    chiêu nghĩ ngợi và khi cần phát biểu thì nói rất ngắn gọn và rất sắc,
    đến mức nhà hùng biện Đêmôxten phải khâm phục.







    Một lần vua Alếchxăng gửi tặng ông một trăm đồng tiền vàng,
    ông hỏi những người đem tiền đến là vì sao trong toàn dân thành
    Aten, nhà vua lại chỉ tặng ông tiền.





    – Vì nhà vua thấy chỉ có ông là người đức hạnh và trọng danh

    dự.







    – Vậy thì các ông về trình với đức vua là tôi sẽ giữ được như thế
    cho đến trọn đời.







    Thấy ông không nhận tiền, những người của Alếchxăng theo ông
    về tận nhà.







    Đến ngôi nhà lụp xụp, họ ngạc nhiên thấy vợ ông đang ngồi
    nhào bột, còn ông thì ra giếng tự kéo nước rửa chân.







    Mấy người đó thấy vậy, yêu cầu ông nhận tiền và nói rằng không
    thể để một người bạn của nhà vua sống cực khổ như thế.







    Ngay lúc đó có một ông lão nghèo đi qua, quần áo bẩn thỉu,
    nhếch nhác. Phôxiông hỏi:







    - Các ông thấy tôi khổ hơn ông cụ này ư?




    - Đâu có thế?




    - Vậy mà ông cụ vẫn sống thản nhiên. Cho nên tôi không
    nhận số tiền này. Nó không có ich gì cho tôi. Vả lại nếu tôi
    dùng nó thì tôi chẳng còn xứng đáng với nhà vua nữa.




    Alếchxăng vô cùng bực tức trước sự từ chối của Phôxiông và viết
    thư cho ông nói rằng ai không nhận gì của mình thì không đáng là
    bạn của mình nữa.







    Phôxiông trả lời là không thể nhận quà tặng của nhà vua và chỉ
    xin nhà vua tha tội cho bốn người dân Aten đương bị cầm tù.
    Alếchxăng đã chuẩn y ngay.







    Alếchxăng lại cho người đến tặng cho Phôxiông một trong bốn
    tỉnh ở châu Á mà Phôxiông có thể tự chọn.







    Mặc dù biết Alếchxăng không bằng lòng. Phôxiông vẫn cương
    quyết không nhận!







    Sau khi Alếchxăng qua đời, người thay quyền nhà vua là
    Ăngtipate vì nể Phôxiông đã giao cho một người bạn của ông là
    Mêninluýt cai trị một miền ở Aten.







    Để trả ơn Phôxiông, người này đem biếu Phôxiông một số tiền
    lớn. Ông đã nói:







    - Mêninluýt chẳng hơn gì Alếchxăng, vậy tôi không có lí gì
    nhận tiền của Mêninluýt khi đã không nhận của Alếchxăng.





    Mêninluýt đáp:




    - Ông chẳng nhận cho ông thì nhận cho con ông vậy.





    Phôxiông trả lời:




    - Nếu con tôi giống tôi thì nó thừa hưởng gia tài của bố
    nó, còn nếu nó không giống tôi thì số tiền này cũng chẳng
    thấm gì.






    Mêninluýt đành đem tiền về.


    3. ĐỨC ĐỘ CỦA MỘT VỊ ANH HÙNG




    Một trong hai vị anh hùng mà Phuytáccơ coi là có đạo đức trong
    sáng nhất là Pôluýt Temililuýt (*).







    Khi còn là thanh niên, Pôluýt đã vượt hẳn những người cùng tuổi
    bằng những đức tính công minh, thẳng thắn, tự tin, khi đã nhận công
    việc gì làm, thì tận tâm đạt đến mục đích cuối cùng.







    Khi làm tướng cầm quân, ông yêu cầu quân lính phải giữ kỉ luật
    thật nghiêm và phải chịu khó rèn luyện. Bản thân ông luôn luôn là
    một gương sáng của họ.







    Hồi đó, Tây Ban Nha thuộc quyền cai trị của La Mã. Vì có những
    cuộc nổi loạn, Pôluýt được cử sang bình định. Sau khi đã ổn định
    được tình hình của hai trăm năm mươi thành phố, ông trở về La Mã,
    không đem về một đồng xu nhỏ.







    Ông cũng được cử sang bình định xứ Liguyri ở Tấy Bắc nước Y.
    Ông đem tám nghìn quân sang đánh nhau với một đạo quân gồm
    bốn mươi nghìn người. Nhưng nhờ tài thao lược của ông. Ông đã
    đánh tan đạo quân đó, hiểu được nhân dân Liguyri và chinh phục
    được lòng tin của họ.






    Vào thế kỉ thứ II trước Công nguyên, xứ Maxêđoan hùng cường
    trước kia trong thời Alếchxăng Đại Đế, đã có một tên vua gian tham
    và keo kiệt là Pécxê.







    Pécxê đánh cướp một bộ phận thuỷ quân La Mã rồi câu kết với
    người Gôloa và một số dân tộc khác định tiến quân vào nước Ý.







    Lúc đó Pôluýt đã gần sáu mươi tuổi. Dân chúng yêu cầu ông giữ
    quyền chấp chính. Ông từ chối vì cho rằng mình đã già. Nhưng dân
    chúng đến tận nhà nài ông ra cầm quyền để chống lại Pécxê. Ông
    đành phải nhận.






    Ông đem quân sang xứ Maxêđoan.




    Tên vua hèn hạ Pécxê lại có một đạo quân rất lớn gồm bốn
    nghìn kị binh và gần bốn mươi nghìn lục quân. Cuộc chiến đấu cũng
    gian khổ, nhưng nhờ tài thao lược của Pôluýt, ông đã thắng hoàn
    toàn và làm chủ được thành Maxêđoan.







    Pécxê hèn hạ, sợ chết, xin được vào yết kiến Pôluýt. Pécxê quỳ
    xuống đất và hôn đầu gối Pôluýt. Ông đã nói với Pécxê rằng:







    – Anh đã làm giảm giá trị thắng lợi của người La Mã, vì đã chiến
    thắng một kẻ địch hèn hạ, đáng khinh.







    Nói rồi, ông cho Pécxê đứng dậy và giao người đưa Pécxê đến
    sống ở một nơi yên ổn với gia đình.






    Ông cho gọi đến dưới trướng của ông những sĩ quan trẻ, trong
    đó có con trai và con rể của ông. Họ vào, thấy ông ngồi yên lặng, vẻ
    mặt trầm tư. Một lúc lâu sau, ông nói với họ rằng chỉ trong một thời

    gian ngắn, quân đội La Mã đã đánh bại được đạo quân hùng hậu của
    Pécxê và làm chủ cả cơ nghiệp huy hoàng xưa kia của Alếchxăng đại
    đế, thí có nên kiêu căng không? Cần phải rút kinh nghiệm mà nghĩ
    đến những gì còn chờ đón mình ở tương lai, không nên quá vội tự
    hào.







    Đó là một bài học khiêm tốn ông đã dạy cho con cái ông và
    những bạn trẻ của họ.







    Sau chiến thắng, ông đi thăm các vùng ở Hi lạp. Đi đến đâu ông
    cũng phủ dụ dân chúng, lấy của kho phát cho dân nghèo và yêu cầu
    các quan chức phải giữ gìn trật tự và an ninh.







    Người dân Hi Lạp đều ca tụng tinh thần bao dung rộng lượng,
    nhất là tính liêm khiết của ông. Ông chỉ cho phép mấy người con của
    ông trong quân đội lấy một số sách trong thư viện của nhà vua, và
    không đụng đến những châu báu trong các kho tàng đầy ắp của
    Maxêđoan.







    Ông trả lại cho người Hi lạp đất đai của họ, tuyên bố là các thành
    phố của họ được hoàn toàn tự do và cai trị theo pháp luật của họ.







    Khi trở về La Mã, ông được đồng bào đón tiếp trọng thể và được
    giao chức Ngự sử. Ông luôn luôn làm tròn nhiệm vụ với tinh thần
    trách nhiệm rất cao.






    Song vì tuổi cao, lại mang bệnh, ông đã từ chức và theo lời
    khuyên của các thầy thuốc, ông về sống ở Êlê một thành phố ở bờ
    biển nước Ý. Nhân dân rất tôn kính ông, mỗi lần có hội hè đều mời
    ông tham dự.







    Năm 160 trước Công nguyên, ông đã từ trần. Nhân dân La Mã và
    Maxêđoan thương tiếc ông vô cùng. Ông mất đi, nhưng tiếng thơm
    của vị anh hùng có đức độ cao siêu còn sáng ngời mãi mãi trong lịch
    sử.








    4. VUA CŨNG CHỈ LÀ NGƯỜI




    Vào thế kỉ thứ IV trước Công nguyên, vương quốc Maxêđoan (ở
    phía bắc Hi Lạp hiện nay) có một vị vua hùng mạnh, đã đánh đông
    dẹp bắc, uy danh lừng lẫy. Đó là quốc vương Philíp.







    Mặc dầu ngai vàng vững chắc, thần dân quy phục, nhưng ông
    vua này vẫn luôn luôn nghĩ rằng ở cương vị chúa tể của mình, mình
    dễ tự phụ mà mắc những sai lầm đáng tiếc, nên ông đã ra lệnh cho
    một người hầu cận là sáng sáng, khi ông thức dậy thì đến trước long
    sang dõng dạc nhắc một câu :









    – Hỡi đức vua Phi líp, nhà vua cũng chỉ là người.

    Sự cảnh giác đối với bản thân như thế thực đẹp biết bao !.



    5. PHẢI TỰ BIẾT MÌNH




    Trong nước Hi Lạp cổ, có một họa sĩ trứ danh tên là Apen. Ông
    yêu nghệ thuật, mê hội họa, có tinh thần khiêm tốn, sẵn sàng tiếp
    thu những lời phê bình đối với những tác phẩm của ông.







    Muốn được biết những nhận xét của quần chúng đối với những
    bức họa của mình, ông thường đem bày ở ngoài phố, rồi núp ở phía
    sau, để nghe những lời bình phẩm của những người qua đường.







    Một lần, ông bày một bức tranh vẽ một kị sĩ cưỡi ngựa. Bỗng có
    một anh thợ giày đi qua, dừng lại xem tranh. Anh ta thấy chiếc dép
    của kị sĩ vẽ không đúng, liền tỏ ý chê. Tối hôm đó, họa sĩ đã sửa
    ngay rồi lại bày tranh ra.







    Ngày hôm sau, anh thợ giày lại đi qua, thấy học sĩ đã sửa, lấy
    làm tự hào. Anh tưởng minh cũng có tài phê bình. Anh liền chê lung
    tung, từ kị sĩ đến con ngựa.







    Họa sĩ nghe anh ba hoa, bực mình quá, phải đứng ra nói :

    – Này anh thợ giày, xin đừng nói thêm nữa vì anh chẳng hiểu gì

    cả !






    6. KHÔNG AI DÁM NHẬN LÀ BẬC
    HIỀN NHÂN




    Một hôm, mấy anh thanh niên ở thành Milô trên bờ biển Êgiê
    đương đi chơi thì thấy một ông lão đương kéo vó. Họ bèn nghĩ ra
    một trò chơi là trả tiền trước cho một ông lão và hẹn là vó kéo lên lần
    đầu được bao nhiêu họ lấy hết. Ông lão bằng lòng và thả vó xuống
    nước. Một lúc sau, kéo vó lên thì không phải là cá mà là một cái đồ
    trang sức có ba chân bằng vàng. Bọn thanh niên đòi lấy, ông lão
    không nghe, cho rằng họ chỉ mua cá mà thôi. Hai bên cãi nhau. Dân
    địa phương kéo đến và bảo họ phải đi hỏi bà đồng thờ thần Apolông
    ở Đenphơ. Bà đồng bảo họ đem biếu cho người nào là bậc hiền triết
    giỏi nhất.







    Lúc bấy giờ ở Hi Lạp có bảy nhà thông thái nổi tiếng về đạo đức
    cũng như về kiến thức. Trước hết, họ đem biếu nhà triết học kiêm
    toán học Talét. Nhưng triết gia tự cho là không xứng đáng là bậc
    hiền nhân, nên giới thiệu người thứ hai, người này giới thiệu người
    thứ ba, lần lượt đến người thứ bảy. Cả bảy nhà triết học đều không
    dám nhận là bậc hiền nhân giỏi nhất. Cuối cùng, mọi người khuyên
    đem đến thờ ở đền Apolông và nói rằng chỉ có thần thánh mới xứng
    đáng là bậc hiền cao cả nhất !.








    7. QUYẾT CHÍ
    Năm 416 trước Công nguyên, vua nước Ngô là Hạp Lư đem quân
    sang đánh nước Việt, nhưng quân Ngô bị thua, Hạp Lư bị trúng tên.
    Khi sắp chết, Hạp Lư dặn lại con là Phù Sai phải trả thù cho cha.
    Phù Sai quyết chí làm theo lời cha, nên cho người đứng ở giữa sân,
    để mỗi khi Phù Sai đi qua thì người ấy nói to:
    - Hỡi Phù Sai, nước Việt giết cha anh mà anh quên ư ?
    Phù Sai liền trả lời:
    - Vâng, không dám quên đâu !
    Ba năm sau, quả Phù Sai đánh được nước Việt.
    Vua nước Việt là Câu Tiễn, nghe lời khuyên của Phạm Lãi, xin nhận
    làm bề tôi của vua Ngô. Nhưng trong lòng vẫn quyết chí phục thù.
    Hằng ngày Câu Tiễn chất củi gai làm giường nằm và treo ở trước mặt
    một cái mật đắng, khi ăn nếm mật rồi mới ăn. Một mặt bản thân
    cùng vợ con chịu khó lao động, mặt khác tôn trọng và biệt đãi những
    người có tài, cứu giúp những người nghèo.
    Trong hai mươi năm, Câu Tiễn không lúc nào quên chuyện rửa thù.
    Khi đã thấy lòng dân theo mình, và tình thế nước Ngô bê bối, Câu
    Tiễn đem quân tiến đánh nước Ngô. Quân Ngô thua, Câu Tiễn lập lại
    cơ đồ.
    Như thế là vì quyết chí Phù Sai trả thù được cho cha, nhưng cũng vì
    quyết chí mà Câu Tiễn lấy lại được đất nước.










    8. CÓ CHÍ TRỞ THÀNH HÙNG BIỆN




    Trong nước Hi Lạp cổ đại, quần chúng thường tụ họp ở quảng
    trường để nghe các nhà chính trị trình bày ý kiến của họ, rồi có
    quyền biểu quyết tán thành hay không ý kiến của diễn giả.







    Nhà chính trị Đêmôxten muốn hô hào quần chúng đấu tranh cho
    nền dân chủ, nhưng ông lại có những khuyết tật như nói ngọng, nói
    lắp, nói nhỏ. Ông quyết tâm rèn luyện giọng nói của mình để thuyết
    phục được quần chúng.







    Muốn thế, ông đã tự nhốt mình vào trong một hầm kín, tự gọt
    rửa đầu để khỏi ra ngoài, rồi cố đọc thật to những bài thơ đã thuộc,
    luyện giọng, rèn lối phát âm, ra sức tránh nói lắp và tập những cử chỉ
    thích hợp với lời nói.







    Sau ba tháng đã có tiến bộ, ông ngậm trong miệng những viên
    sỏi, rồi vừa chạy trên sườn đồi hoặc bãi biển, ông vừa hét to những
    lời dõng dạc, để át tiếng gió gào và tiếng sóng gầm.







    Nhờ có ý chí kiên cường, ông đã trở thành nhà chính trị hùng
    biện nhất của Hi Lạp ở thế kỉ thứ IV trước Công nguyên.






    9. MUA ĐƯỢC NGHĨA




    Mạnh Thường Quân là tướng của nước Tề thời Chiến quốc. Mạnh
    Thường Quân nhà rất giàu, lại có tiếng là người nghĩa hiệp.



    Nhà ông luôn luôn có nhiều khách, gồm những người nghĩa sĩ.



    Phùng Huyên người nước Tề, làm thực khách ở cửa Mạnh
    Thường Quân.



    Một hôm, Mạnh Thường Quân đưa sổ bộ ra hỏi các thực khách
    xem có người nào biết về việc kế toán, nhờ qua đất Tiết (thuộc Sơn
    Đông ngày nay), là phong ấp của Thường Quân, để thu các mối nợ,
    thì xin ký tên vào sổ. Phùng Huyên nhận sổ ký tên, rồi thưa : “Huyên
    nguyện đi.”
    Trước khi đi, họ Phùng hỏi: “Thu nợ xong rồi có cần mua vật gì?”



    Mạnh bảo: “Xem trong nhà còn thiếu vật gì thì cứ mua về.”

    Phùng Huyên đến đất Tiết, cho người thuộc lại mời tất cả những
    người thiếu nợ đến đông đủ, rồi truyền rằng Mạnh Tướng quốc ra
    lịnh xóa bỏ tất cả số nợ. Và, để cho mọi người tin tưởng, Phùng đem
    đốt hết những văn khế nợ. Dân đất Tiết vui mừng, tung hô vạn tuế.
    Khi họ Phùng trở về, Thường Quân lấy làm lạ cho là đòi nợ cách gì
    mà mau chóng thế, mới hỏi:
    - Thu nợ xong phải không?
    - Thu xong cả.
    - Có mua gì về không?
    - Khi đi, Tướng công có bảo: nên mua những vật gì trong nhà còn
    thiếu. Tôi trộm nghĩ trong bụng Tướng công chất chứa những đồ trân

    bảo, ngoài chuồng nuôi đầy chó ngựa, nhà sau la liệt những mỹ
    nhân, vậy vật mà Tướng công còn thiếu, chưa có là điều Nghĩa, nên
    tôi trộm lịnh mua điều Nghĩa đem về.
    Thường Quân nghe nói không bằng lòng, nhưng bỏ qua, chẳng nói
    lại gì.
    Về sau, vua Tề không dùng Mạnh làm Tướng quốc nữa, phải về đất
    Tiết ở. Bấy giờ bá tính đất Tiết, nghe tin, nhớ đến ơn xưa, trai gái già
    trẻ rủ nhau đến đón rước đầy đường, hoan hô nhiệt liệt. Khi ấy,
    Mạnh quay lại Phùng Huyên mà bảo rằng:
    - Tiên sinh vì tôi mua điều nghĩa, ngày nay tôi mới trông thấy!.






    10. TÌNH VÀ NGHĨA
    Tướng nước Tề đưa quân sang đánh nước Lỗ.
    Khi đến biên giới, quân lính thấy một người phụ nữ một tay ẵm một
    đứa bé, một tay dắt một đứa bé khác. Nhưng quân tiến nhanh quá,
    người phụ nữ kia đặt đứa bé trên tay xuống và ẵm đứa bé đương dắt
    để chạy nhanh vào rừng. Đứa bé bị bỏ lại vừa chạy theo vừa khóc
    ầm ĩ.
    Viên tướng nước Tề cho bắt người phụ nữ và hỏi :
    - Đứa bé chị đương ẵm chạy là con ai, còn đứa bé chị bỏ lại là con ai
    ?
    - Đứa bé tôi ẵm chạy là con anh cả tôi, còn cháu bé tôi đành bỏ lại là
    con tôi. Khi quân lính kéo đến, tôi không thể nào đưa cả hai đứa đi,
    đành phải để con tôi lại.
    - Tình mẹ con là ruột thịt. Sao nàng nỡ bỏ con lại ?
    - Con tôi là tình riêng, con anh tôi là nghĩa công, mặc dầu tôi vô cùng
    đau xót.
    Viên tướng nước Tề liền tâu với vua Tề :
    - Ta mới đến biên cương mà đã thấy một mụ đàn bà nước Lỗ coi
    trọng nghĩa công hơn tình riêng. Như thế thì nước này không phải dễ
    mà xâm chiếm. Xin bệ hạ cho quân ta kéo về.
    Vua Tề cho là phải và cùng toàn quân trở lại.
    Vua nước Lỗ biết chuyện ấy, thưởng cho người phụ nữ và phong cho
    hai chữ “Nghĩa cô”.







    11. VÌ NGHĨA QUÊN THÙ




    Đời Đường, có hai ông quan đều có tài là Quách Tử Nghi và Lí
    Quang Bật. Hai người cùng làm phó tướng cho An Tử Thuận. Nhưng
    tính khí hai người khác hẳn nhau. Họ lại còn ghét nhau nữa, đến mức
    gặp nhau không thèm chào, cùng ngồi một xe hoặc cùng dự tiệc một
    bàn mà không nói với nhau một câu nào. Thiên hạ cho rằng họ là tử
    thù của nhau.
    Đến khi Quách Tử Nghi được cử làm tướng thay cho An Tử Thuận, Lí
    Quang Bật phải ở dưới quyền.
    Thời đó một vị tướng quốc có quyền sinh, quyền sát đối với người
    khác. Quang Bật rất lo cho gia quyến mình, liền quyết tâm đến nói
    với Tử Nghi.
    – Tôi với ngài vốn có cựu hiềm. Phần tôi dù chết cũng cam tội.
    Nhưng xin ngài rộng lượng đừng sát hại vợ con tôi.
    Quách Tử Nghi nghe nói thế, chạy đến nắm tay Lí Quang Bật và nói
    rằng :
    – Xin ông đừng nghĩ quẩn, tôi không oán thù gì ông. Hiện nay nước
    nhà đương loạn lạc. Tôi mong ông vui lòng cộng tác với tôi để yên
    lòng dân, vì nghĩa lớn…
    Sau đó, Tử Nghi cử Quang Bật làm Tiết độ sứ, một chức vụ quan
    trọng.
    Quang Bật xúc động và hối hận, hết lòng giúp Tử Nghi đáng giặc và
    trị nước.






    12. TRỌNG NGHĨA HƠN TIỀN TÀI




    Đời Tống có một ông tể tướng tên là Phạm Trọng Yêm nổi tiếng
    là người trọng nghĩa hơn tiền tài.







    Ông quyền cao chức trọng mà cuộc sống vẫn thanh đạm, suốt
    đời chỉ chăm lo đến việc cứu giúp những người nghèo trong thiên hạ.
    Chính ông đã thực hiện khẩu hiệu “Lo trước cái lo của thiên hạ, vui
    sau cái vui của thiên hạ”.







    Có một lần ông sai con là Thuần Nhân chở một thuyền có năm
    trăm thúng thóc về quê giúp dân.







    Trên đường về, Thuần Nhân vào thăm một người bạn cũ của cha
    là Thạch Mãn Khanh đương trong cảnh cùng quẫn vì vừa gặp ba cái
    tang một lúc, lại có hai người con gái lớn tuổi mà không có chồng,
    chẳng biết nương tựa vào đâu. Thuần Nhân liền giúp cho cả năm
    trăm thúng thóc.










    Khi trở về kể chuyện cho cha. Phạm Trọng Yêm nói:

    – Sao con không cho nốt cả cái thuyền?

    Thuần Nhân đáp:










    – Thưa cha, con cũng đã tặng cả chiếc thuyền rồi.

    Phạm Trọng Yêm khen:

    – Có như thế con mới xứng là con ta.


    13. CƠM PHIẾU MẪU

    Hàn Tín lúc hàn vi vì nghèo phải ăn bám vào một số người, nên
    không ai ưa.
    Tín thường đến ăn nhờ ở nhà một người đình trưởng. Nhưng cứ ăn
    không, người ta cũng ghét.
    Một hôm Tín đến nhà đình trưởng, thấy vợ người này ngồi trên phản
    ăn cơm, chị ta không cho Tín ăn. Tín buồn rầu ra đi.
    Hằng ngày Tín ra cái hang ở dưới thành câu cá, nhưng chẳng được là
    bao, nên bị đói.
    May có một bà giặt vải trông thấy, thương tình, bà nhường cho một
    phần cơm của bà trong nhiều ngày.
    Đến khi bà giặt hết vải, Tín cảm ơn bà và nói :
    – Sau này, cháu sẽ đền ơn bà xứng đáng.
    Bà ta trả lời :
    – Tôi thấy cậu đói, nên mới cho ăn, chứ mong gì cậu báo đáp đâu.
    Ít lâu sau, Hàn Tín theo Hạng Lương, rồi Hạng Vũ, nhưng không
    được trọng dụng. Tín bèn sang đất Hán.
    May gặp được thừa tướng Tiêu Hà. Thừa tướng giới thiệu với vua
    Hán.
    Hàn Tín được Hán Vương tin yêu và phong cho làm đại tướng.

    Lúc vinh hiển, Hàn Tín nhớ đến ơn bà giặt vải (phiếu mẫu : bà mẹ
    giặt vải), quay về, biếu bà nghìn lạng vàng.
    Do đó có câu : “Bát cơm phiếu mẫu, trả ơn nghìn vàng”.






    14. NGƯỜI CHÍNH TRỰC




    Arixtít là một tướng có tài của thành quốc Aten. Sau khi chiến
    thắng vẻ vang quân xâm lược Ba Tư ở Maratông, ông có những ý
    kiến bất đồng với Têmixtôclơ nên bị đi đày.
    Nhưng khi quân Ba Tư lại đem đại đội binh mã đến xâm lược Hi Lạp
    lần nữa, ông cấp tốc trở về, nói với Têmixtôclơ rằng :
    – Ông vẫn có thể không đồng ý với tôi, nhưng trước mắt phải cứu Tổ
    quốc đã.
    Têmixtôclơ giàn hoà với Arixtít và cùng nhau bàn việc đánh giặc.
    Trong trận đánh ở Platê, có sự tranh giành những phần đất chiếm
    được giữa người Aten và người Xpáctơ. Ông nói :
    – Chúng ta đến đây để bảo vệ Tổ quốc Hi Lạp, chứ không phải để
    tranh giành nhau.
    Ông yêu cầu quân đội Aten nhường nhịn quân đội Xpáctơ. Hai bên lại
    cùng nhau chiến đấu chống quân xâm lươc Ba Tư và đã lập được
    chiến công hiển hách ở Platê và ở Xalamin.
    Song sau đó, hai bên lại có xích mích. Arixtít lại ra sức giàn hoà để
    Aten và Xpáctơ phối hợp với nhau bảo vệ Tổ quốc chung là Hi Lạp.
    Ông đi đến đâu, người ta cũng đều nghe theo lẽ phải. Cả hai bên đều
    giao cho ông soạn những điều kiện của một hiệp định đồng minh.
    Ông đã nêu lên nhiệm vụ chung là bảo vệ đất nước Hi Lạp nhưng
    mỗi thành quốc vẫn giữ quyền độc lập về mặt nội trị. Mọi người đều
    đồng ý.

    Ông đã đi đến các miền của cả hai thành quốc, hô hào nhân dân
    đóng góp để xây dựng một quỹ chung của toàn Hi Lạp.
    Mọi người đều hưởng ứng và cả hai thành quốc đều giao cho ông
    quản lí quỹ chung ấy.
    Ông tỏ ra hết sức trung thực đến mức cả người Aten và người Xpáctơ
    đều đặt cho ông cái tên là “Người chính trực”.
    Đức độ của ông còn sáng ngời trong lịch sử Hi Lạp.






    15. CÂU TRẢ LỜI CƯƠNG TRỰC




    Đơnít cha là tên bạo chúa ở đảo Xixin.

    Có lần, Đơnít ngỏ ý muốn kết hôn với con gái của Arixtít người bạn
    của triết gia Platông.
    Arixtít nói :
    – Thà chết chứ không thể gả con gái cho một tên bạo chúa.
    Để trả thù, Đơnít cha ra lệnh giết hết những con cái khác của Arixtít
    và hỏi ông có còn giữ ý kiến là không gả con gái cho mình không ?
    Arixtít trả lời :
    – Ta thất vọng về việc mi đã làm, nhưng ta không hối hận về lời ta
    đã nói.






    16. NGƯỜI CƯƠNG TRỰC KHÔNG SỢ
    CHẾT




    Trong thời Xuân Thu, ở nước Tề, quyền bính ở trong tay một tên
    quyền thần là Thôi Trữ. Thôi Trữ muốn hạ sát vua Trang Công để lên
    ngôi báu. Thôi Trữ liền họp các quan trong triều lại để ăn thề. Mọi
    người đều sợ hãi vâng theo. Riêng có Án Anh, một sĩ phu cương trực,
    nhất quyết không tán thành.
    Thôi Trữ lấy lời dụ dỗ và đe dọa Án Anh : "Ngươi theo ta, ta sẽ chia
    cho nửa đất nước, bằng không ta sẽ giết ngươi".
    Trước mặt bọn quân lính lăm lăm gươm giáo, Án Anh vẫn bình tĩnh
    nói :
    - Lấy lợi mà dụ người ta làm điều phản bội là bất nhân. Lấy giáo mác
    mà dọa cho người ta mất chí khí là bất dũng. Giết thì giết, chứ ta
    không chịu khuất kẻ bất nhân, bất dũng.
    Nghe lời nói khảng khái và cương trực như thế, Thôi Trữ không dám
    sát hại Án Anh. Án Anh ung dung đứng dậy và lững thững bước ra.






    17. HÃY ĐƯA TÔI TRỞ VỀ HANG ĐÁ

    Ở thế kỉ thứ V trước Công nguyên, trên đảo Xixin có một tiểu
    quốc tên là Xiraquydơ – một xứ đẹp và trù phú, nhưng nhân dân đau
    khổ dưới ánh thống trị của hai cha con tên bạo chúa Đơnít.
    Độc ác nhất là tên Đơnít cha. Đơnít cướp ngôi từ năm 25 tuổi và trị vì
    trong 38 năm. Đó là một thời kì gieo nhiều tai vạ cho nhân dân xứ
    ấy: bóc lột mọi người đến xương tủy và vơ vét mọi của cải cho đầy
    túi tham, tàn sát ...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách là cách đối thoại thầm lặng với những bộ óc vĩ đại nhất trong lịch sử." – René Descartes

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG HIỆP - TP. HỒ CHÍ MINH !