Gieo Thói Quen Nhỏ, Gặt Thành Công Lớn
100-mau-chuyen-co-dong-tay

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 07h:25' 18-04-2024
Dung lượng: 553.1 KB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 07h:25' 18-04-2024
Dung lượng: 553.1 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
NGUYỄN LÂN
100
MẨU CHUYỆN CỔ ĐÔNG TÂY
(In lần thứ hai)
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC
1996
Gõ và tạo ebook: tducchau (TVE)
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
1. VÌ SỰ NGHIỆP, PHẢI SỐNG
2. MỘT TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC SÁNG NGỜI
3. ĐỨC ĐỘ CỦA MỘT VỊ ANH HÙNG
4. VUA CŨNG CHỈ LÀ NGƯỜI
5. PHẢI TỰ BIẾT MÌNH
6. KHÔNG AI DÁM NHẬN LÀ BẬC HIỀN NHÂN
7. QUYẾT CHÍ
8. CÓ CHÍ TRỞ THÀNH HÙNG BIỆN
9. MUA ĐƯỢC NGHĨA
10. TÌNH VÀ NGHĨA
11. VÌ NGHĨA QUÊN THÙ
12. TRỌNG NGHĨA HƠN TIỀN TÀI
13. CƠM PHIẾU MẪU
14. NGƯỜI CHÍNH TRỰC
15. CÂU TRẢ LỜI CƯƠNG TRỰC
16. NGƯỜI CƯƠNG TRỰC KHÔNG SỢ CHẾT
17. HÃY ĐƯA TÔI TRỞ VỀ HANG ĐÁ
18. KHÔNG THIẾT VÀNG CHẲNG SỢ VOI
19. LỜI NÓI THẲNG CỦA ANNIBAN
20. NGUỒN GỐC TẾT MỒNG BA THÁNG BA
21. THẾ NÀO LÀ TRI KỶ
22. LƯỢNG CẢ BAO DUNG
23. CỨU NGƯỜI ĐÃ KẾT ÁN CHẶT CHÂN MÌNH
24. CỨU NGƯỜI ĐÂU PHẢI VÌ LỢI
25. LIỀU CHẾT THEO THẦY HỌC ĐẠO
26. DŨNG CẢM HƠN NGƯỜI
27. MỘT EM BÉ GAN DẠ
28. PHẢI CHĂNG LÀ TÀ THUẬT
29. ALẾCHXĂNG ĐẠI ĐẾ SỐNG GIẢN DỊ
30. TIN Ở BẠN
31. CÙNG CHỊU KHÁT VỚI QUÂN LÍNH
32. LÀM GƯƠNG CHO TƯỚNG SĨ
33. NHƯỜNG GHẾ CHO LÍNH
34. HẬU ĐÃI GIA QUYẾN KẺ ĐỊCH
35. TRỌNG SÁCH
36. CŨNG ƯỚC LÀ ĐIÔGIEN
37. KHÔNG GIỮ ĐẠO ĐỨC ĐƯỢC TRỌN ĐỜI
38. MỘT LỜI DÍ DỎM TAI HẠI
39. NÓI NGỌT DỄ NGHE
40. THẾ NÀO LÀ HẠNH PHÚC
41. CÓ GIỎI GIANG GÌ ĐÂU
42. ĐUA ĐÒI
43. ĐÁNG KIẾP TÊN PHẢN BỘI
44. BÀ MẸ BIẾT DẠY CON
45. TÌM THẦY DẠY CON
46. TỰ SÁT ĐỂ KHUYÊN CON
47. CHÚNG KHẨU ĐỒNG TỪ
48. CHỚ NÓI DỐI TRẺ
49. THẾ NÀO LÀ HIẾU
50. HIẾU VỚI MẸ
51. CỨU MẸ BẰNG SỮA CỦA MÌNH
52. VÌ HIẾU MÀ HẾT CÂM
53. MẸ ĐÁNH KHÔNG ĐAU MÀ KHÓC
54. NHÌN VẾT THƯƠNG NHỚ MẸ
55. CẢM HÓA ĐƯỢC NGƯỜI MẸ KẾ ÁC NGHIỆT
56. CON KHẢNG KHÁI, MẸ THẢO HIỀN
57. THẾ MỚI LÀ ANH
58. CHUNG TÌNH
59. THỦY CHUNG
60. XỨNG VỚI NGƯỜI CHỒNG ANH HÙNG
61. CẢI TẠO ĐẤT NƯỚC BẰNG LUẬT
62. MỘT NHÀ LÀM LUẬT CÔNG MINH VÀ DÂN
CHỦ
63. MỘT TỤC LỆ DÂN CHỦ
64. NẾU KHÔNG AI BẰNG VUA
65. NHƯỜNG NGÔI
66. VIỆC CAI TRỊ TRONG NƯỚC NÊN THẾ NÀO
67. VÌ TỔ QUỐC TRÊN HẾT
68. QUÊN ĐAU KHỔ ĐỂ CỨU DÂN
69. CỨU NƯỚC TRÊN HẾT
70. SỢ CHÍNH QUYỀN HÀ KHẮC HƠN SỢ HỔ
71. CHỈ CÓ THỂ DỰA VÀO SỨC MÌNH
72. BÉ HẠT TIÊU
73. CON CHẲNG GIỐNG CHA
74. VỎ QUÝT DÀY CÓ MÓNG TAY NHỌN
75. AI NGU
76. CẦU CHO BẠO CHÚA SỐNG LÂU
77. ĂN THUỐC BẤT TỬ MÀ LẠI CHẾT Ư
78. ĐỐI XỬ VỚI BINH LÍNH
79. KHÔNG THẮNG TRỘM
80. ĐỐI XỬ VỚI ĐỊCH
81. ĐÁNH THÌ ĐÁNH NHƯNG HÃY NGHE TÔI ĐÃ
82. MỘT ÔNG QUAN THANH LIÊM
83. HAI THỨ CỦA BÁU
84. KHÔNG NHẬN CÁ TỨC LÀ CÓ CÁ ĂN LÂU DÀI
85. NGƯỜI TÙ ĐƯỢC KÍNH TRỌNG
86. CHỐNG XA XỈ
87. TRỪ BỌN MÊ TÍN HẠI DÂN
88. KHÔNG TIN TƯỚNG SỐ NỮA
89. TÔ TẦN DẠY KHÉO
90. CAN KHÉO
91. LỜI KHEN CÓ SỨC THUYẾT PHỤC
92. SỞ VƯƠNG MẤT CUNG
93. NGƯỜI CHĂN CỪU QUÂN TỬ
94. VÌ NƯỚC NHÀ CHỊU KHUẤT
95. NGƯỜI LÁI TRÂU YÊU NƯỚC
96. DÙNG ĐÀN KHUYÊN VUA
97. NUỐT THAN ĐỂ TRẢ THÙ CHO CHỦ
98. THA THỨ CHO TÊN PHẢN BỘI
99. MẤT LÒNG DÂN THÌ MẤT NƯỚC
100. BIA KỶ NIỆM CATÔNG
LỜI NÓI ĐẦU
Các cụ ta nói: “Ôn cố tri tân”, có nghĩa là ôn cái cũ biết được cái
mới. Tôi rất tâm đắc câu đó, vì qua những gương sáng của lịch sử, ta
soi vào sẽ biết được lẽ phải chăng, mà cố tự rèn luyện mình và giúp
cho người khác tu dưỡng. Chính vì thế mà năm 1943, tôi đã soạn bộ
sách Những trang sử vẻ vang để nêu lên những gương anh hùng của
ông cha chúng ta.
Ngày nay, những đảo lộn trong thế giới tác động sâu sắc đến các
tầng lớp nhân dân ta, gây nên những tác hại lớn về mặt luân thường
đạo lí, đến nỗi hằng ngày trên báo chí,… ta đọc thấy những tin đáng
đau lòng, như con đánh chết mẹ, vợ đầu độc chồng, học trò chửi cô
giáo, bè bạn chém giết nhau, nạn tham nhũng tràn lan, công dân
phản Tổ quốc…
Là một nhà giáo, tôi vô cùng lo lắng trước những ảnh hưởng xấu
xa đối với thế hệ mới lớn lên.
Đọc lại những trang sử cũ của nhân loại từ Đông sang Tây trong
thời kì cổ đại, tôi thấy yên tâm và tin tưởng vào con người với những
tấm gương chói lọi.
Tôi thầm nghĩ: Những gương sáng đó sẽ giúp cho mỗi người khi
soi vào có thể hoặc tu tỉnh, hoặc cố vươn lên những đỉnh cao của
đạo làm người.
Vì thế tôi soạn tập 100 mẩu chuyện cổ Đông Tây này, lựa chọn
một trăm truyện kể về những mẫu người tiêu biểu trong cổ sử của Hi
Lạp, La Mã và Trung Quốc, những cái nôi của văn minh nhân loại.
Trong tập này, những người và tên đất Hi Lạp, La Mã, tôi xin
dịch theo phiên âm tiếng Pháp, còn tên người và tên đất Trung Quốc
thì tất nhiên phiên âm là những từ Hán – Việt.
Để kết thúc Lời nói đầu ngắn ngủi và chân thành này tôi mong
mỏi rằng các bạn độc giả thân mến sẽ có những ý nghĩ tương tự như
những lời phát biểu sau đây của nhà sử học Hi Lạp Phulacơ khi viết
về những tinh hoa của lịch sử:
“Tôi khắc sâu vào tâm hồn tôi kỉ niệm và hình ảnh của những
người đạo đức nhất, lừng lẫy nhất: nếu trong sự giao thiệp với những
người tôi buộc phải cùng sống mà khiến tôi có những định kiến xấu
xa, đồi bại, không xứng đáng với con người có danh dự, thì tôi cố
gắng gạt đi, trừ bỏ đi; tôi sẽ làm cho tưởng mình êm dịu và trong
sáng bằng cách nghĩ đến những mẫu mực trọn vẹn về đạo lí và đức
độ”.
Cuối cùng tôi xin tỏ lời chân thành cảm tạ đồng chí Từ Kính Đàm
đã cho tôi mượn nhiều tư liệu quý.
Tháng 8 năm 1991
NGUYỄN LÂN
1. VÌ SỰ NGHIỆP, PHẢI SỐNG
Họ Tư Mã đời đời làm sử quan. Đến đời nhà Hán, Tư Mã Đàm
làm Thái sư lệnh. Trên đường đi theo Hán Vũ Đế, Tư Mã Đàm mắc
bệnh nặng. Trước khi từ trần, ông cầm tay con là Tư Mã Thiên mà
dặn rằng:
– Tổ tiên ta đời đời làm sử quan. Sau khi cha chết, thế nào con
cũng phải nối nghiệp làm thái sử.
Tư Mã Thiên là một người thông minh tuyệt vời, đã đọc thiên
kinh vạn quyển và đã đi chu du khắp nước Trung Hoa, để hiểu biết
non sông và nắm bắt mọi sự việc.
Vâng lời cha, ông thay cha làm Thái sử lệnh và chuẩn bị viết bộ
Sử kí, thực hiện hoài bão lớn lao của người cha.
Năm 99 trước Công nguyên, Hán Vũ Đế sai quân vào đánh Hung
nô. Một người quen biết Tư Mã Thiên là Lí Lăng đem năm nghìn quân
vào biên giới Hung nô, bị tám vạn quân địch bao vây. Suốt mười
ngày liền Lí Lăng chỉ huy cuộc chiến đâu, giết hơn vạn quân địch,
nhưng cuối cùng, quân sĩ chết hầu hết lại bị chặn đường về, Lí Lăng
phải hàng giặc. Vũ Đế nổi giận, muốn giết cả nhà Lí Lăng. Tư Mã
Thiên biết tài đức của Lí Lăng, mạnh dạn tâu với nhà vua, bênh vực
Lí Lăng.
Vũ Đế càng giận, lại nghe lời bọn quần thần, sai bắt giam Tư Mã
Thiên và giao cho pháp quan luận tội. Cuối cùng ông bị khép vào tội
coi thường nhà vua và bị cung hình (tức là bị thiến). Hồi đó có phép
lấy tiền chuộc tội: chỉ cần năm mươi vạn đồng tiền là chuộc được tội
chết. Nhưng Tư Mã Thiên nghèo, thanh bạch, không có tiền chuộc,
đành phải chịu hình phạt nhục nhã ấy.
Uất ức quá, đã có lần ông định tự vẫn. Nhưng ông lại nhớ đến lời
trối trăng của cha ông và nghĩ đến quyển Sử kí ông đương viết. Nên
ông đành sống để không trái lời cha dặn và nhất là để hoàn thành sự
nghiệp cao cả: ghi lại lịch sử của dân tộc kéo dài trên ba nghìn năm
từ thời Hoàng Đế cho đến đời Hán Vũ Đế. Quyển Sử kí của ông là
một bộ sử vĩ đại trong những bộ sử của nhân loại.
2. MỘT TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC
SÁNG NGỜI
Vào thế kỉ thứ IV trước Công nguyên, có một người mà gương
đạo đức còn sáng ngời mãi mãi trong lịch sử nhân loại. Đó là
Phôxiông.
Hồi nhỏ, ông từng được học các triết gia Phatông và Đênôcrát ở
học đường Acađêmi. Theo lời dạy của các thầy, ông đã tự rèn luyện
những đức tính đạo đức mà ông giữ đến trọn đời.
Suốt đời, ngay những lúc chỉ huy một đạo quân hùng cường hay
được cử đứng đầu Nhà nước, ông vẫn giữ được một cuộc sống đạm
bạc đến mức khốn khổ, một tác phong giản dị và một đức liêm khiết
tuyệt vời. Khi ông cầm quân ra trận, ông thường đi chân đất và nếu
thấy ông khoác áo măng tô thì binh lính kháo nhau rằng trời rét lắm
đấy.
Người ta không thấy ông cười hay khóc, lúc nào mặt cũng đăm
chiêu nghĩ ngợi và khi cần phát biểu thì nói rất ngắn gọn và rất sắc,
đến mức nhà hùng biện Đêmôxten phải khâm phục.
Một lần vua Alếchxăng gửi tặng ông một trăm đồng tiền vàng,
ông hỏi những người đem tiền đến là vì sao trong toàn dân thành
Aten, nhà vua lại chỉ tặng ông tiền.
– Vì nhà vua thấy chỉ có ông là người đức hạnh và trọng danh
dự.
– Vậy thì các ông về trình với đức vua là tôi sẽ giữ được như thế
cho đến trọn đời.
Thấy ông không nhận tiền, những người của Alếchxăng theo ông
về tận nhà.
Đến ngôi nhà lụp xụp, họ ngạc nhiên thấy vợ ông đang ngồi
nhào bột, còn ông thì ra giếng tự kéo nước rửa chân.
Mấy người đó thấy vậy, yêu cầu ông nhận tiền và nói rằng không
thể để một người bạn của nhà vua sống cực khổ như thế.
Ngay lúc đó có một ông lão nghèo đi qua, quần áo bẩn thỉu,
nhếch nhác. Phôxiông hỏi:
- Các ông thấy tôi khổ hơn ông cụ này ư?
- Đâu có thế?
- Vậy mà ông cụ vẫn sống thản nhiên. Cho nên tôi không
nhận số tiền này. Nó không có ich gì cho tôi. Vả lại nếu tôi
dùng nó thì tôi chẳng còn xứng đáng với nhà vua nữa.
Alếchxăng vô cùng bực tức trước sự từ chối của Phôxiông và viết
thư cho ông nói rằng ai không nhận gì của mình thì không đáng là
bạn của mình nữa.
Phôxiông trả lời là không thể nhận quà tặng của nhà vua và chỉ
xin nhà vua tha tội cho bốn người dân Aten đương bị cầm tù.
Alếchxăng đã chuẩn y ngay.
Alếchxăng lại cho người đến tặng cho Phôxiông một trong bốn
tỉnh ở châu Á mà Phôxiông có thể tự chọn.
Mặc dù biết Alếchxăng không bằng lòng. Phôxiông vẫn cương
quyết không nhận!
Sau khi Alếchxăng qua đời, người thay quyền nhà vua là
Ăngtipate vì nể Phôxiông đã giao cho một người bạn của ông là
Mêninluýt cai trị một miền ở Aten.
Để trả ơn Phôxiông, người này đem biếu Phôxiông một số tiền
lớn. Ông đã nói:
- Mêninluýt chẳng hơn gì Alếchxăng, vậy tôi không có lí gì
nhận tiền của Mêninluýt khi đã không nhận của Alếchxăng.
Mêninluýt đáp:
- Ông chẳng nhận cho ông thì nhận cho con ông vậy.
Phôxiông trả lời:
- Nếu con tôi giống tôi thì nó thừa hưởng gia tài của bố
nó, còn nếu nó không giống tôi thì số tiền này cũng chẳng
thấm gì.
Mêninluýt đành đem tiền về.
3. ĐỨC ĐỘ CỦA MỘT VỊ ANH HÙNG
Một trong hai vị anh hùng mà Phuytáccơ coi là có đạo đức trong
sáng nhất là Pôluýt Temililuýt (*).
Khi còn là thanh niên, Pôluýt đã vượt hẳn những người cùng tuổi
bằng những đức tính công minh, thẳng thắn, tự tin, khi đã nhận công
việc gì làm, thì tận tâm đạt đến mục đích cuối cùng.
Khi làm tướng cầm quân, ông yêu cầu quân lính phải giữ kỉ luật
thật nghiêm và phải chịu khó rèn luyện. Bản thân ông luôn luôn là
một gương sáng của họ.
Hồi đó, Tây Ban Nha thuộc quyền cai trị của La Mã. Vì có những
cuộc nổi loạn, Pôluýt được cử sang bình định. Sau khi đã ổn định
được tình hình của hai trăm năm mươi thành phố, ông trở về La Mã,
không đem về một đồng xu nhỏ.
Ông cũng được cử sang bình định xứ Liguyri ở Tấy Bắc nước Y.
Ông đem tám nghìn quân sang đánh nhau với một đạo quân gồm
bốn mươi nghìn người. Nhưng nhờ tài thao lược của ông. Ông đã
đánh tan đạo quân đó, hiểu được nhân dân Liguyri và chinh phục
được lòng tin của họ.
Vào thế kỉ thứ II trước Công nguyên, xứ Maxêđoan hùng cường
trước kia trong thời Alếchxăng Đại Đế, đã có một tên vua gian tham
và keo kiệt là Pécxê.
Pécxê đánh cướp một bộ phận thuỷ quân La Mã rồi câu kết với
người Gôloa và một số dân tộc khác định tiến quân vào nước Ý.
Lúc đó Pôluýt đã gần sáu mươi tuổi. Dân chúng yêu cầu ông giữ
quyền chấp chính. Ông từ chối vì cho rằng mình đã già. Nhưng dân
chúng đến tận nhà nài ông ra cầm quyền để chống lại Pécxê. Ông
đành phải nhận.
Ông đem quân sang xứ Maxêđoan.
Tên vua hèn hạ Pécxê lại có một đạo quân rất lớn gồm bốn
nghìn kị binh và gần bốn mươi nghìn lục quân. Cuộc chiến đấu cũng
gian khổ, nhưng nhờ tài thao lược của Pôluýt, ông đã thắng hoàn
toàn và làm chủ được thành Maxêđoan.
Pécxê hèn hạ, sợ chết, xin được vào yết kiến Pôluýt. Pécxê quỳ
xuống đất và hôn đầu gối Pôluýt. Ông đã nói với Pécxê rằng:
– Anh đã làm giảm giá trị thắng lợi của người La Mã, vì đã chiến
thắng một kẻ địch hèn hạ, đáng khinh.
Nói rồi, ông cho Pécxê đứng dậy và giao người đưa Pécxê đến
sống ở một nơi yên ổn với gia đình.
Ông cho gọi đến dưới trướng của ông những sĩ quan trẻ, trong
đó có con trai và con rể của ông. Họ vào, thấy ông ngồi yên lặng, vẻ
mặt trầm tư. Một lúc lâu sau, ông nói với họ rằng chỉ trong một thời
gian ngắn, quân đội La Mã đã đánh bại được đạo quân hùng hậu của
Pécxê và làm chủ cả cơ nghiệp huy hoàng xưa kia của Alếchxăng đại
đế, thí có nên kiêu căng không? Cần phải rút kinh nghiệm mà nghĩ
đến những gì còn chờ đón mình ở tương lai, không nên quá vội tự
hào.
Đó là một bài học khiêm tốn ông đã dạy cho con cái ông và
những bạn trẻ của họ.
Sau chiến thắng, ông đi thăm các vùng ở Hi lạp. Đi đến đâu ông
cũng phủ dụ dân chúng, lấy của kho phát cho dân nghèo và yêu cầu
các quan chức phải giữ gìn trật tự và an ninh.
Người dân Hi Lạp đều ca tụng tinh thần bao dung rộng lượng,
nhất là tính liêm khiết của ông. Ông chỉ cho phép mấy người con của
ông trong quân đội lấy một số sách trong thư viện của nhà vua, và
không đụng đến những châu báu trong các kho tàng đầy ắp của
Maxêđoan.
Ông trả lại cho người Hi lạp đất đai của họ, tuyên bố là các thành
phố của họ được hoàn toàn tự do và cai trị theo pháp luật của họ.
Khi trở về La Mã, ông được đồng bào đón tiếp trọng thể và được
giao chức Ngự sử. Ông luôn luôn làm tròn nhiệm vụ với tinh thần
trách nhiệm rất cao.
Song vì tuổi cao, lại mang bệnh, ông đã từ chức và theo lời
khuyên của các thầy thuốc, ông về sống ở Êlê một thành phố ở bờ
biển nước Ý. Nhân dân rất tôn kính ông, mỗi lần có hội hè đều mời
ông tham dự.
Năm 160 trước Công nguyên, ông đã từ trần. Nhân dân La Mã và
Maxêđoan thương tiếc ông vô cùng. Ông mất đi, nhưng tiếng thơm
của vị anh hùng có đức độ cao siêu còn sáng ngời mãi mãi trong lịch
sử.
4. VUA CŨNG CHỈ LÀ NGƯỜI
Vào thế kỉ thứ IV trước Công nguyên, vương quốc Maxêđoan (ở
phía bắc Hi Lạp hiện nay) có một vị vua hùng mạnh, đã đánh đông
dẹp bắc, uy danh lừng lẫy. Đó là quốc vương Philíp.
Mặc dầu ngai vàng vững chắc, thần dân quy phục, nhưng ông
vua này vẫn luôn luôn nghĩ rằng ở cương vị chúa tể của mình, mình
dễ tự phụ mà mắc những sai lầm đáng tiếc, nên ông đã ra lệnh cho
một người hầu cận là sáng sáng, khi ông thức dậy thì đến trước long
sang dõng dạc nhắc một câu :
– Hỡi đức vua Phi líp, nhà vua cũng chỉ là người.
Sự cảnh giác đối với bản thân như thế thực đẹp biết bao !.
5. PHẢI TỰ BIẾT MÌNH
Trong nước Hi Lạp cổ, có một họa sĩ trứ danh tên là Apen. Ông
yêu nghệ thuật, mê hội họa, có tinh thần khiêm tốn, sẵn sàng tiếp
thu những lời phê bình đối với những tác phẩm của ông.
Muốn được biết những nhận xét của quần chúng đối với những
bức họa của mình, ông thường đem bày ở ngoài phố, rồi núp ở phía
sau, để nghe những lời bình phẩm của những người qua đường.
Một lần, ông bày một bức tranh vẽ một kị sĩ cưỡi ngựa. Bỗng có
một anh thợ giày đi qua, dừng lại xem tranh. Anh ta thấy chiếc dép
của kị sĩ vẽ không đúng, liền tỏ ý chê. Tối hôm đó, họa sĩ đã sửa
ngay rồi lại bày tranh ra.
Ngày hôm sau, anh thợ giày lại đi qua, thấy học sĩ đã sửa, lấy
làm tự hào. Anh tưởng minh cũng có tài phê bình. Anh liền chê lung
tung, từ kị sĩ đến con ngựa.
Họa sĩ nghe anh ba hoa, bực mình quá, phải đứng ra nói :
– Này anh thợ giày, xin đừng nói thêm nữa vì anh chẳng hiểu gì
cả !
6. KHÔNG AI DÁM NHẬN LÀ BẬC
HIỀN NHÂN
Một hôm, mấy anh thanh niên ở thành Milô trên bờ biển Êgiê
đương đi chơi thì thấy một ông lão đương kéo vó. Họ bèn nghĩ ra
một trò chơi là trả tiền trước cho một ông lão và hẹn là vó kéo lên lần
đầu được bao nhiêu họ lấy hết. Ông lão bằng lòng và thả vó xuống
nước. Một lúc sau, kéo vó lên thì không phải là cá mà là một cái đồ
trang sức có ba chân bằng vàng. Bọn thanh niên đòi lấy, ông lão
không nghe, cho rằng họ chỉ mua cá mà thôi. Hai bên cãi nhau. Dân
địa phương kéo đến và bảo họ phải đi hỏi bà đồng thờ thần Apolông
ở Đenphơ. Bà đồng bảo họ đem biếu cho người nào là bậc hiền triết
giỏi nhất.
Lúc bấy giờ ở Hi Lạp có bảy nhà thông thái nổi tiếng về đạo đức
cũng như về kiến thức. Trước hết, họ đem biếu nhà triết học kiêm
toán học Talét. Nhưng triết gia tự cho là không xứng đáng là bậc
hiền nhân, nên giới thiệu người thứ hai, người này giới thiệu người
thứ ba, lần lượt đến người thứ bảy. Cả bảy nhà triết học đều không
dám nhận là bậc hiền nhân giỏi nhất. Cuối cùng, mọi người khuyên
đem đến thờ ở đền Apolông và nói rằng chỉ có thần thánh mới xứng
đáng là bậc hiền cao cả nhất !.
7. QUYẾT CHÍ
Năm 416 trước Công nguyên, vua nước Ngô là Hạp Lư đem quân
sang đánh nước Việt, nhưng quân Ngô bị thua, Hạp Lư bị trúng tên.
Khi sắp chết, Hạp Lư dặn lại con là Phù Sai phải trả thù cho cha.
Phù Sai quyết chí làm theo lời cha, nên cho người đứng ở giữa sân,
để mỗi khi Phù Sai đi qua thì người ấy nói to:
- Hỡi Phù Sai, nước Việt giết cha anh mà anh quên ư ?
Phù Sai liền trả lời:
- Vâng, không dám quên đâu !
Ba năm sau, quả Phù Sai đánh được nước Việt.
Vua nước Việt là Câu Tiễn, nghe lời khuyên của Phạm Lãi, xin nhận
làm bề tôi của vua Ngô. Nhưng trong lòng vẫn quyết chí phục thù.
Hằng ngày Câu Tiễn chất củi gai làm giường nằm và treo ở trước mặt
một cái mật đắng, khi ăn nếm mật rồi mới ăn. Một mặt bản thân
cùng vợ con chịu khó lao động, mặt khác tôn trọng và biệt đãi những
người có tài, cứu giúp những người nghèo.
Trong hai mươi năm, Câu Tiễn không lúc nào quên chuyện rửa thù.
Khi đã thấy lòng dân theo mình, và tình thế nước Ngô bê bối, Câu
Tiễn đem quân tiến đánh nước Ngô. Quân Ngô thua, Câu Tiễn lập lại
cơ đồ.
Như thế là vì quyết chí Phù Sai trả thù được cho cha, nhưng cũng vì
quyết chí mà Câu Tiễn lấy lại được đất nước.
8. CÓ CHÍ TRỞ THÀNH HÙNG BIỆN
Trong nước Hi Lạp cổ đại, quần chúng thường tụ họp ở quảng
trường để nghe các nhà chính trị trình bày ý kiến của họ, rồi có
quyền biểu quyết tán thành hay không ý kiến của diễn giả.
Nhà chính trị Đêmôxten muốn hô hào quần chúng đấu tranh cho
nền dân chủ, nhưng ông lại có những khuyết tật như nói ngọng, nói
lắp, nói nhỏ. Ông quyết tâm rèn luyện giọng nói của mình để thuyết
phục được quần chúng.
Muốn thế, ông đã tự nhốt mình vào trong một hầm kín, tự gọt
rửa đầu để khỏi ra ngoài, rồi cố đọc thật to những bài thơ đã thuộc,
luyện giọng, rèn lối phát âm, ra sức tránh nói lắp và tập những cử chỉ
thích hợp với lời nói.
Sau ba tháng đã có tiến bộ, ông ngậm trong miệng những viên
sỏi, rồi vừa chạy trên sườn đồi hoặc bãi biển, ông vừa hét to những
lời dõng dạc, để át tiếng gió gào và tiếng sóng gầm.
Nhờ có ý chí kiên cường, ông đã trở thành nhà chính trị hùng
biện nhất của Hi Lạp ở thế kỉ thứ IV trước Công nguyên.
9. MUA ĐƯỢC NGHĨA
Mạnh Thường Quân là tướng của nước Tề thời Chiến quốc. Mạnh
Thường Quân nhà rất giàu, lại có tiếng là người nghĩa hiệp.
Nhà ông luôn luôn có nhiều khách, gồm những người nghĩa sĩ.
Phùng Huyên người nước Tề, làm thực khách ở cửa Mạnh
Thường Quân.
Một hôm, Mạnh Thường Quân đưa sổ bộ ra hỏi các thực khách
xem có người nào biết về việc kế toán, nhờ qua đất Tiết (thuộc Sơn
Đông ngày nay), là phong ấp của Thường Quân, để thu các mối nợ,
thì xin ký tên vào sổ. Phùng Huyên nhận sổ ký tên, rồi thưa : “Huyên
nguyện đi.”
Trước khi đi, họ Phùng hỏi: “Thu nợ xong rồi có cần mua vật gì?”
Mạnh bảo: “Xem trong nhà còn thiếu vật gì thì cứ mua về.”
Phùng Huyên đến đất Tiết, cho người thuộc lại mời tất cả những
người thiếu nợ đến đông đủ, rồi truyền rằng Mạnh Tướng quốc ra
lịnh xóa bỏ tất cả số nợ. Và, để cho mọi người tin tưởng, Phùng đem
đốt hết những văn khế nợ. Dân đất Tiết vui mừng, tung hô vạn tuế.
Khi họ Phùng trở về, Thường Quân lấy làm lạ cho là đòi nợ cách gì
mà mau chóng thế, mới hỏi:
- Thu nợ xong phải không?
- Thu xong cả.
- Có mua gì về không?
- Khi đi, Tướng công có bảo: nên mua những vật gì trong nhà còn
thiếu. Tôi trộm nghĩ trong bụng Tướng công chất chứa những đồ trân
bảo, ngoài chuồng nuôi đầy chó ngựa, nhà sau la liệt những mỹ
nhân, vậy vật mà Tướng công còn thiếu, chưa có là điều Nghĩa, nên
tôi trộm lịnh mua điều Nghĩa đem về.
Thường Quân nghe nói không bằng lòng, nhưng bỏ qua, chẳng nói
lại gì.
Về sau, vua Tề không dùng Mạnh làm Tướng quốc nữa, phải về đất
Tiết ở. Bấy giờ bá tính đất Tiết, nghe tin, nhớ đến ơn xưa, trai gái già
trẻ rủ nhau đến đón rước đầy đường, hoan hô nhiệt liệt. Khi ấy,
Mạnh quay lại Phùng Huyên mà bảo rằng:
- Tiên sinh vì tôi mua điều nghĩa, ngày nay tôi mới trông thấy!.
10. TÌNH VÀ NGHĨA
Tướng nước Tề đưa quân sang đánh nước Lỗ.
Khi đến biên giới, quân lính thấy một người phụ nữ một tay ẵm một
đứa bé, một tay dắt một đứa bé khác. Nhưng quân tiến nhanh quá,
người phụ nữ kia đặt đứa bé trên tay xuống và ẵm đứa bé đương dắt
để chạy nhanh vào rừng. Đứa bé bị bỏ lại vừa chạy theo vừa khóc
ầm ĩ.
Viên tướng nước Tề cho bắt người phụ nữ và hỏi :
- Đứa bé chị đương ẵm chạy là con ai, còn đứa bé chị bỏ lại là con ai
?
- Đứa bé tôi ẵm chạy là con anh cả tôi, còn cháu bé tôi đành bỏ lại là
con tôi. Khi quân lính kéo đến, tôi không thể nào đưa cả hai đứa đi,
đành phải để con tôi lại.
- Tình mẹ con là ruột thịt. Sao nàng nỡ bỏ con lại ?
- Con tôi là tình riêng, con anh tôi là nghĩa công, mặc dầu tôi vô cùng
đau xót.
Viên tướng nước Tề liền tâu với vua Tề :
- Ta mới đến biên cương mà đã thấy một mụ đàn bà nước Lỗ coi
trọng nghĩa công hơn tình riêng. Như thế thì nước này không phải dễ
mà xâm chiếm. Xin bệ hạ cho quân ta kéo về.
Vua Tề cho là phải và cùng toàn quân trở lại.
Vua nước Lỗ biết chuyện ấy, thưởng cho người phụ nữ và phong cho
hai chữ “Nghĩa cô”.
11. VÌ NGHĨA QUÊN THÙ
Đời Đường, có hai ông quan đều có tài là Quách Tử Nghi và Lí
Quang Bật. Hai người cùng làm phó tướng cho An Tử Thuận. Nhưng
tính khí hai người khác hẳn nhau. Họ lại còn ghét nhau nữa, đến mức
gặp nhau không thèm chào, cùng ngồi một xe hoặc cùng dự tiệc một
bàn mà không nói với nhau một câu nào. Thiên hạ cho rằng họ là tử
thù của nhau.
Đến khi Quách Tử Nghi được cử làm tướng thay cho An Tử Thuận, Lí
Quang Bật phải ở dưới quyền.
Thời đó một vị tướng quốc có quyền sinh, quyền sát đối với người
khác. Quang Bật rất lo cho gia quyến mình, liền quyết tâm đến nói
với Tử Nghi.
– Tôi với ngài vốn có cựu hiềm. Phần tôi dù chết cũng cam tội.
Nhưng xin ngài rộng lượng đừng sát hại vợ con tôi.
Quách Tử Nghi nghe nói thế, chạy đến nắm tay Lí Quang Bật và nói
rằng :
– Xin ông đừng nghĩ quẩn, tôi không oán thù gì ông. Hiện nay nước
nhà đương loạn lạc. Tôi mong ông vui lòng cộng tác với tôi để yên
lòng dân, vì nghĩa lớn…
Sau đó, Tử Nghi cử Quang Bật làm Tiết độ sứ, một chức vụ quan
trọng.
Quang Bật xúc động và hối hận, hết lòng giúp Tử Nghi đáng giặc và
trị nước.
12. TRỌNG NGHĨA HƠN TIỀN TÀI
Đời Tống có một ông tể tướng tên là Phạm Trọng Yêm nổi tiếng
là người trọng nghĩa hơn tiền tài.
Ông quyền cao chức trọng mà cuộc sống vẫn thanh đạm, suốt
đời chỉ chăm lo đến việc cứu giúp những người nghèo trong thiên hạ.
Chính ông đã thực hiện khẩu hiệu “Lo trước cái lo của thiên hạ, vui
sau cái vui của thiên hạ”.
Có một lần ông sai con là Thuần Nhân chở một thuyền có năm
trăm thúng thóc về quê giúp dân.
Trên đường về, Thuần Nhân vào thăm một người bạn cũ của cha
là Thạch Mãn Khanh đương trong cảnh cùng quẫn vì vừa gặp ba cái
tang một lúc, lại có hai người con gái lớn tuổi mà không có chồng,
chẳng biết nương tựa vào đâu. Thuần Nhân liền giúp cho cả năm
trăm thúng thóc.
Khi trở về kể chuyện cho cha. Phạm Trọng Yêm nói:
– Sao con không cho nốt cả cái thuyền?
Thuần Nhân đáp:
– Thưa cha, con cũng đã tặng cả chiếc thuyền rồi.
Phạm Trọng Yêm khen:
– Có như thế con mới xứng là con ta.
13. CƠM PHIẾU MẪU
Hàn Tín lúc hàn vi vì nghèo phải ăn bám vào một số người, nên
không ai ưa.
Tín thường đến ăn nhờ ở nhà một người đình trưởng. Nhưng cứ ăn
không, người ta cũng ghét.
Một hôm Tín đến nhà đình trưởng, thấy vợ người này ngồi trên phản
ăn cơm, chị ta không cho Tín ăn. Tín buồn rầu ra đi.
Hằng ngày Tín ra cái hang ở dưới thành câu cá, nhưng chẳng được là
bao, nên bị đói.
May có một bà giặt vải trông thấy, thương tình, bà nhường cho một
phần cơm của bà trong nhiều ngày.
Đến khi bà giặt hết vải, Tín cảm ơn bà và nói :
– Sau này, cháu sẽ đền ơn bà xứng đáng.
Bà ta trả lời :
– Tôi thấy cậu đói, nên mới cho ăn, chứ mong gì cậu báo đáp đâu.
Ít lâu sau, Hàn Tín theo Hạng Lương, rồi Hạng Vũ, nhưng không
được trọng dụng. Tín bèn sang đất Hán.
May gặp được thừa tướng Tiêu Hà. Thừa tướng giới thiệu với vua
Hán.
Hàn Tín được Hán Vương tin yêu và phong cho làm đại tướng.
Lúc vinh hiển, Hàn Tín nhớ đến ơn bà giặt vải (phiếu mẫu : bà mẹ
giặt vải), quay về, biếu bà nghìn lạng vàng.
Do đó có câu : “Bát cơm phiếu mẫu, trả ơn nghìn vàng”.
14. NGƯỜI CHÍNH TRỰC
Arixtít là một tướng có tài của thành quốc Aten. Sau khi chiến
thắng vẻ vang quân xâm lược Ba Tư ở Maratông, ông có những ý
kiến bất đồng với Têmixtôclơ nên bị đi đày.
Nhưng khi quân Ba Tư lại đem đại đội binh mã đến xâm lược Hi Lạp
lần nữa, ông cấp tốc trở về, nói với Têmixtôclơ rằng :
– Ông vẫn có thể không đồng ý với tôi, nhưng trước mắt phải cứu Tổ
quốc đã.
Têmixtôclơ giàn hoà với Arixtít và cùng nhau bàn việc đánh giặc.
Trong trận đánh ở Platê, có sự tranh giành những phần đất chiếm
được giữa người Aten và người Xpáctơ. Ông nói :
– Chúng ta đến đây để bảo vệ Tổ quốc Hi Lạp, chứ không phải để
tranh giành nhau.
Ông yêu cầu quân đội Aten nhường nhịn quân đội Xpáctơ. Hai bên lại
cùng nhau chiến đấu chống quân xâm lươc Ba Tư và đã lập được
chiến công hiển hách ở Platê và ở Xalamin.
Song sau đó, hai bên lại có xích mích. Arixtít lại ra sức giàn hoà để
Aten và Xpáctơ phối hợp với nhau bảo vệ Tổ quốc chung là Hi Lạp.
Ông đi đến đâu, người ta cũng đều nghe theo lẽ phải. Cả hai bên đều
giao cho ông soạn những điều kiện của một hiệp định đồng minh.
Ông đã nêu lên nhiệm vụ chung là bảo vệ đất nước Hi Lạp nhưng
mỗi thành quốc vẫn giữ quyền độc lập về mặt nội trị. Mọi người đều
đồng ý.
Ông đã đi đến các miền của cả hai thành quốc, hô hào nhân dân
đóng góp để xây dựng một quỹ chung của toàn Hi Lạp.
Mọi người đều hưởng ứng và cả hai thành quốc đều giao cho ông
quản lí quỹ chung ấy.
Ông tỏ ra hết sức trung thực đến mức cả người Aten và người Xpáctơ
đều đặt cho ông cái tên là “Người chính trực”.
Đức độ của ông còn sáng ngời trong lịch sử Hi Lạp.
15. CÂU TRẢ LỜI CƯƠNG TRỰC
Đơnít cha là tên bạo chúa ở đảo Xixin.
Có lần, Đơnít ngỏ ý muốn kết hôn với con gái của Arixtít người bạn
của triết gia Platông.
Arixtít nói :
– Thà chết chứ không thể gả con gái cho một tên bạo chúa.
Để trả thù, Đơnít cha ra lệnh giết hết những con cái khác của Arixtít
và hỏi ông có còn giữ ý kiến là không gả con gái cho mình không ?
Arixtít trả lời :
– Ta thất vọng về việc mi đã làm, nhưng ta không hối hận về lời ta
đã nói.
16. NGƯỜI CƯƠNG TRỰC KHÔNG SỢ
CHẾT
Trong thời Xuân Thu, ở nước Tề, quyền bính ở trong tay một tên
quyền thần là Thôi Trữ. Thôi Trữ muốn hạ sát vua Trang Công để lên
ngôi báu. Thôi Trữ liền họp các quan trong triều lại để ăn thề. Mọi
người đều sợ hãi vâng theo. Riêng có Án Anh, một sĩ phu cương trực,
nhất quyết không tán thành.
Thôi Trữ lấy lời dụ dỗ và đe dọa Án Anh : "Ngươi theo ta, ta sẽ chia
cho nửa đất nước, bằng không ta sẽ giết ngươi".
Trước mặt bọn quân lính lăm lăm gươm giáo, Án Anh vẫn bình tĩnh
nói :
- Lấy lợi mà dụ người ta làm điều phản bội là bất nhân. Lấy giáo mác
mà dọa cho người ta mất chí khí là bất dũng. Giết thì giết, chứ ta
không chịu khuất kẻ bất nhân, bất dũng.
Nghe lời nói khảng khái và cương trực như thế, Thôi Trữ không dám
sát hại Án Anh. Án Anh ung dung đứng dậy và lững thững bước ra.
17. HÃY ĐƯA TÔI TRỞ VỀ HANG ĐÁ
Ở thế kỉ thứ V trước Công nguyên, trên đảo Xixin có một tiểu
quốc tên là Xiraquydơ – một xứ đẹp và trù phú, nhưng nhân dân đau
khổ dưới ánh thống trị của hai cha con tên bạo chúa Đơnít.
Độc ác nhất là tên Đơnít cha. Đơnít cướp ngôi từ năm 25 tuổi và trị vì
trong 38 năm. Đó là một thời kì gieo nhiều tai vạ cho nhân dân xứ
ấy: bóc lột mọi người đến xương tủy và vơ vét mọi của cải cho đầy
túi tham, tàn sát ...
100
MẨU CHUYỆN CỔ ĐÔNG TÂY
(In lần thứ hai)
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC
1996
Gõ và tạo ebook: tducchau (TVE)
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
1. VÌ SỰ NGHIỆP, PHẢI SỐNG
2. MỘT TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC SÁNG NGỜI
3. ĐỨC ĐỘ CỦA MỘT VỊ ANH HÙNG
4. VUA CŨNG CHỈ LÀ NGƯỜI
5. PHẢI TỰ BIẾT MÌNH
6. KHÔNG AI DÁM NHẬN LÀ BẬC HIỀN NHÂN
7. QUYẾT CHÍ
8. CÓ CHÍ TRỞ THÀNH HÙNG BIỆN
9. MUA ĐƯỢC NGHĨA
10. TÌNH VÀ NGHĨA
11. VÌ NGHĨA QUÊN THÙ
12. TRỌNG NGHĨA HƠN TIỀN TÀI
13. CƠM PHIẾU MẪU
14. NGƯỜI CHÍNH TRỰC
15. CÂU TRẢ LỜI CƯƠNG TRỰC
16. NGƯỜI CƯƠNG TRỰC KHÔNG SỢ CHẾT
17. HÃY ĐƯA TÔI TRỞ VỀ HANG ĐÁ
18. KHÔNG THIẾT VÀNG CHẲNG SỢ VOI
19. LỜI NÓI THẲNG CỦA ANNIBAN
20. NGUỒN GỐC TẾT MỒNG BA THÁNG BA
21. THẾ NÀO LÀ TRI KỶ
22. LƯỢNG CẢ BAO DUNG
23. CỨU NGƯỜI ĐÃ KẾT ÁN CHẶT CHÂN MÌNH
24. CỨU NGƯỜI ĐÂU PHẢI VÌ LỢI
25. LIỀU CHẾT THEO THẦY HỌC ĐẠO
26. DŨNG CẢM HƠN NGƯỜI
27. MỘT EM BÉ GAN DẠ
28. PHẢI CHĂNG LÀ TÀ THUẬT
29. ALẾCHXĂNG ĐẠI ĐẾ SỐNG GIẢN DỊ
30. TIN Ở BẠN
31. CÙNG CHỊU KHÁT VỚI QUÂN LÍNH
32. LÀM GƯƠNG CHO TƯỚNG SĨ
33. NHƯỜNG GHẾ CHO LÍNH
34. HẬU ĐÃI GIA QUYẾN KẺ ĐỊCH
35. TRỌNG SÁCH
36. CŨNG ƯỚC LÀ ĐIÔGIEN
37. KHÔNG GIỮ ĐẠO ĐỨC ĐƯỢC TRỌN ĐỜI
38. MỘT LỜI DÍ DỎM TAI HẠI
39. NÓI NGỌT DỄ NGHE
40. THẾ NÀO LÀ HẠNH PHÚC
41. CÓ GIỎI GIANG GÌ ĐÂU
42. ĐUA ĐÒI
43. ĐÁNG KIẾP TÊN PHẢN BỘI
44. BÀ MẸ BIẾT DẠY CON
45. TÌM THẦY DẠY CON
46. TỰ SÁT ĐỂ KHUYÊN CON
47. CHÚNG KHẨU ĐỒNG TỪ
48. CHỚ NÓI DỐI TRẺ
49. THẾ NÀO LÀ HIẾU
50. HIẾU VỚI MẸ
51. CỨU MẸ BẰNG SỮA CỦA MÌNH
52. VÌ HIẾU MÀ HẾT CÂM
53. MẸ ĐÁNH KHÔNG ĐAU MÀ KHÓC
54. NHÌN VẾT THƯƠNG NHỚ MẸ
55. CẢM HÓA ĐƯỢC NGƯỜI MẸ KẾ ÁC NGHIỆT
56. CON KHẢNG KHÁI, MẸ THẢO HIỀN
57. THẾ MỚI LÀ ANH
58. CHUNG TÌNH
59. THỦY CHUNG
60. XỨNG VỚI NGƯỜI CHỒNG ANH HÙNG
61. CẢI TẠO ĐẤT NƯỚC BẰNG LUẬT
62. MỘT NHÀ LÀM LUẬT CÔNG MINH VÀ DÂN
CHỦ
63. MỘT TỤC LỆ DÂN CHỦ
64. NẾU KHÔNG AI BẰNG VUA
65. NHƯỜNG NGÔI
66. VIỆC CAI TRỊ TRONG NƯỚC NÊN THẾ NÀO
67. VÌ TỔ QUỐC TRÊN HẾT
68. QUÊN ĐAU KHỔ ĐỂ CỨU DÂN
69. CỨU NƯỚC TRÊN HẾT
70. SỢ CHÍNH QUYỀN HÀ KHẮC HƠN SỢ HỔ
71. CHỈ CÓ THỂ DỰA VÀO SỨC MÌNH
72. BÉ HẠT TIÊU
73. CON CHẲNG GIỐNG CHA
74. VỎ QUÝT DÀY CÓ MÓNG TAY NHỌN
75. AI NGU
76. CẦU CHO BẠO CHÚA SỐNG LÂU
77. ĂN THUỐC BẤT TỬ MÀ LẠI CHẾT Ư
78. ĐỐI XỬ VỚI BINH LÍNH
79. KHÔNG THẮNG TRỘM
80. ĐỐI XỬ VỚI ĐỊCH
81. ĐÁNH THÌ ĐÁNH NHƯNG HÃY NGHE TÔI ĐÃ
82. MỘT ÔNG QUAN THANH LIÊM
83. HAI THỨ CỦA BÁU
84. KHÔNG NHẬN CÁ TỨC LÀ CÓ CÁ ĂN LÂU DÀI
85. NGƯỜI TÙ ĐƯỢC KÍNH TRỌNG
86. CHỐNG XA XỈ
87. TRỪ BỌN MÊ TÍN HẠI DÂN
88. KHÔNG TIN TƯỚNG SỐ NỮA
89. TÔ TẦN DẠY KHÉO
90. CAN KHÉO
91. LỜI KHEN CÓ SỨC THUYẾT PHỤC
92. SỞ VƯƠNG MẤT CUNG
93. NGƯỜI CHĂN CỪU QUÂN TỬ
94. VÌ NƯỚC NHÀ CHỊU KHUẤT
95. NGƯỜI LÁI TRÂU YÊU NƯỚC
96. DÙNG ĐÀN KHUYÊN VUA
97. NUỐT THAN ĐỂ TRẢ THÙ CHO CHỦ
98. THA THỨ CHO TÊN PHẢN BỘI
99. MẤT LÒNG DÂN THÌ MẤT NƯỚC
100. BIA KỶ NIỆM CATÔNG
LỜI NÓI ĐẦU
Các cụ ta nói: “Ôn cố tri tân”, có nghĩa là ôn cái cũ biết được cái
mới. Tôi rất tâm đắc câu đó, vì qua những gương sáng của lịch sử, ta
soi vào sẽ biết được lẽ phải chăng, mà cố tự rèn luyện mình và giúp
cho người khác tu dưỡng. Chính vì thế mà năm 1943, tôi đã soạn bộ
sách Những trang sử vẻ vang để nêu lên những gương anh hùng của
ông cha chúng ta.
Ngày nay, những đảo lộn trong thế giới tác động sâu sắc đến các
tầng lớp nhân dân ta, gây nên những tác hại lớn về mặt luân thường
đạo lí, đến nỗi hằng ngày trên báo chí,… ta đọc thấy những tin đáng
đau lòng, như con đánh chết mẹ, vợ đầu độc chồng, học trò chửi cô
giáo, bè bạn chém giết nhau, nạn tham nhũng tràn lan, công dân
phản Tổ quốc…
Là một nhà giáo, tôi vô cùng lo lắng trước những ảnh hưởng xấu
xa đối với thế hệ mới lớn lên.
Đọc lại những trang sử cũ của nhân loại từ Đông sang Tây trong
thời kì cổ đại, tôi thấy yên tâm và tin tưởng vào con người với những
tấm gương chói lọi.
Tôi thầm nghĩ: Những gương sáng đó sẽ giúp cho mỗi người khi
soi vào có thể hoặc tu tỉnh, hoặc cố vươn lên những đỉnh cao của
đạo làm người.
Vì thế tôi soạn tập 100 mẩu chuyện cổ Đông Tây này, lựa chọn
một trăm truyện kể về những mẫu người tiêu biểu trong cổ sử của Hi
Lạp, La Mã và Trung Quốc, những cái nôi của văn minh nhân loại.
Trong tập này, những người và tên đất Hi Lạp, La Mã, tôi xin
dịch theo phiên âm tiếng Pháp, còn tên người và tên đất Trung Quốc
thì tất nhiên phiên âm là những từ Hán – Việt.
Để kết thúc Lời nói đầu ngắn ngủi và chân thành này tôi mong
mỏi rằng các bạn độc giả thân mến sẽ có những ý nghĩ tương tự như
những lời phát biểu sau đây của nhà sử học Hi Lạp Phulacơ khi viết
về những tinh hoa của lịch sử:
“Tôi khắc sâu vào tâm hồn tôi kỉ niệm và hình ảnh của những
người đạo đức nhất, lừng lẫy nhất: nếu trong sự giao thiệp với những
người tôi buộc phải cùng sống mà khiến tôi có những định kiến xấu
xa, đồi bại, không xứng đáng với con người có danh dự, thì tôi cố
gắng gạt đi, trừ bỏ đi; tôi sẽ làm cho tưởng mình êm dịu và trong
sáng bằng cách nghĩ đến những mẫu mực trọn vẹn về đạo lí và đức
độ”.
Cuối cùng tôi xin tỏ lời chân thành cảm tạ đồng chí Từ Kính Đàm
đã cho tôi mượn nhiều tư liệu quý.
Tháng 8 năm 1991
NGUYỄN LÂN
1. VÌ SỰ NGHIỆP, PHẢI SỐNG
Họ Tư Mã đời đời làm sử quan. Đến đời nhà Hán, Tư Mã Đàm
làm Thái sư lệnh. Trên đường đi theo Hán Vũ Đế, Tư Mã Đàm mắc
bệnh nặng. Trước khi từ trần, ông cầm tay con là Tư Mã Thiên mà
dặn rằng:
– Tổ tiên ta đời đời làm sử quan. Sau khi cha chết, thế nào con
cũng phải nối nghiệp làm thái sử.
Tư Mã Thiên là một người thông minh tuyệt vời, đã đọc thiên
kinh vạn quyển và đã đi chu du khắp nước Trung Hoa, để hiểu biết
non sông và nắm bắt mọi sự việc.
Vâng lời cha, ông thay cha làm Thái sử lệnh và chuẩn bị viết bộ
Sử kí, thực hiện hoài bão lớn lao của người cha.
Năm 99 trước Công nguyên, Hán Vũ Đế sai quân vào đánh Hung
nô. Một người quen biết Tư Mã Thiên là Lí Lăng đem năm nghìn quân
vào biên giới Hung nô, bị tám vạn quân địch bao vây. Suốt mười
ngày liền Lí Lăng chỉ huy cuộc chiến đâu, giết hơn vạn quân địch,
nhưng cuối cùng, quân sĩ chết hầu hết lại bị chặn đường về, Lí Lăng
phải hàng giặc. Vũ Đế nổi giận, muốn giết cả nhà Lí Lăng. Tư Mã
Thiên biết tài đức của Lí Lăng, mạnh dạn tâu với nhà vua, bênh vực
Lí Lăng.
Vũ Đế càng giận, lại nghe lời bọn quần thần, sai bắt giam Tư Mã
Thiên và giao cho pháp quan luận tội. Cuối cùng ông bị khép vào tội
coi thường nhà vua và bị cung hình (tức là bị thiến). Hồi đó có phép
lấy tiền chuộc tội: chỉ cần năm mươi vạn đồng tiền là chuộc được tội
chết. Nhưng Tư Mã Thiên nghèo, thanh bạch, không có tiền chuộc,
đành phải chịu hình phạt nhục nhã ấy.
Uất ức quá, đã có lần ông định tự vẫn. Nhưng ông lại nhớ đến lời
trối trăng của cha ông và nghĩ đến quyển Sử kí ông đương viết. Nên
ông đành sống để không trái lời cha dặn và nhất là để hoàn thành sự
nghiệp cao cả: ghi lại lịch sử của dân tộc kéo dài trên ba nghìn năm
từ thời Hoàng Đế cho đến đời Hán Vũ Đế. Quyển Sử kí của ông là
một bộ sử vĩ đại trong những bộ sử của nhân loại.
2. MỘT TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC
SÁNG NGỜI
Vào thế kỉ thứ IV trước Công nguyên, có một người mà gương
đạo đức còn sáng ngời mãi mãi trong lịch sử nhân loại. Đó là
Phôxiông.
Hồi nhỏ, ông từng được học các triết gia Phatông và Đênôcrát ở
học đường Acađêmi. Theo lời dạy của các thầy, ông đã tự rèn luyện
những đức tính đạo đức mà ông giữ đến trọn đời.
Suốt đời, ngay những lúc chỉ huy một đạo quân hùng cường hay
được cử đứng đầu Nhà nước, ông vẫn giữ được một cuộc sống đạm
bạc đến mức khốn khổ, một tác phong giản dị và một đức liêm khiết
tuyệt vời. Khi ông cầm quân ra trận, ông thường đi chân đất và nếu
thấy ông khoác áo măng tô thì binh lính kháo nhau rằng trời rét lắm
đấy.
Người ta không thấy ông cười hay khóc, lúc nào mặt cũng đăm
chiêu nghĩ ngợi và khi cần phát biểu thì nói rất ngắn gọn và rất sắc,
đến mức nhà hùng biện Đêmôxten phải khâm phục.
Một lần vua Alếchxăng gửi tặng ông một trăm đồng tiền vàng,
ông hỏi những người đem tiền đến là vì sao trong toàn dân thành
Aten, nhà vua lại chỉ tặng ông tiền.
– Vì nhà vua thấy chỉ có ông là người đức hạnh và trọng danh
dự.
– Vậy thì các ông về trình với đức vua là tôi sẽ giữ được như thế
cho đến trọn đời.
Thấy ông không nhận tiền, những người của Alếchxăng theo ông
về tận nhà.
Đến ngôi nhà lụp xụp, họ ngạc nhiên thấy vợ ông đang ngồi
nhào bột, còn ông thì ra giếng tự kéo nước rửa chân.
Mấy người đó thấy vậy, yêu cầu ông nhận tiền và nói rằng không
thể để một người bạn của nhà vua sống cực khổ như thế.
Ngay lúc đó có một ông lão nghèo đi qua, quần áo bẩn thỉu,
nhếch nhác. Phôxiông hỏi:
- Các ông thấy tôi khổ hơn ông cụ này ư?
- Đâu có thế?
- Vậy mà ông cụ vẫn sống thản nhiên. Cho nên tôi không
nhận số tiền này. Nó không có ich gì cho tôi. Vả lại nếu tôi
dùng nó thì tôi chẳng còn xứng đáng với nhà vua nữa.
Alếchxăng vô cùng bực tức trước sự từ chối của Phôxiông và viết
thư cho ông nói rằng ai không nhận gì của mình thì không đáng là
bạn của mình nữa.
Phôxiông trả lời là không thể nhận quà tặng của nhà vua và chỉ
xin nhà vua tha tội cho bốn người dân Aten đương bị cầm tù.
Alếchxăng đã chuẩn y ngay.
Alếchxăng lại cho người đến tặng cho Phôxiông một trong bốn
tỉnh ở châu Á mà Phôxiông có thể tự chọn.
Mặc dù biết Alếchxăng không bằng lòng. Phôxiông vẫn cương
quyết không nhận!
Sau khi Alếchxăng qua đời, người thay quyền nhà vua là
Ăngtipate vì nể Phôxiông đã giao cho một người bạn của ông là
Mêninluýt cai trị một miền ở Aten.
Để trả ơn Phôxiông, người này đem biếu Phôxiông một số tiền
lớn. Ông đã nói:
- Mêninluýt chẳng hơn gì Alếchxăng, vậy tôi không có lí gì
nhận tiền của Mêninluýt khi đã không nhận của Alếchxăng.
Mêninluýt đáp:
- Ông chẳng nhận cho ông thì nhận cho con ông vậy.
Phôxiông trả lời:
- Nếu con tôi giống tôi thì nó thừa hưởng gia tài của bố
nó, còn nếu nó không giống tôi thì số tiền này cũng chẳng
thấm gì.
Mêninluýt đành đem tiền về.
3. ĐỨC ĐỘ CỦA MỘT VỊ ANH HÙNG
Một trong hai vị anh hùng mà Phuytáccơ coi là có đạo đức trong
sáng nhất là Pôluýt Temililuýt (*).
Khi còn là thanh niên, Pôluýt đã vượt hẳn những người cùng tuổi
bằng những đức tính công minh, thẳng thắn, tự tin, khi đã nhận công
việc gì làm, thì tận tâm đạt đến mục đích cuối cùng.
Khi làm tướng cầm quân, ông yêu cầu quân lính phải giữ kỉ luật
thật nghiêm và phải chịu khó rèn luyện. Bản thân ông luôn luôn là
một gương sáng của họ.
Hồi đó, Tây Ban Nha thuộc quyền cai trị của La Mã. Vì có những
cuộc nổi loạn, Pôluýt được cử sang bình định. Sau khi đã ổn định
được tình hình của hai trăm năm mươi thành phố, ông trở về La Mã,
không đem về một đồng xu nhỏ.
Ông cũng được cử sang bình định xứ Liguyri ở Tấy Bắc nước Y.
Ông đem tám nghìn quân sang đánh nhau với một đạo quân gồm
bốn mươi nghìn người. Nhưng nhờ tài thao lược của ông. Ông đã
đánh tan đạo quân đó, hiểu được nhân dân Liguyri và chinh phục
được lòng tin của họ.
Vào thế kỉ thứ II trước Công nguyên, xứ Maxêđoan hùng cường
trước kia trong thời Alếchxăng Đại Đế, đã có một tên vua gian tham
và keo kiệt là Pécxê.
Pécxê đánh cướp một bộ phận thuỷ quân La Mã rồi câu kết với
người Gôloa và một số dân tộc khác định tiến quân vào nước Ý.
Lúc đó Pôluýt đã gần sáu mươi tuổi. Dân chúng yêu cầu ông giữ
quyền chấp chính. Ông từ chối vì cho rằng mình đã già. Nhưng dân
chúng đến tận nhà nài ông ra cầm quyền để chống lại Pécxê. Ông
đành phải nhận.
Ông đem quân sang xứ Maxêđoan.
Tên vua hèn hạ Pécxê lại có một đạo quân rất lớn gồm bốn
nghìn kị binh và gần bốn mươi nghìn lục quân. Cuộc chiến đấu cũng
gian khổ, nhưng nhờ tài thao lược của Pôluýt, ông đã thắng hoàn
toàn và làm chủ được thành Maxêđoan.
Pécxê hèn hạ, sợ chết, xin được vào yết kiến Pôluýt. Pécxê quỳ
xuống đất và hôn đầu gối Pôluýt. Ông đã nói với Pécxê rằng:
– Anh đã làm giảm giá trị thắng lợi của người La Mã, vì đã chiến
thắng một kẻ địch hèn hạ, đáng khinh.
Nói rồi, ông cho Pécxê đứng dậy và giao người đưa Pécxê đến
sống ở một nơi yên ổn với gia đình.
Ông cho gọi đến dưới trướng của ông những sĩ quan trẻ, trong
đó có con trai và con rể của ông. Họ vào, thấy ông ngồi yên lặng, vẻ
mặt trầm tư. Một lúc lâu sau, ông nói với họ rằng chỉ trong một thời
gian ngắn, quân đội La Mã đã đánh bại được đạo quân hùng hậu của
Pécxê và làm chủ cả cơ nghiệp huy hoàng xưa kia của Alếchxăng đại
đế, thí có nên kiêu căng không? Cần phải rút kinh nghiệm mà nghĩ
đến những gì còn chờ đón mình ở tương lai, không nên quá vội tự
hào.
Đó là một bài học khiêm tốn ông đã dạy cho con cái ông và
những bạn trẻ của họ.
Sau chiến thắng, ông đi thăm các vùng ở Hi lạp. Đi đến đâu ông
cũng phủ dụ dân chúng, lấy của kho phát cho dân nghèo và yêu cầu
các quan chức phải giữ gìn trật tự và an ninh.
Người dân Hi Lạp đều ca tụng tinh thần bao dung rộng lượng,
nhất là tính liêm khiết của ông. Ông chỉ cho phép mấy người con của
ông trong quân đội lấy một số sách trong thư viện của nhà vua, và
không đụng đến những châu báu trong các kho tàng đầy ắp của
Maxêđoan.
Ông trả lại cho người Hi lạp đất đai của họ, tuyên bố là các thành
phố của họ được hoàn toàn tự do và cai trị theo pháp luật của họ.
Khi trở về La Mã, ông được đồng bào đón tiếp trọng thể và được
giao chức Ngự sử. Ông luôn luôn làm tròn nhiệm vụ với tinh thần
trách nhiệm rất cao.
Song vì tuổi cao, lại mang bệnh, ông đã từ chức và theo lời
khuyên của các thầy thuốc, ông về sống ở Êlê một thành phố ở bờ
biển nước Ý. Nhân dân rất tôn kính ông, mỗi lần có hội hè đều mời
ông tham dự.
Năm 160 trước Công nguyên, ông đã từ trần. Nhân dân La Mã và
Maxêđoan thương tiếc ông vô cùng. Ông mất đi, nhưng tiếng thơm
của vị anh hùng có đức độ cao siêu còn sáng ngời mãi mãi trong lịch
sử.
4. VUA CŨNG CHỈ LÀ NGƯỜI
Vào thế kỉ thứ IV trước Công nguyên, vương quốc Maxêđoan (ở
phía bắc Hi Lạp hiện nay) có một vị vua hùng mạnh, đã đánh đông
dẹp bắc, uy danh lừng lẫy. Đó là quốc vương Philíp.
Mặc dầu ngai vàng vững chắc, thần dân quy phục, nhưng ông
vua này vẫn luôn luôn nghĩ rằng ở cương vị chúa tể của mình, mình
dễ tự phụ mà mắc những sai lầm đáng tiếc, nên ông đã ra lệnh cho
một người hầu cận là sáng sáng, khi ông thức dậy thì đến trước long
sang dõng dạc nhắc một câu :
– Hỡi đức vua Phi líp, nhà vua cũng chỉ là người.
Sự cảnh giác đối với bản thân như thế thực đẹp biết bao !.
5. PHẢI TỰ BIẾT MÌNH
Trong nước Hi Lạp cổ, có một họa sĩ trứ danh tên là Apen. Ông
yêu nghệ thuật, mê hội họa, có tinh thần khiêm tốn, sẵn sàng tiếp
thu những lời phê bình đối với những tác phẩm của ông.
Muốn được biết những nhận xét của quần chúng đối với những
bức họa của mình, ông thường đem bày ở ngoài phố, rồi núp ở phía
sau, để nghe những lời bình phẩm của những người qua đường.
Một lần, ông bày một bức tranh vẽ một kị sĩ cưỡi ngựa. Bỗng có
một anh thợ giày đi qua, dừng lại xem tranh. Anh ta thấy chiếc dép
của kị sĩ vẽ không đúng, liền tỏ ý chê. Tối hôm đó, họa sĩ đã sửa
ngay rồi lại bày tranh ra.
Ngày hôm sau, anh thợ giày lại đi qua, thấy học sĩ đã sửa, lấy
làm tự hào. Anh tưởng minh cũng có tài phê bình. Anh liền chê lung
tung, từ kị sĩ đến con ngựa.
Họa sĩ nghe anh ba hoa, bực mình quá, phải đứng ra nói :
– Này anh thợ giày, xin đừng nói thêm nữa vì anh chẳng hiểu gì
cả !
6. KHÔNG AI DÁM NHẬN LÀ BẬC
HIỀN NHÂN
Một hôm, mấy anh thanh niên ở thành Milô trên bờ biển Êgiê
đương đi chơi thì thấy một ông lão đương kéo vó. Họ bèn nghĩ ra
một trò chơi là trả tiền trước cho một ông lão và hẹn là vó kéo lên lần
đầu được bao nhiêu họ lấy hết. Ông lão bằng lòng và thả vó xuống
nước. Một lúc sau, kéo vó lên thì không phải là cá mà là một cái đồ
trang sức có ba chân bằng vàng. Bọn thanh niên đòi lấy, ông lão
không nghe, cho rằng họ chỉ mua cá mà thôi. Hai bên cãi nhau. Dân
địa phương kéo đến và bảo họ phải đi hỏi bà đồng thờ thần Apolông
ở Đenphơ. Bà đồng bảo họ đem biếu cho người nào là bậc hiền triết
giỏi nhất.
Lúc bấy giờ ở Hi Lạp có bảy nhà thông thái nổi tiếng về đạo đức
cũng như về kiến thức. Trước hết, họ đem biếu nhà triết học kiêm
toán học Talét. Nhưng triết gia tự cho là không xứng đáng là bậc
hiền nhân, nên giới thiệu người thứ hai, người này giới thiệu người
thứ ba, lần lượt đến người thứ bảy. Cả bảy nhà triết học đều không
dám nhận là bậc hiền nhân giỏi nhất. Cuối cùng, mọi người khuyên
đem đến thờ ở đền Apolông và nói rằng chỉ có thần thánh mới xứng
đáng là bậc hiền cao cả nhất !.
7. QUYẾT CHÍ
Năm 416 trước Công nguyên, vua nước Ngô là Hạp Lư đem quân
sang đánh nước Việt, nhưng quân Ngô bị thua, Hạp Lư bị trúng tên.
Khi sắp chết, Hạp Lư dặn lại con là Phù Sai phải trả thù cho cha.
Phù Sai quyết chí làm theo lời cha, nên cho người đứng ở giữa sân,
để mỗi khi Phù Sai đi qua thì người ấy nói to:
- Hỡi Phù Sai, nước Việt giết cha anh mà anh quên ư ?
Phù Sai liền trả lời:
- Vâng, không dám quên đâu !
Ba năm sau, quả Phù Sai đánh được nước Việt.
Vua nước Việt là Câu Tiễn, nghe lời khuyên của Phạm Lãi, xin nhận
làm bề tôi của vua Ngô. Nhưng trong lòng vẫn quyết chí phục thù.
Hằng ngày Câu Tiễn chất củi gai làm giường nằm và treo ở trước mặt
một cái mật đắng, khi ăn nếm mật rồi mới ăn. Một mặt bản thân
cùng vợ con chịu khó lao động, mặt khác tôn trọng và biệt đãi những
người có tài, cứu giúp những người nghèo.
Trong hai mươi năm, Câu Tiễn không lúc nào quên chuyện rửa thù.
Khi đã thấy lòng dân theo mình, và tình thế nước Ngô bê bối, Câu
Tiễn đem quân tiến đánh nước Ngô. Quân Ngô thua, Câu Tiễn lập lại
cơ đồ.
Như thế là vì quyết chí Phù Sai trả thù được cho cha, nhưng cũng vì
quyết chí mà Câu Tiễn lấy lại được đất nước.
8. CÓ CHÍ TRỞ THÀNH HÙNG BIỆN
Trong nước Hi Lạp cổ đại, quần chúng thường tụ họp ở quảng
trường để nghe các nhà chính trị trình bày ý kiến của họ, rồi có
quyền biểu quyết tán thành hay không ý kiến của diễn giả.
Nhà chính trị Đêmôxten muốn hô hào quần chúng đấu tranh cho
nền dân chủ, nhưng ông lại có những khuyết tật như nói ngọng, nói
lắp, nói nhỏ. Ông quyết tâm rèn luyện giọng nói của mình để thuyết
phục được quần chúng.
Muốn thế, ông đã tự nhốt mình vào trong một hầm kín, tự gọt
rửa đầu để khỏi ra ngoài, rồi cố đọc thật to những bài thơ đã thuộc,
luyện giọng, rèn lối phát âm, ra sức tránh nói lắp và tập những cử chỉ
thích hợp với lời nói.
Sau ba tháng đã có tiến bộ, ông ngậm trong miệng những viên
sỏi, rồi vừa chạy trên sườn đồi hoặc bãi biển, ông vừa hét to những
lời dõng dạc, để át tiếng gió gào và tiếng sóng gầm.
Nhờ có ý chí kiên cường, ông đã trở thành nhà chính trị hùng
biện nhất của Hi Lạp ở thế kỉ thứ IV trước Công nguyên.
9. MUA ĐƯỢC NGHĨA
Mạnh Thường Quân là tướng của nước Tề thời Chiến quốc. Mạnh
Thường Quân nhà rất giàu, lại có tiếng là người nghĩa hiệp.
Nhà ông luôn luôn có nhiều khách, gồm những người nghĩa sĩ.
Phùng Huyên người nước Tề, làm thực khách ở cửa Mạnh
Thường Quân.
Một hôm, Mạnh Thường Quân đưa sổ bộ ra hỏi các thực khách
xem có người nào biết về việc kế toán, nhờ qua đất Tiết (thuộc Sơn
Đông ngày nay), là phong ấp của Thường Quân, để thu các mối nợ,
thì xin ký tên vào sổ. Phùng Huyên nhận sổ ký tên, rồi thưa : “Huyên
nguyện đi.”
Trước khi đi, họ Phùng hỏi: “Thu nợ xong rồi có cần mua vật gì?”
Mạnh bảo: “Xem trong nhà còn thiếu vật gì thì cứ mua về.”
Phùng Huyên đến đất Tiết, cho người thuộc lại mời tất cả những
người thiếu nợ đến đông đủ, rồi truyền rằng Mạnh Tướng quốc ra
lịnh xóa bỏ tất cả số nợ. Và, để cho mọi người tin tưởng, Phùng đem
đốt hết những văn khế nợ. Dân đất Tiết vui mừng, tung hô vạn tuế.
Khi họ Phùng trở về, Thường Quân lấy làm lạ cho là đòi nợ cách gì
mà mau chóng thế, mới hỏi:
- Thu nợ xong phải không?
- Thu xong cả.
- Có mua gì về không?
- Khi đi, Tướng công có bảo: nên mua những vật gì trong nhà còn
thiếu. Tôi trộm nghĩ trong bụng Tướng công chất chứa những đồ trân
bảo, ngoài chuồng nuôi đầy chó ngựa, nhà sau la liệt những mỹ
nhân, vậy vật mà Tướng công còn thiếu, chưa có là điều Nghĩa, nên
tôi trộm lịnh mua điều Nghĩa đem về.
Thường Quân nghe nói không bằng lòng, nhưng bỏ qua, chẳng nói
lại gì.
Về sau, vua Tề không dùng Mạnh làm Tướng quốc nữa, phải về đất
Tiết ở. Bấy giờ bá tính đất Tiết, nghe tin, nhớ đến ơn xưa, trai gái già
trẻ rủ nhau đến đón rước đầy đường, hoan hô nhiệt liệt. Khi ấy,
Mạnh quay lại Phùng Huyên mà bảo rằng:
- Tiên sinh vì tôi mua điều nghĩa, ngày nay tôi mới trông thấy!.
10. TÌNH VÀ NGHĨA
Tướng nước Tề đưa quân sang đánh nước Lỗ.
Khi đến biên giới, quân lính thấy một người phụ nữ một tay ẵm một
đứa bé, một tay dắt một đứa bé khác. Nhưng quân tiến nhanh quá,
người phụ nữ kia đặt đứa bé trên tay xuống và ẵm đứa bé đương dắt
để chạy nhanh vào rừng. Đứa bé bị bỏ lại vừa chạy theo vừa khóc
ầm ĩ.
Viên tướng nước Tề cho bắt người phụ nữ và hỏi :
- Đứa bé chị đương ẵm chạy là con ai, còn đứa bé chị bỏ lại là con ai
?
- Đứa bé tôi ẵm chạy là con anh cả tôi, còn cháu bé tôi đành bỏ lại là
con tôi. Khi quân lính kéo đến, tôi không thể nào đưa cả hai đứa đi,
đành phải để con tôi lại.
- Tình mẹ con là ruột thịt. Sao nàng nỡ bỏ con lại ?
- Con tôi là tình riêng, con anh tôi là nghĩa công, mặc dầu tôi vô cùng
đau xót.
Viên tướng nước Tề liền tâu với vua Tề :
- Ta mới đến biên cương mà đã thấy một mụ đàn bà nước Lỗ coi
trọng nghĩa công hơn tình riêng. Như thế thì nước này không phải dễ
mà xâm chiếm. Xin bệ hạ cho quân ta kéo về.
Vua Tề cho là phải và cùng toàn quân trở lại.
Vua nước Lỗ biết chuyện ấy, thưởng cho người phụ nữ và phong cho
hai chữ “Nghĩa cô”.
11. VÌ NGHĨA QUÊN THÙ
Đời Đường, có hai ông quan đều có tài là Quách Tử Nghi và Lí
Quang Bật. Hai người cùng làm phó tướng cho An Tử Thuận. Nhưng
tính khí hai người khác hẳn nhau. Họ lại còn ghét nhau nữa, đến mức
gặp nhau không thèm chào, cùng ngồi một xe hoặc cùng dự tiệc một
bàn mà không nói với nhau một câu nào. Thiên hạ cho rằng họ là tử
thù của nhau.
Đến khi Quách Tử Nghi được cử làm tướng thay cho An Tử Thuận, Lí
Quang Bật phải ở dưới quyền.
Thời đó một vị tướng quốc có quyền sinh, quyền sát đối với người
khác. Quang Bật rất lo cho gia quyến mình, liền quyết tâm đến nói
với Tử Nghi.
– Tôi với ngài vốn có cựu hiềm. Phần tôi dù chết cũng cam tội.
Nhưng xin ngài rộng lượng đừng sát hại vợ con tôi.
Quách Tử Nghi nghe nói thế, chạy đến nắm tay Lí Quang Bật và nói
rằng :
– Xin ông đừng nghĩ quẩn, tôi không oán thù gì ông. Hiện nay nước
nhà đương loạn lạc. Tôi mong ông vui lòng cộng tác với tôi để yên
lòng dân, vì nghĩa lớn…
Sau đó, Tử Nghi cử Quang Bật làm Tiết độ sứ, một chức vụ quan
trọng.
Quang Bật xúc động và hối hận, hết lòng giúp Tử Nghi đáng giặc và
trị nước.
12. TRỌNG NGHĨA HƠN TIỀN TÀI
Đời Tống có một ông tể tướng tên là Phạm Trọng Yêm nổi tiếng
là người trọng nghĩa hơn tiền tài.
Ông quyền cao chức trọng mà cuộc sống vẫn thanh đạm, suốt
đời chỉ chăm lo đến việc cứu giúp những người nghèo trong thiên hạ.
Chính ông đã thực hiện khẩu hiệu “Lo trước cái lo của thiên hạ, vui
sau cái vui của thiên hạ”.
Có một lần ông sai con là Thuần Nhân chở một thuyền có năm
trăm thúng thóc về quê giúp dân.
Trên đường về, Thuần Nhân vào thăm một người bạn cũ của cha
là Thạch Mãn Khanh đương trong cảnh cùng quẫn vì vừa gặp ba cái
tang một lúc, lại có hai người con gái lớn tuổi mà không có chồng,
chẳng biết nương tựa vào đâu. Thuần Nhân liền giúp cho cả năm
trăm thúng thóc.
Khi trở về kể chuyện cho cha. Phạm Trọng Yêm nói:
– Sao con không cho nốt cả cái thuyền?
Thuần Nhân đáp:
– Thưa cha, con cũng đã tặng cả chiếc thuyền rồi.
Phạm Trọng Yêm khen:
– Có như thế con mới xứng là con ta.
13. CƠM PHIẾU MẪU
Hàn Tín lúc hàn vi vì nghèo phải ăn bám vào một số người, nên
không ai ưa.
Tín thường đến ăn nhờ ở nhà một người đình trưởng. Nhưng cứ ăn
không, người ta cũng ghét.
Một hôm Tín đến nhà đình trưởng, thấy vợ người này ngồi trên phản
ăn cơm, chị ta không cho Tín ăn. Tín buồn rầu ra đi.
Hằng ngày Tín ra cái hang ở dưới thành câu cá, nhưng chẳng được là
bao, nên bị đói.
May có một bà giặt vải trông thấy, thương tình, bà nhường cho một
phần cơm của bà trong nhiều ngày.
Đến khi bà giặt hết vải, Tín cảm ơn bà và nói :
– Sau này, cháu sẽ đền ơn bà xứng đáng.
Bà ta trả lời :
– Tôi thấy cậu đói, nên mới cho ăn, chứ mong gì cậu báo đáp đâu.
Ít lâu sau, Hàn Tín theo Hạng Lương, rồi Hạng Vũ, nhưng không
được trọng dụng. Tín bèn sang đất Hán.
May gặp được thừa tướng Tiêu Hà. Thừa tướng giới thiệu với vua
Hán.
Hàn Tín được Hán Vương tin yêu và phong cho làm đại tướng.
Lúc vinh hiển, Hàn Tín nhớ đến ơn bà giặt vải (phiếu mẫu : bà mẹ
giặt vải), quay về, biếu bà nghìn lạng vàng.
Do đó có câu : “Bát cơm phiếu mẫu, trả ơn nghìn vàng”.
14. NGƯỜI CHÍNH TRỰC
Arixtít là một tướng có tài của thành quốc Aten. Sau khi chiến
thắng vẻ vang quân xâm lược Ba Tư ở Maratông, ông có những ý
kiến bất đồng với Têmixtôclơ nên bị đi đày.
Nhưng khi quân Ba Tư lại đem đại đội binh mã đến xâm lược Hi Lạp
lần nữa, ông cấp tốc trở về, nói với Têmixtôclơ rằng :
– Ông vẫn có thể không đồng ý với tôi, nhưng trước mắt phải cứu Tổ
quốc đã.
Têmixtôclơ giàn hoà với Arixtít và cùng nhau bàn việc đánh giặc.
Trong trận đánh ở Platê, có sự tranh giành những phần đất chiếm
được giữa người Aten và người Xpáctơ. Ông nói :
– Chúng ta đến đây để bảo vệ Tổ quốc Hi Lạp, chứ không phải để
tranh giành nhau.
Ông yêu cầu quân đội Aten nhường nhịn quân đội Xpáctơ. Hai bên lại
cùng nhau chiến đấu chống quân xâm lươc Ba Tư và đã lập được
chiến công hiển hách ở Platê và ở Xalamin.
Song sau đó, hai bên lại có xích mích. Arixtít lại ra sức giàn hoà để
Aten và Xpáctơ phối hợp với nhau bảo vệ Tổ quốc chung là Hi Lạp.
Ông đi đến đâu, người ta cũng đều nghe theo lẽ phải. Cả hai bên đều
giao cho ông soạn những điều kiện của một hiệp định đồng minh.
Ông đã nêu lên nhiệm vụ chung là bảo vệ đất nước Hi Lạp nhưng
mỗi thành quốc vẫn giữ quyền độc lập về mặt nội trị. Mọi người đều
đồng ý.
Ông đã đi đến các miền của cả hai thành quốc, hô hào nhân dân
đóng góp để xây dựng một quỹ chung của toàn Hi Lạp.
Mọi người đều hưởng ứng và cả hai thành quốc đều giao cho ông
quản lí quỹ chung ấy.
Ông tỏ ra hết sức trung thực đến mức cả người Aten và người Xpáctơ
đều đặt cho ông cái tên là “Người chính trực”.
Đức độ của ông còn sáng ngời trong lịch sử Hi Lạp.
15. CÂU TRẢ LỜI CƯƠNG TRỰC
Đơnít cha là tên bạo chúa ở đảo Xixin.
Có lần, Đơnít ngỏ ý muốn kết hôn với con gái của Arixtít người bạn
của triết gia Platông.
Arixtít nói :
– Thà chết chứ không thể gả con gái cho một tên bạo chúa.
Để trả thù, Đơnít cha ra lệnh giết hết những con cái khác của Arixtít
và hỏi ông có còn giữ ý kiến là không gả con gái cho mình không ?
Arixtít trả lời :
– Ta thất vọng về việc mi đã làm, nhưng ta không hối hận về lời ta
đã nói.
16. NGƯỜI CƯƠNG TRỰC KHÔNG SỢ
CHẾT
Trong thời Xuân Thu, ở nước Tề, quyền bính ở trong tay một tên
quyền thần là Thôi Trữ. Thôi Trữ muốn hạ sát vua Trang Công để lên
ngôi báu. Thôi Trữ liền họp các quan trong triều lại để ăn thề. Mọi
người đều sợ hãi vâng theo. Riêng có Án Anh, một sĩ phu cương trực,
nhất quyết không tán thành.
Thôi Trữ lấy lời dụ dỗ và đe dọa Án Anh : "Ngươi theo ta, ta sẽ chia
cho nửa đất nước, bằng không ta sẽ giết ngươi".
Trước mặt bọn quân lính lăm lăm gươm giáo, Án Anh vẫn bình tĩnh
nói :
- Lấy lợi mà dụ người ta làm điều phản bội là bất nhân. Lấy giáo mác
mà dọa cho người ta mất chí khí là bất dũng. Giết thì giết, chứ ta
không chịu khuất kẻ bất nhân, bất dũng.
Nghe lời nói khảng khái và cương trực như thế, Thôi Trữ không dám
sát hại Án Anh. Án Anh ung dung đứng dậy và lững thững bước ra.
17. HÃY ĐƯA TÔI TRỞ VỀ HANG ĐÁ
Ở thế kỉ thứ V trước Công nguyên, trên đảo Xixin có một tiểu
quốc tên là Xiraquydơ – một xứ đẹp và trù phú, nhưng nhân dân đau
khổ dưới ánh thống trị của hai cha con tên bạo chúa Đơnít.
Độc ác nhất là tên Đơnít cha. Đơnít cướp ngôi từ năm 25 tuổi và trị vì
trong 38 năm. Đó là một thời kì gieo nhiều tai vạ cho nhân dân xứ
ấy: bóc lột mọi người đến xương tủy và vơ vét mọi của cải cho đầy
túi tham, tàn sát ...
 





